| THAM
KHẢO
(Những bài chọn đăng trong trang này của từ
nhiều phía, không nhất thiết là quan điểm của nhóm
Hải Ngoại Phiếm Đàm. . .)
Ngoài
những bài dưới đây, những chuyên đề ở 2
cột phải, trái luôn được chúng tôi cập nhật (HNPD)
Nhân
vật
Tại sao?

Trường hợp Hải Dương thời Cải cách
Ruộng đất
Tiếp
tục sêri về chủ đề nông thôn Việt Nam, chuyên
mục Phỏng vấn tuần này nói về quan hệ giữa
cán bộ địa phương với người dân sau 1945.
Để nói về nông thôn Việt Nam trong một tạp
chí chắc chắn là không đủ. Chương trình tuần
này khoanh lại trường hợp một tỉnh Hải Dương,
từ thời cải cách ruộng đất thập niên 1950
đến những năm gần đây.
Khách mời của chương trình là tiến sĩ Phạm
Quang Minh, hiện giảng dạy ở khoa Quốc tế
học, ĐH Khoa học Xã hội - Nhân văn, thuộc ĐH
Quốc gia Hà Nội.
GS. Phạm Quang Minh nhận bằng tiến sĩ năm
2002 ở ĐH Humboldt, Đức, với luận án về quan
hệ chính trị - xã hội ở nông thôn miền Bắc
từ sau 1945.
Bên cạnh nhiều bài viết, ông có một quyển
sách được NXB ĐH Humboldt ấn hành năm 2003,
viết bằng tiếng Đức nhan đề “Zwischen Theorie
und Praxis. Agrarpolitik in Vietnam seit 1945”.
Đây nguyên là luận án tiến sĩ, về chính sách
ruộng đất ở miền Bắc từ thập niên 1950 đến
thập niên 1990.
Trong một bài viết gần đây in trong quyển
"Beyond Hanoi: Local Government in Vietnam"
(nhiều tác giả, NIAS Press, 2004), tiến sĩ
Phạm Quang Minh cho biết kể từ sau khi Cách
mạng tháng Tám thành công, Đảng Cộng sản
Việt Nam đã nỗ lực thiết lập một hệ thống
hành chính từ trung ương đến tỉnh, huyện và
xã để duy trì sự quản lý trên toàn quốc.
Một kết cấu đa tầng như thế đặc biệt quan
trọng cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội
và củng cố sự ủng hộ của dân số nông thôn
trong hai cuộc chiến tranh sau đó.
Trong trường hợp tỉnh Hải Dương, lịch sử
của tỉnh này sau 1945 có thể phân thành ba
giai đoạn: cải cách ruộng đất thập niên 1950,
tập thể hóa cuối 1950 - 1980 và thời mở cửa
từ 1980 đến nay.
Cán bộ cơ sở trong thời kỳ cải cách
ruộng đất
Chiến dịch cải cách ruộng đất thập niên
1950 là nỗ lực đầu tiên từ trung ương nhằm
thiết lập chính quyền cơ sở ở Hải Dương.
Bước đầu trước cải cách ruộng đất là tạo
nên một chính quyền cơ sở phù hợp mục tiêu
của đảng. Vì thế, có chiến dịch ‘chỉnh huấn
cán bộ’ năm 1952.
Cải cách ruộng đất chính thức bắt đầu ngày
25-12-1953 và kết thúc ngày 30-7-1956, được
chia làm sáu đợt.
Giai đoạn này xem nặng vấn đề giai cấp. Việc
xếp loại thành phần không dựa chủ yếu vào
yếu tố kinh tế, mà dựa vào yếu tố chính
trị.
GS. Phạm Quang Minh nói sai sót trong quá trình
thực hiện là bởi điều kiện chiến tranh, sự
phức tạp của vấn đề và sự cứng nhắc trong
cách nghĩ:
“Người ta căn cứ vào bản phân định thành
phần giai cấp. Xảy ra sự không tin tưởng vào
bộ máy cũ. Có sự gạt bỏ những người cũ
bằng lực lượng cán bộ mới.”
Trong thời kì chống Pháp, Hải Dương là vùng
bị Pháp tạm chiếm. Nhưng đây cũng là khu vực
ở trong thế ‘cài răng lược’, tức là đã có
các cơ sở chi bộ đảng hoạt động bí mật.
Khi kháng chiến kết thúc, việc tái cơ cấu
chính quyền địa phương cũng bao hàm các biện
pháp thanh lọc lực lượng cán bộ cũ này.
Nhiều người bị nghi ngờ vì gốc gác giai cấp
hoặc hoạt động chính trị trước đây. Điều
này có nghĩa là phải tuyển mộ lực lượng
mới thay thế.
Theo ủy ban cải cách ruộng đất, nhiều cán
bộ cũ không đủ ‘trong sạch’ để thực thi các
chương trình cải cách. Những cán bộ là chủ
đất, thành phần trung lưu, ‘phần tử xấu’,
hay có ‘lý lịch phức tạp’ nằm trong số đối
tượng bị thay thế bởi những người đã tham
gia chống giai cấp địa chủ, có quan hệ thân
cận hoặc niềm tin của dân chúng.
Các đội cải cách ruộng đất được trung ương
đưa về các tỉnh, trong đó có Hải Dương, và
quyết định ai được xem là ‘cốt cán’, tức
những người có lý lịch trong sạch, tham gia
tích cực vào công cuộc cải cách ruộng đất,
có thái độ chống giai cấp địa chủ.
Nhưng thường những người cốt cán mới này
lại không am hiểu rõ nơi mình sống, thường
là các nông dân trẻ, nghèo và không có vai
vế hay uy tín với dân làng.
Trong nhiều trường hợp, các đội cải cách
ruộng đất tổ chức các tòa án nhân dân đặc
biệt để buộc người dân làng lên án những
người khác. Đây được xem là bằng chứng để
chứng tỏ ý thức giai cấp và quyết tâm chống
địa chủ. Những người tham gia đấu tố được
bảo đảm thăng chức trong chính quyền cơ sở
và được cấp ruộng.
Nhiề̀u ngàn người đã trở thành nạn nhân
của chiến dịch cải cách ruộng đất. Số người
bị hành hình tại Hải Dương có thể cao hơn
các nơi khác. Một nguyên nhân là vì tỉnh này
từng bị Pháp tạm chiếm và cuộc chiến giữa
Việt Minh và Pháp còn tiếp tục mãi tới năm
1955. Nguyên nhân thứ hai là Hải Dương là một
trong các tỉnh thực thi đợt cuối cùng của
chiến dịch cải cách ruộng đất (từ 25-12-1955
đến 30-7-1956), là lúc vấn đề chủ nghĩa thành
phần nặng nề nhất.
Về con số người chết trong chiến dịch cải
cách ruộng đất, các nhà nghiên cứu đến nay
vẫn không có được sự đồng thuận. Các con
số khác biệt từ 10.000 đến 500.000 người.
Một ý kiến cực đoan là của Hoàng Văn Chí,
người tin rằng 5% dân số miền Bắc (675.000
người) đã chết. Cuốn sách From Colonialism
to Communism của ông này đã có tác động mạnh
đến cuộc tranh luận về vấn đề con số. Còn
một cuốn sách khác của Edwin Moise, Land Reform
in China and North Vietnam (1983), ước đoán con
số người chết khoảng 5000.
Mâu thuẫn
Việc thay cán bộ cũ bằng người mới đã gây
nên hỗn độn và bất ổn chính trị ở Hải Dương.
Thời kì khó khăn nhất là tháng Chín – Mười
1956 sau khi các đội cải cách ruộng đất đã
rút đi.
Hàng trăm vụ đụng độ xảy ra tại Hải Dương.
Các nạn nhân chính là nhóm cán bộ mới mà
đã cung cấp thông tin gây hại cho cán bộ cũ
và dân làng trong giai đoạn phân chia ruộng
đất.
Việc thay cán bộ cũ bằng người mới đã
gây nên hỗn độn và bất ổn chính trị ở Hải
Dương. Thời kì khó khăn nhất là tháng Chín
– Mười 1956 sau khi các đội cải cách ruộng
đất đã rút đi.
Ví dụ tại một huyện, nhóm cán bộ cũ đã
buộc nhóm cán bộ mới phải quỳ xuống trước
dân làng và ‘tự kiểm điểm’. Họ bị buộc phải
nộp lại tài liệu về những người bị trừng
phạt trong lúc cải cách ruộng đất và trả
lại tài sản tịch thu cho người chủ trước
đây.
Tại một huyện khác, báo cáo của huyện khi
đó cho biết có ba ngươi đã đe dọa viên chức
bằng dao và ăn cắp bốn quyển sổ để tìm ra
ai đã tố giác họ trong thời kì cải cách
ruộng đất. Ở một xã khác, thậm chí xảy
ra bắn nhau giữa hai nhóm cán bộ cũ và mới.
Trong đa số trường hợp, dân làng ủng hộ lớp
cán bộ cũ. Họ giúp đỡ bằng cách tổ chức
các cuộc biểu tình đến tận huyện.
Đến cuối năm 1956, mâu thuẫn giữa lớp cán
bộ mới và dân địa phương đã gần như làm tê
liệt chính quyền cơ sở ở Hải Dương. Huyện
nhận được báo cáo về khủng hoảng trong làng,
nhưng không tìm ra giải pháp. Họ gửi báo cáo
lên tỉnh và chờ hướng dẫn. Nhưng cấp trên
cũng đối diện một nan giải: nếu họ dùng
biện pháp mạnh, xung đột trong làng có thể
xấu đi. Nếu họ không hành động, ‘các phần
tử xấu’ có thể tấn công chính quyền.
Cuối cùng với nhiều nỗ lực, chính phủ trung
ương tái lập lại được trật tự ở nông thôn.
Hội nghị của Ban chấp hành trung ương diễn
ra tháng Mười 1956 đã chỉ ra các sai lầm trong
thời kỳ cải cách ruộng đất.
Nhiều biện pháp được thực hiện như kêu gọi
nhân dân bình tĩnh, phát huy ‘tình làng nghĩa
xóm’, đặc biệt sử dụng đến các gia đình
có uy tính đứng ra dàn xếp các tranh chấp.
Năm 1958, quá trình sửa sai được hoàn thành.
Tập thể hóa
Từ cuối thập niên 1950 đến đầu 1960, chính
phủ trung ương quyết định tiến hành chính
sách tập thể hóa ruộng đất.
Tiến trình này lại tạo nên một thay đổi
mới trong chính quyền cơ sở. Các hợp tác
xã trở thành các đơn vị quản lý quan trọng.
Có một chính sách đặc biệt để các đảng
viên cơ sở quản lý hợp tác xã. Một nghiên
cứu năm 1972 về 95 hợp tác xã ở Hải Dương
minh họa điều này. Mỗi hợp tác xã đều có
một chi bộ đảng. Các lãnh đạo hợp tác xã
chủ yếu là đảng viên. Các chức vụ quan trọng
nhất trong hợp tác xã bao gồm ban quản trị,
ban kiểm soát và đội sản xuất. Theo nghiên
cứu năm 1972 này, 66% trong ban quản trị là
đảng viên, ̣93% chức chủ nhiệm và phó chủ
nhiệm trong các ban này cũng là đảng viên.
Theo các báo cáo chính thức, các lãnh đạo
hợp tác xã không đủ kỹ năng để quản lý.
Tuy vậy, họ được đánh giá không chỉ dựa theo
trình độ chuyên môn mà còn trình độ chính
trị (‘vừa hồng vừa chuyên’).
GS. Phạm Quang Minh cho rằng các hợp tác xã
thời kì này về cơ bản đã hoàn thành nhiệm
vụ.
“Cách quản lý hợp tác xã vào thời điểm
đó mang tính lịch sử và phù hợp, trong thời
điểm cuộc kháng chiến cần động viên sức người
sức của.”
Tuy vậy, ông nói mặt yếu kém của hợp tác
xã nằm ở đội ngũ những người quản lý hợp
tác xã.
“Do trình độ của họ rất thấp, nên dẫn đến
các hậu quả kém về chất lượng và năng suất.
Có hiện tượng tham ô, nhưng đặc biệt chính
là có sự lãng phí lớn.”
Các đảng viên thường trung thành với lý tưởng
và chính sách của tổ chức. Nhưng nhiều người
thường lợi dụng chức vụ để thu vén cho mình.
Cũng bản nghiên cứu năm 1972 cho biết nhiều
đảng viên cơ sở đã biển thủ tài sản hợp
tác xã. Những người đứng đầu các đội sản
xuất, tính trung bình, biển thủ 119 đồng.
Thủ quỹ và quản lý nhà kho biển thủ gấp
bốn lần số tiền này. Nhưng những người biển
thủ lớn nhất là chủ nhiệm hợp tác, trung
bình lấy mất của nhà nước 600 đồng.
Nhiều viên chức lại lạm dụng chức quyền
theo các cách khác. Ví dụ, bí thư của một
hợp tác xã đã yêu cầu người từ bảy xã đến
giúp xây nhà. Mỗi người chỉ được cho bữa
ăn trưa.
Những việc như thế khiến nhiều người dân
mất lòng tin vào chính sách tập thể hóa.
Theo một báo cáo chính thức, từ 1958 đến
1970, đã có 274 vụ phản đối tập thể hóa
xảy ra ở 47 hợp tác xã tại Hải Dương, theo
các hình thức như bỏ hợp tác xã, biển thủ
tài sản tập thể.
Nói về di sản của thời kì hợp tác hóa,
GS. Phạm Quang Minh cho rằng vấn đề còn để
lại đến hôm nay liên quan nhiều đến mâu thuẫn
ruộng đất. BBC

|