| THAM
KHẢO
(Những bài chọn đăng trong trang này của từ
nhiều phía, không nhất thiết là quan điểm của nhóm
Hải Ngoại Phiếm Đàm. . .)
Ngoài
những bài dưới đây, những chuyên đề ở 2
cột phải, trái luôn được chúng tôi cập nhật (HNPD)
Nhân
vật
Tại sao?

Cuộc
Cải Cách Ruộng Đất: Các Giai Đoạn Cải Cách
Trần Gia Phụng

- Xã hội Việt Nam, cho đến nay, vẫn là một xã hội
dựa trên căn bản nông nhiệp. Bất cứ nhà cầm quyền
nào tại nước ta đều phải giải quyết những vấn đề
do nền nông nghiệp lạc hậu của chúng ta đặt ra,
hầu tìm kiếm những giải pháp thích hợp để thăng
tiến đời sống của nông dân, một thành phần chiếm
khoảng 70% dân số hoạt động. Cộng sản Việt Nam lại
càng chú trọng đến vấn đề nầy hơn nữa, vì lý thuyết
Mác xít dùng yếu tố kinh tế để giải thích những
vận động của lịch sử. Căn bản của yếu tố nầy là
quan hệ sản xuất giữa chủ và thợ, mà ứng dụng vào
xã hội nông nghiệp là quan hệ giữa chủ đất (điền
chủ hay địa chủ) và dân cày (nông dân hay tá điền).
Hơn nữa, do ảnh hưởng chủ thuyết của Mao Trạch Đông,
lấy nông thôn bao vây thành thị, nên khi nắm quyền
tới đâu, cộng sản Việt Nam tổ chức cải cách ruộng
đất (CCRĐ) tới đó, để tập họp sức mạnh nông dân
và cô lập giới phú hào.
Ngay từ năm 1949, Việt Minh (VM) cộng sản đã phát
động CCRĐ, nhưng việc nầy chỉ tiến hành mạnh mẽ
từ năm 1950 trở đi. Vào năm nầy, Hồ Chí Minh qua
Liên Xô xin viện trợ. Stalin thúc bách Hồ Chí Minh
thực hiện ngay hai việc: thứ nhất tái công khai
đảng cộng sản và thứ hai đẩy mạnh CCRĐ theo đường
lối cộng sản.

Sau cuộc gặp nầy trở về, Hồ Chí Minh triệu tập
Đại hội lần 2 đảng Cộng Sản Đông Dương tại chiến
khu rừng núi Tuyên Quang, tái công khai đảng cộng
sản dưới danh xưng mới là đảng Lao Động (LĐ) ngày
19-2-1951, do Hồ Chí Minh làm chủ tịch, Trường Chinh
làm tổng bí thư. Về việc CCRĐ, Hồ Chí Minh và VM
cộng sản thực hiện dần dần qua năm đợt liên tiếp,
và chỉ chấm dứt năm 1956 để chuẩn bị chiến tranh
tấn công Việt Nam Cộng Hòa.
Cuộc CCRĐ của VM cộng sản chia làm năm giai đoạn,
bắt dầu từ năm 1949 đến 1956. Trong những giai đoạn
đầu trước năm 1954, cuộc CCRĐ chưa lên đến cao điểm
ở miền Nam và miền Trung nước ta, nên nông dân ở
miền Nam vĩ tuyến 17 ít có kinh nghiệm về việc nầy.
Chỉ có vài nơi VM gọi là vùng "tự do",
do họ kiểm soát ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định
diễn ra cảnh đấu tố (đấu tranh và tố cáo). Lúc đó,
VM bắt đầu cuộc thương thuyết ở Genève, rồi đất
nước bị chia hai, VM rút ra Bắc, nên cảnh đấu tố
ở các tỉnh miền nam vĩ tuyến 17 chưa dữ dội lắm.
Trong khi đó, tại Bắc Việt, khi mới bắt đầu, cuộc
CCRĐ khá ôn hòa, nhưng trở nên mạnh mẽ từ sau khi
Hồ Chí Minh nhận lệnh của Stalin năm 1950, và càng
ngày càng ác liệt, nhất là giai đoạn 5 từ 1955 đến
1956 là giai đoạn sắt máu giết hại nhiều người nhất.
GIAI ĐOẠN SƠ KHỞI: Vào giữa năm 1949, khi sửa soạn
chuyển qua giai đoạn phản công quân sự, VM đã vững
mạnh ở vùng nông thôn và nhất là rừng núi Việt bắc.
Lúc đầu, VM thực hiện cuộc CCRĐ một cách nhẹ nhàng,
chỉ kiếm cách tăng gia sản lượng nông nghiệp nhắm
cung ứng nhu cầu đội quân càng ngày càng gia tăng.
Để khuyến khích nông dân ra sức cầy bừa, chính phủ
VM đã ra sắc lệnh số 78/ SL ngày 14-7-1949 thành
lập "Hội đồng giảm tô", ấn định các chủ
đất (điền chủ, hay như VM gọi là địa chủ) phải giảm
thiểu đồng bộ tiền thuê đất (địa tô) cho tá điền
(nông dân) là 25%, có nơi có thể giảm tối đa 35%
trong trường hợp tá điền quá nghèo khổ.(1) Sau đó,
thông tư liên bộ số 33/ NVI ngày 21-8-1949 đưa ra
những nguyên tắc chủ yếu về việc phân chia tạm thời
cho nông dân ruộng đất tịch thu của các điền chủ
người Pháp và những điền chủ "Việt gian",
tức là những người bị VM kết tội thân Pháp, hoặc
không cộng tác với VM.(2)

GIAI ĐOẠN THỨ NHÌ: Trong năm 1950, một loạt sắc
lệnh nông nghiệp ra đời có tính cách mỵ dân, nhắm
đẩy mạnh sản xuất, phục vụ công cuộc kháng chiến
của VM, bắt đầu bằng sắc lệnh số 20/ SL ngày 12-2-1950
ra lệnh tổng động viên toàn bộ "nguồn nhân
lực [người], vật lực [gia súc, nông cụ] và tài lực
[tiền bạc] cho tổ quốc".
Sau đó, ngày 22-5-1950, xuất hiện cùng một lúc
hai sắc lệnh. Sắc lệnh số 89/FL quyết định xóa bỏ
tất cả những hợp đồng vay nợ giữa tá điền với điền
chủ ký kết trước năm 1945, và xóa bỏ cả những hợp
đồng ký kết sau năm 1945 nếu con nợ đã trả đủ 100%
số tiền đã vay, hoặc con nợ đã từ trần vì sự nghiệp
của VM thì gia đình khỏi trả nợ.
Sắc lệnh thứ nhì do chính phủ VM ban hành cùng
ngày 22-5-1950 mang số 90/ FL, quốc hữu hóa tất
cả những đất đai đã bỏ hoang trong 5 năm liên tục
kể từ ngày ra sắc lệnh (điều 2). Đất đai nầy sẽ
được chia cho nông dân nghèo, tạm thời trong thời
gian 10 năm, và 3 năm đầu cho miễn thuế (điều 3
và 4). Những thửa ruộng bị bỏ hoang chưa tới 5 năm,
điền chủ bắt buộc phải cho những tập đoàn nông dân
cày cấy lại, hoặc cho người khác thuê cày. Nếu các
điền chủ bất tuân, uỷ ban kháng chiến hành chánh
địa phương sẽ can thiệp và ra điều kiện hợp đồng
thuê mướn (điều 5) . Ngoài ra, sắc lệnh nầy không
áp dụng cho những đất đai trồng cây kỹ nghệ thu
hoạch theo mùa hằng năm, hoặc những điền chủ đang
phục vụ VM nên không thể trồng trọt, và cấm việc
xẻ nhỏ những đồn điền kỹ nghệ (điều 8).
GIAI ĐOẠN THỨ BA: Giai đoạn thứ ba bắt đầu bằng
sắc lệnh ngày 20-4-1953, đăng trên Công báo VM ngày
20-5-1953. Sắc lệnh nầy không có gì mới lạ, chỉ
củng cố những "thành quả" của cuộc cải
cách trước. Lần nầy, giá thuê đất được hạ thêm 25%
để "làm thế nào cho tiền thuê đất không thể
vượt quá 1/3 lợi tức mùa gặt." Luật mới quy
định các chủ đất không được buộc tá điền phải đóng
thêm tiền cho các phí tổn khác, như tiền thuê dụng
cụ hay trâu bò cầy bừa (điều 6), cũng như cấm các
chủ đất hủy bỏ những hợp đồng cũ để ký kết những
hợp đồng tương tự khác (điều 14, 16). Sắc luật nầy
nhắc lại việc huỷ bỏ hoàn toàn tiền nông dân vay
nợ trước tháng 8-1945 (điều 17), và hoãn lại những
món nợ của các thành phần ưu đãi của VM (binh sĩ
VM, người nghèo...) trong trường hợp những chủ nợ
đang sống trong vùng do chính quyền Quốc Gia kiểm
soát (điều 18).
Đối với những chủ nợ sống tại vùng VM, các con
nợ vay sau 1945 cũng được giảm từ 18 đến 20% (điều
21). Sắc lệnh nầy quyết định tịch thu tất cả những
tài sản của "đế quốc" Pháp, "Việt
gian" và "địa chủ ác ôn" để phân
phối lại cho những người không có đất đai nhà cửa,
và ưu tiên cho những thành phần nòng cốt của VM
(điều 25 đến 30). Cuối cùng, sắc luật nầy thành
lập "Uỷ ban nông nghiệp" các cấp. Ở trung
ương, Uỷ ban nông nghiệp do thủ tướng đứng đầu,
gồm bộ trưởng Canh nông, bộ trưởng Nội vụ, đại diện
Mặt trận Liên Việt,(3) và hai đại diện của Uỷ ban
Liên lạc Nông dân. Ở mỗi cấp hành chánh, cho đến
cấp xã đều có những "Uỷ ban nông nghiệp"
gồm những nhân vật tương tự ở mỗi cấp (điều 35,
36).
GIAI ĐOẠN THỨ TƯ: Vào cuối tháng 11 đầu tháng 12-1953,
VM triệu tập Đại hội Đại biểu đảng LĐ, và đại hội
Trung ương đảng tại vùng chiến khu Việt Bắc. Đề
tài thảo luận chính của khóa họp đảng LĐ lần nầy
là câu khẩu hiệu "ruộng đất cho người cày"
. Sau gần một tháng hội họp, kết quả thảo luận của
Trung ương đảng LĐ được đưa cho quốc hội VM thông
qua để có hình thức dân chủ, trong kỳ họp ngay sau
đó. Quốc hội nầy thành lập từ năm 1946 gồm 444 người,
nay chỉ có 171 đại biểu dự họp. Đảng LĐ quyết định
thực hiện dần dần cuộc CCRĐ theo một kế hoạch được
soạn thảo kỹ lưỡng.
Sắc lệnh CCRĐ lần nầy hơi khác với đường lối cải
cách của Liên Xô. Tại Liên Xô, đảng Cộng Sản Liên
Xô xóa bỏ hẳn sự tư hữu đất đai, và nông dân chỉ
có "quyền lao động". Việt Minh theo đường
lối cải cách của Trung Cộng và Bắc Triều Tiên, trên
lý thuyết không xóa bỏ hẳn quyền sở hữu đất đai
của nông dân mà cho phép dân cày có quyền có đất.
Việc nầy thực sự chỉ có trên lý thuyết, chứ trong
thực tế, nhà nước cộng sản quản lý toàn bộ đất đai.
Mở đầu, sắc lệnh ngày 4-12-1953 nêu lên ý nghĩa
và mục đích của cuộc CCRĐ lần nầy là "bãi bỏ
toàn diện quyền sở hữu đất đai của "thực dân
Pháp" và của tất cả những "đế quốc"
khác, đồng thời thiết lập quy chế sở hữu đất đai
của nông dân" (điều 1). Toàn bộ đất đai của
"thực dân Pháp", "Việt gian",
"địa chủ phản động", và những "phú
hộ ác ôn" đều bị tịch thu (điều 1). Đất đai
của những thành phần dân chủ tiến bộ, kháng chiến
và hợp tác với VM sẽ được trưng dụng. Nhà nước sẽ
bồi thường hằng năm khoảng 1,5% tài sản (điều 4).
Đối với những điền chủ lẫn tránh chính sách bằng
cách sang, bán, chuyển nhượng đất đai sau cuộc CCRĐ
lần thứ ba (20-4-1953), nhà nước xem đó là những
hành động bất chính, sẽ trưng dụng đất đai và bồi
thường bằng tín phiếu ngân hàng (điều 5). Những
trung nông đã mua những đất nầy sẽ phải bán lại
cho những nông dân nghèo vô sản với giá phải chăng
(điều 5).
Đặc biệt sắc lệnh nầy chấp nhận các cơ sở tôn giáo
như chùa, nhà thờ, và các tổ đình làng xã sử dụng
một ít đất đai và phải tự cày cấy để tự mưu sinh
(điều 10). Trên nguyên tắc, sắc luật bãi bỏ quyền
sở hữu đất đai của ngoại kiều (điều 19). Tuy nhiên
cũng có một số miễn trừ cho đất đai của những người
ngoại quốc, đặc biệt cho người Trung Hoa vì họ được
CHNDTH bảo trợ. Ngoại kiều có quyền giữ đất nếu
không có nghề gì khác để sinh sống (điều 25). Nguyên
tắc phân phối đất đai có vẻ lý tưởng: giao đất theo
nhu cầu của nông dân, người không có gì được nhiều,
người đã có đất thì được ít hơn [?], và không giao
đất cho những ai đã có đủ đất (điều 26).
Điều nổi bật trong sắc lệnh nầy là người được phân
phối đất có quyền chuyển nhượng bằng cách thừa kế,
thế chấp, bán hay cho kẻ khác (điều 31). Đây rõ
ràng là ảnh hưởng từ luật điền địa CHNDTH, nhưng
hoàn toàn có tính cách lý thuyết mà thôi. Việc thực
hiện luật CCRĐ lần nầy được giao cho Nông hội, một
thành phần của Mặt trận Liên Việt, với sự chấp thuận
của Uỷ ban Kháng chiến hành chánh tỉnh (điều 34).
Cuối cùng, sắc lệnh nầy cấm đoán mọi sự phản kháng
cuộc CCRĐ (điều 35), và quy định việc thiết lập
tòa án nhân dân đặc biệt để xét xử những thành phần
chống lại cuộc CCRĐ của Việt Minh (điều 36).
GIAI ĐOẠN THỨ NĂM: Vào giữa năm 1954, nước Việt
Nam bị chia hai bằng Hiệp định Genève ký kết ngày
20-7-1954, theo đó Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tức
VM cộng sản cai trị ở phía bắc vĩ tuyến 17, Quốc
Gia Việt Nam ở phía Nam. Nói cách khác, cộng sản
không còn ở rải rác trong các chiến khu khắp Bắc,
Trung và Nam Việt Nam, mà tập trung tại vùng phía
bắc vĩ tuyến 17 đến biên giới CHNDTH. Hồ Chí Minh
và đảng LĐ muốn áp đặt một chính quyền độc tài theo
chủ thuyết Mác-Lê trên lãnh thổ miền Bắc. Muốn thế,
họ nhắm ngay đến thành phần rộng rãi chiếm đại đa
số xã hội Việt Nam, đó là nông dân ở thôn quê. Nắm
được nông thôn, kho lương thực của dân chúng, thì
cộng sản sẽ nắm được thành thị không mấy khó khăn.
Tình hình ruộng đất ở Bắc Việt thay đổi lớn lao
sau hiệp định Genève, vì khỏang 1,000,000 người
bỏ đất Bắc di cư vào Nam, để lại toàn bộ điền sản
tại quê nhà. Sau khi tái tổ chức chính quyền, tạm
ổn định tình hình, Hồ Chí Minh ký sắc luật về CCRĐ
ngày 14-6-1955. Sắc luật nầy dựa căn bản trên hai
sắc lệnh tháng 4 và tháng 12 năm 1953, theo đó nhà
nước tịch thu toàn bộ tài sản (đất đai, nhà cửa,
gia súc, nông cụ…) của những người "thực dân",
địa chủ gian ác, cường hào ác bá, "Việt gian"
phản động; trưng thu không bồi thường và thu mua
đất đai, nông cụ, gia súc thuộc các nhân vật "tiến
bộ", các địa chủ đã tham gia kháng chiến, các
địa chủ thuộc thành phần thương gia hay kỹ nghệ
gia; truất hữu đất đai của các tổ chức tôn giáo
như Thiên Chúa giáo, Phật giáo (chương 2).
Những người được thụ hưởng chính sách cải cách
ruộng đất theo thứ tự ưu tiên: nông dân không có
đất, hay thiếu đất để tự mưu sinh, các thành phần
nghèo khổ ở thôn quê làm thợ hoặc buôn bán nhỏ có
thể xin đất trồng trọt để cải thiện đời sống, gia
đình liệt sĩ, chiến sĩ cộng sản, thương phế binh
(chương 3).
Việc quy định thành phần xã hội của một người sẽ
do hội nghị đại biểu nông dân quyết định. Một toà
án nhân dân sẽ xét xử các địa chủ phản động, gian
ác, những người chống phá "cách mạng"
hay chống phá CCRĐ; hoặc xét xử những vụ tranh chấp
ruộng đất, những vấn đề liên quan đến cải cách ruộng
đất, như việc quy định thành phần xã hội, phân chia
tài sản…(chương 4).(4)
TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, Canada)
1. Tô hay địa tô là tiền thuê đất mà tá điền (nông
dân cày ruộng) trả cho chủ đất (điền chủ hay địa
chủ). Tô có thể trả bằng tiền hay bằng hiện vật
tức hoa màu mỗi mùa gặt được. Ngày xưa, chủ ruộng
chịu giống, trâu cày, tá điền làm công. Khi thu
hoạch, tá điền nộp tô là 50% hoa màu cho chủ ruộng,
nông dân (tá điền) hưởng 50% hoa màu. Theo cách
nầy, giảm tô thêm 25%, nghĩa là chủ ruộng chỉ còn
25% hoa màu thu hoạch, còn nông dân (tá điền) được
75%. Nếu giảm thêm 35%, nghĩa là chủ ruộng còn 15%,
nông dân hưởng 85%.
2. Những cuộc CCRĐ từ giai đoạn sơ khởi đến giai
đoạn thứ tư, theo tài liệu của Bernard Fall, Le
Viet-Minh, Max Leclerc et Compagnie, Paris, 1960,
[Bản dịch có bổ sung của The Viet-Minh Regime [Chế
độ Việt Minh] cũng do Bernard Fall viết, Viện Liên
Lạc Thái Bình Dương và Đại Học Cornell, New York,
1956, tt. 265-291.
3. Mặt trận Liên Việt (Liên hiệp Quốc dân Việt
Nam) do Việt Minh cộng sản thành lập ngày 27-5-1946,
do Huỳnh Thúc Kháng làm chủ tịch, Tôn Đức Thắng,
phó chủ tịch. Năm 1947, Huỳnh Thúc Kháng từ trần,
Tôn Đức Thắng lên thay.
4. Lâm Thanh Liêm, "Chính sách cải cách ruộng
đất của Hồ Chí Minh: sai lầm hay tội ác?",
đăng trong Hồ Chí Minh, sự thật về thân thế và sự
nghiệp, một nhóm tác giả, Nxb. Nam Á, Paris, 1990,
tt. 185-186.

|