| VƯỜN
HỒNG
Trường
họp Bùi Giáng
Khi
viết về thơ ở miền Nam trước 1975 cũng như thơ trong
nước sau 1975, tôi ít nhắc đến Bùi Giáng. Không
phải vì tôi đánh giá ông thấp. Ngược lại. Tôi đồng
ý với Mai Thảo: Bùi Giáng là một tài thơ trác tuyệt.
"Có Ông, thi ca mới đích thực có biển có trời"
(1). Càng đọc Bùi Giáng tôi càng thấy ông lạ lùng.
Con người ông lạ lùng: nói như Thanh Tâm Tuyền,
qua lời kể của Mai Thảo, Bùi Giáng là người "ngủ
ra thơ, thở ra thơ, đi ra thơ, đứng ra thơ. Chứ
không phải nghĩ thơ, làm thơ" (2). Thơ ông
càng lạ lùng, lạ lùng đến nổi ai cũng ngại ngùng
khi viết về ông. Kể chuyện về ông: có, nhưng phê
bình thơ ông: chưa. Có lần, Thanh-Tâm-Tuyền gọi
Bùi Giáng là một "thiên tài tự hủy ghê gớm
nhất của thi ca Việt Nam hiện đại" và là "một
hồn thơ bị vây khốn" (3). Bị vây khốn bởi cái
gì? Theo tôi, Bùi Giáng bị vây khốn, trước hết,
bởi những hoài nghi, những dằn vặt. Thì một số khá
đông các nhà thơ khác ở miền Nam thời kỳ 1954-1975
cũng hoài nghi, cũng dằn vặt. Song, có điều, không
ai sống đến tận cùng sự hoài nghi, sự dằn vặt như
là Bùi Giáng. Thơ Bùi Giáng là những phún thạch
phun lên từ hỏa diệm sơn của hồn ông. Nhưng khác
các nhà thơ khác, Bùi Giáng lại ngụy trang thảm
kịch của mình bằng một giọng cợt nhã, bông đùa.
Trong một bài viết về Hàn Mặc Tử, sau khi ghi nhận
thơ Hàn Mặc Tử là "một tiếng thét và một lời
than. Tiếng thét đầy máu, tiếng than tràn ngập hư
vô. Lúc hãi hùng khiếp đảm, lúc quạnh quẽ lạc phách
xiêu hồn", Bùi Giáng nhắc đến thơ của chính
ông như một sự so sánh:
"Thơ tôi làm...là một cách dìu ba đào về chân
trời khác. Ði vào giữa trung tâm bão giông một lúc
thì lập thời xô ngôn ngữ thoát ra, phá vòng vây
áp bức. Tôi gạ gẫm với châu chấu chuồn chuồn, đem
phó thác thảm họa trần gian cho chuồn chuồn mang
trên hai cánh mỏng bay đi. Bay về Tử Trúc Lâm, bay
về Sương Hy Lạp, ghé Calvaire viếng thăm một vong
hồn bát ngát, rồi quay trở về đồng ruộng làm mục
tử chăn trâu. Làm mục tử chăn trâu không xong bỏ
trâu bò chạy lạc, phá phách mùa màng khoai sắn,
thì tôi chạy về bẩm báo với ni cô cho phép con chuồn
chuồn của tôi cư lưu một phút giây trong linh hồn
bao dung phương trượng. Ni cô xua đuổi tôi thì tôi
ra bờ sông nằm ngủ khóc một mình thơ dại giữa chiêm
bao. Trong chiêm bao, thơ về lãng đãng thì từ đó
vần bất tuyệt cũng lãng đãng chiêm bao".(4)
Có dìu ba đào về chân trời nào khác thì ba đào
vẫn cứ là ba đào, động biển vẫn cứ là động biển.
Bay đi đâu cánh chuồn chuồn của Bùi Giáng cũng gặp
giông bão. Giông bão dậy lên, trước hết, từ đôi
cánh của nó: ngôn ngữ. Ðã đành làm thơ, ai cũng
chú trọng đến ngôn ngữ. Song tôi có cảm tưởng ít
có ai bị ám ảnh bởi vấn đề ngôn ngữ một cách nặng
nề, triền miên như Bùi Giáng. Chữ "ngôn ngữ"
thường xuyên xuất hiện trong thơ ông, đặc biệt trong
hai tập thơ mới xuất bản ở hải ngoại sau 1975 (5),
ở đó câu Ðường qua ngôn ngữ tuyệt trù, Ðường qua
ngôn ngữ điệp trùng và Ðường qua ngôn ngữ cuối cùng
được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong nhiều bài
thơ khác nhau. Hãy để ý đến nhóm từ "đường
qua ngôn ngữ": với Bùi Giáng dường như công
việc làm thơ chủ yếu là một cuộc hành trình vượt
qua ngọn đèo cheo leo của ngôn ngữ trước khi là
bất cứ một cái gì khác. Ngọn đèo ấy không những
cheo leo mà còn mù mịt, thăm thẳm. Phần lớn các
câu thơ kế tiếp mấy câu vừa dẫn đều là bóng đêm
(Mừng xuân viễn vọng đêm bù cho đêm; Mừng xuân viễn
vọng đêm lừng lẫy đêm; Mừng xuân viễn tuyệt đêm
từng từng đêm...) Xuân, ừ thì xuân. Nhưng đêm vẫn
mịt mùng đêm. Ðêm vô tận. Ngôn ngữ không làm cho
bóng đêm ấy tan biến. Trái lại.
Chấm ngòi bút sắt se vào mực
Viết ra câu thúc giục sương mù
(Mùa xuân chiêm bao)
Trong lúc hầu hết các nhà thơ khác, mặc dù nhận
chân được vị thế hẩm hiu của nhà thơ trong xã hội,
vẫn tin tưởng vào ngôn ngữ và vẫn tự hào về công
việc sáng tạo của mình, nói như Thanh Tâm Tuyền,
"cuộc hành trình hoàn toàn cô độc" trên
một "con đường chưa ai tới" (6), Bùi Giáng,
ngược lại, tuy vẫn làm thơ, hơn nữa, còn làm thơ
cực kỳ nhiều, nhiều hơn bất cứ một người nào khác,
lại có vẻ rất coi thường cái việc làm thơ ấy và
chắc chắn là không mấy tin tưởng vào khả năng thể
hiện của ngôn ngữ:
Người điên ngôn ngữ điệp trùng
Dở chừng như mộng dở chừng như mê
Thưa em ngôn ngữ quặt què
Làm sao nói hết nghiệp nghề người điên
(Người điên)
Trong quyển "Mùa thu trong thi ca", Bùi
Giáng viết:
Một hôm Mai Thảo bảo rằng
Làm thơ bê bối sao bằng đi rong
phố phường mọc cỏ quanh năm
(Sa mạc phát tiết)
Có người đọc câu thơ thấy đâm ra bực mình hỏi:
"Phố phường đâu có cỏ nào mọc! Thằng thi sĩ
ăn nói tầm phào, sai sự thật!" Ấy thế là người
ta cưỡng bức thi ca một cách không chính đáng. Và
trầm trọng hơn nữa, người ta tưởng chừng như tin
rằng ngôn ngữ có thể nói ra được sự thật. Tưởng
chừng như người ta chẳng bao giờ suy gẫm về Kim
Cương Kinh. "Thế gian ngôn ngữ phi chân kinh".(7)
Ngôn ngữ không những quặt què, không những không
nói ra được sự thật mà, hơn nữa, trong thời hiện
đại, đặc biệt khi cuộc chiến tranh lạnh giữa hai
khối Tư bản - Cộng sản đang gay gắt, khi cuộc chiến
tranh giữa hai miền Nam và Bắc Việt Nam đang ác
liệt, khi vấn đề thắng bại không những được quyết
định ngoài chiến trường mà còn trên các bàn hội
nghị quốc tế, ngôn ngữ còn có tác dụng ngược lại:
nó che giấu sự thật và, thay vì đem lại sự cảm thông
giữa loài người, nó lại làm cho con người ngộ nhận
lẫn nhau, thù ghét lẫn nhau, say sưa chém giết lẫn
nhau. Ðó là lý do tại sao Bùi Giáng lại:
Tôi gọi Mỹ Tho là Mỹ Thỏ
Mỹ Thọ muôn đời là lục tỉnh hôm nay
Tôi gọi Sóc Trăng là Sóc Trắng
Gọi người sương phụ gái thơ ngây
(Lẫn lộn lung tung)
Bùi Giáng xáo trộn chữ nghĩa để nói lên một sự
thật: ngôn ngữ đang bị xáo trộn, đang bị tha hóa.
Bùi Giáng gọi Mỹ Tho là Mỹ Thỏ, Mỹ Thọ, người ta
cho là hài hước hoặc điên khùng, nhưng chẳng phải
là trong cuộc sống, người ta đã không từng gọi một
kẻ bán nước là yêu nước, một kẻ giết người như ngoé
là nhân đạo, một kẻ bắn súng vào anh em vào đồng
bào vào đồng loại vì một thiên đường không tưởng
nào đó là cách mạng đó ư? Chẳng phải là người ta
đã không từng gọi nhà tù là trại học tập, độc tài
là tập trung dân chủ, sự ngu đần là đỉnh cao trí
tuệ, khố xanh khố đỏ là quốc gia, thái độ khom lưng
trước ngoại bang là biểu hiện của tinh thần dân
tộc đó ư? Thử thế chữ Mỹ Tho bằng bất cứ chữ nào
trong từ điển chính trị Việt Nam hiện đại, người
ta sẽ thấy ngay cái điều mà Ionesco từng nói: "một
nền văn minh của ngôn ngữ là một nền văn minh quẩn
trí, hỗn độn" (8). Ngôn ngữ mất linh hồn. Ngôn
ngữ xác xơ, rách mướp, tơi tả. Nhiều người thuộc
loại nhạy cảm nhất trong thời đại chúng ta đã thất
vọng não nề. Sự thất vọng ấy ở Tây phương, dẫn đến
sự im lặng của một số người cầm bút, sự ra đời của
loại kịch không lời; ở Bùi Giáng, tạo ra những vần
thơ đại loại thế nầy:
..Một hai hai một di hài
Dài hi hữu mộng an bài chẩm ma
Chả xin? Chả hỏi? Vịt gà?
Và thân thể máu me và thịt xương...
...Ma đên ỳ nẽ ô mà
Xơ tin ô đố đâu là đến đây
Xền nô đô thí xi đầy
Xè rê tê nến ngọn lầy lội cơn
A tin a tỉ oan hồn
Vong lưu lỳ lẩy cung đờn cợt trêu
Người ơi ô ướt dấu bèo
ồ thôi thế vậy thu vèo sang thu
Lừng bay thân thế pha mù
Sương mây tuyết dậy thân bù cho thân
(Ðạm Tiên)
Gắn liền với sự hoài nghi ngôn ngữ là sự hoài nghi
lý trí. Trong lúc hầu hết các nhà thơ khác, mặc
dầu hoài nghi lý trí, luôn luôn khắc khoải tìm kiếm
sự thật, với niềm tin dù mơ hồ và mong manh, là
sự thật ấy có đâu đó, sẽ gặp được một ngày. Bùi
Giáng, ngược lại, tuy dịch và viết khá nhiều tác
phẩm về triết học hiện đại Tây phương, lại hoàn
toàn phủ nhận đầu óc duy lý của Tây phương, hoàn
toàn mất niềm tin với mọi cái gọi là chân lý. Cuộc
đời, với Bùi Giáng, là chuổi dài những nghi vấn
và phẩn nộ:
Ði vào giữa cuộc thị phi
Nửa tam bành tới nửa nghi vấn về
(Y ư mộng, du ư mê)
Làm thơ, với Bùi Giáng, là một hành động phản kháng,
phản loạn. Như Từ Hải trong truyện Kiều của Nguyễn
Du: Sao bằng riêng một biên thùy
Cõi điên vũ trụ tùy nghi tung hoành
Xiết bao vô ngại ngọn ngành
Chọc trời khuấy nước tan tành thịt xương
Ấy như thể, ấy như dường
Ði vô tận ý đi đường chơn không
Ði mây gió đi phiêu bồng
Ngàn trăng ngậm bóng sương đồng ra đi
Ði về thể lệ lâm ly
Ði đi suốt cõi lời nghi vấn lời.
(Sao bằng)
Nghi vấn. Lúc nào cũng nghi vấn. Nghi vấn cả lời
nói của mình. Bài thơ Tặng Mã Giám Sinh là một bài
thơ hay:
Hỏi tên? Rằng biển dâu xanh
Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu đã xa
Gọi tên? rằng một hai ba
Ðếm là diệu tưởng đo là nghi tâm.
Tôi đoán là Bùi Giáng rất tâm đắc bài thơ nầy.
Nó được in lần đầu trong "Mùa thu trong thi
ca" với tựa là "Mã Giám Sinh", sau
in lại trong "Thơ Bùi Gíáng" xuất bản
tại Canada năm 1990 với sự thay đổi nhỏ: thêm chữ
"tặng" ở tựa đề. Có hay không có chữ "tặng",
thật ra cũng chả có gì quan trọng. Cũng như mọi
cái tựa trong thơ Bùi Giáng chả có gì là quan trọng.
Lười, ông thường nhặt bất cứ từ hay nhóm từ nào
trong bài dùng để làm nhan đề. Bài thơ trên được
đặt tựa là Mã Giám Sinh hay Tặng Mã Giám Sinh có
lẽ để ghi lại xuất xứ một nguồn cảm hứng: nó xuất
phát từ mấy câu thơ trong Truyện Kiều có liên quan
đến Mã Giám Sinh:
Hỏi tên, rằng: Mã Giám Sinh
Hỏi quê, rằng: huyện Lâm Thanh, cũng gần.
Trong bài Chiều nguyên xuân in trong tập Mưa Nguồn,
xuất bản từ năm 1963, Bùi Giáng đã bị ám ảnh bởi
vấn đề quê hương:
Hỏi rằng: người ở quê đâu
Thưa rằng: tôi ở rất lâu quê nhà
Từ "ở rất lâu quê nhà" đến "mộng
ban đầu đã xa", tư tưởng của Bùi Giáng đã vượt
biên, lấn sang một tầm khác. Với một sức oằn khác.
Dẫu sao, ở đây điều quan trọng nhất là câu cuối
cùng: "đếm là diệu tưởng đo là nghi tâm".
Mọi sự phân biệt đều bị xóa nhòa. Tôi cho đây là
đặc điểm nổi bật nhất trong phong cách thơ Bùi Giáng:
Thơ Bùi Giáng chính là sự xóa nhòa của mọi đường
biên quen thuộc vốn được mọi người chấp nhận như
là một quy ước, một luật lệ trong văn học từ xưa
đến nay.
Thứ nhất là xóa nhòa những đường biên về giọng
điệu. Những ai từng viết lách ít nhiều cũng đều
hiểu cái khó nhất đối với người cầm bút là pha trộn
giọng điệu, nghĩa là, chẳng hạn, vừa nghiêm túc
lại vừa cười cợt, vừa uyên bác lại vừa bình dân,
vừa suy tư lại vừa thích thảng. Bùi Giáng vượt qua
tất cả những khó khăn ấy một cách nhẹ nhàng. Ví
dụ dưới đây, tôi chọn một cách tình cờ:
"Hai cô bán phở dịu dàng
Ðừng nên nói bậy hai nàng buồn ta"
-Trẫm từ lịch kiếp phôi pha
Tái sinh bất chợt mà ra phụ lòng
Tình thương ẩn mặt từ trong
Nội tâm vô tận mà long đong vì
Phong tao phấn đại tương nghi
Tùy thời thể dựng mà tuy nhiên là.
(Tặng quán phở Huyền Trân)
Ai cũng thấy rõ hai câu đầu và sáu câu sau có giọng
điệu khác hẳn nhau. Vậy mà, riêng tôi, thú thật,
tôi không hiểu tại sao Bùi Giáng có thể chuyển từ
hai câu đầu xuống sáu câu dưới một cách dễ dàng
tự nhiên như vậy. Mà đây cũng lại là một đặc điểm
rất phổ biến trong thơ Bùi Giáng. Nói một cách tóm
tắt, thơ ông có hai loại từ vựng: một loại tạm gọi
là bác học và một loại tạm gọi là bình dân. Bác
học thì như thục nữ, thuyền quyên, cảo thơm, thượng
thừa, miên trường, đoạn trường, băng tuyết, thập
thành v.v...nghĩa là những từ Hán Việt lâu lắm không
còn được sử dụng nữa. Còn bình dân thì như đại ca,
Huê ky., Liên Xồn, lai rai, nhậu nhẹt, máu me, số
dzách, dấn bước, dấn liều v..v...nghĩa là những
khẩu ngữ còn lấm lem bụi bặm ngoài đường ngoài phố.
Cả hai loại đều dễ khiến giới làm thơ chùn tay.
Dùng loại trên thì dễ có nguy cơ trở thành sáo,
cổ. Dùng loại dưới thì dễ có nguy cơ trở thành nhả
nhớt, rẻ tiền. Bùi Giáng hoàn toàn thoát khỏi hai
nguy cơ ấy. Hơn nữa, ông còn hòa trộn cả hai loại
ngôn ngữ ấy lại với nhau một cách tài tình. Ðọc,
người ta không hề có chút cảm giác lấn cấn nào.
Như một phép mầu.
Gắn liền với sự xóa nhòa trên là một sự xóa nhòa
khác: xóa nhòa ranh giới giữa truyền thống và hiện
đại. Không phải Bùi Giáng kết hợp truyền thống và
hiện đại, như cái điều chúng ta có thể nói về một
số nhà thơ khác. Nói đến sự kết hợp giữa truyền
thống và hiện đại tức là thừa nhận chúng ta có thể
ít nhiều khu biệt đâu là truyền thống và đâu là
hiện đại. Ở Bùi Giáng, mọi nỗ lực khu biệt ấy đều
trở thành vô vọng. Ở Bùi Giáng, tính chất truyền
thống và tính chất hiện đại tan hòa vào với nhau.
Là một. Thể thơ ông dùng: cũ; hình tượng ông dựng:
cũ; ngôn ngữ ông viết: cũ, thế nhưng, rất lạ, toàn
bộ bài thơ của ông thì lại mới, mới như chưa từng
có ai viết được như thế. Mới đến độ tôi có cảm tưởng
phần lớn những từ, những chữ nào đã được Bùi Giáng
sử dụng một lần đều trở thành của riêng của Bùi
Giáng, một thứ tài sản của Bùi Giáng, trên đó có
dấu ấn của Bùi Giáng; sau đó, ai dùng lại những
từ ấy, chúng ta cứ ngờ ngợ như họ ăn cắp của Bùi
Giáng. Ðọc thơ của bất cứ người nào, hễ gặp chữ
"giũ áo", "rớt hột", "đười
ươi", "chuồn chuồn","châu chấu"...chúng
ta hay tri hô lên: Bùi Giáng! Ngay cả một số từ
quen thuộc hơn, như "thập thành", "máu
me", "lai rai"...chúng ta cũng lại
tri hô lên: Bùi Giáng! Trong lịch sử thi ca Việt
Nam hiếm có trường hợp nào lạ lùng đến như vậy.
Phần lớn, tính chất độc đáo chỉ ở cấp độ bài hoặc
cấp độ câu. Ở Bùi Giáng, tính chất độc đáo thể hiện
ngay ở đơn vị từ. Với sự xuất hiện của Bùi Giáng,
số phận các nhà thơ đâm ra lao đao hẳn. Khi chọn
chữ không khỏi có cảm giác e dè vì sợ dẫm vào dấu
chân của Bùi Giáng.
Thứ ba, là sự xóa nhòa ranh giới giữa cái gọi là
thơ và cái gọi là phi thơ. Ngổn ngang trong thơ
Bùi Giáng những chi tiết ngỡ như không bao giờ thành
thơ được, ngỡ như mãi mãi thuộc thế giới của văn
xuôi, của tiểu thuyết, của đời thường. Nhớ người
yêu, có lẽ ai cũng nhớ như Bùi Giáng nhưng không
có ai viết được như Bùi Giáng:
Bây giờ em đứng nơi đâu
Cỏ trong mình mẩy em sầu ra sao
(Gửi thôn nữ Vĩnh Trinh)
Bùi Giáng có tài hóa giải những tình thế oái oăm:
cái đáng lẽ sàm sỡ, dưới ngòi bút ông, tự nhiên
thành thơ mộng, thiết tha, tội nghiệp. Bùi Giáng
cũng có tài làm cho những cái lắt nhắt trở thành
mênh mang:
Sáng nay bao tử mơ mòng
Cà phê bên nọ, cháo lòng bên kia
(Sáng nay)
Tất cả những chi tiết ấy đều tầm thường đến độ
nhảm nhí. Ði vào thơ Bùi Giáng, tự dưng chúng lại
có một âm vang gì rất lạ, rất xa, tưởng như không
còn là chuyện "cà phê" hay "cháo
lòng" nữa.
Một nỗi phân vân giữa cuộc đời, chẳng hạn. Một
niềm xót xa trong cảnh khốn cùng, chẳng hạn. Bùi
Giáng còn có tài làm cho những cái linh thiêng trở
thành bình thường. Những Thượng Ðế, Phật, Thánh
Hiền...đi vào thơ ông, mất một chút hào quang, song
bù lại, dường như đẹp hơn. Bùi Giáng làm cho cái
đáng kính biến thành cái đáng yêu. Hình tượng ni
cô trong thơ ông là một ví dụ. Bùi Giáng cũng lại
có tài làm cho cái thô và tục trở thành những cái
thơ mộng, xôn xao. Cuối cùng, thứ tư, tôi tạm gọi
là sự xóa nhòa giữa cái lý và cái phi lý; ít có
ai để ý trong thơ Bùi Giáng có đặc điểm nầy: ông
rất thích dùng những từ có tính chất lý luận như
"mặc dù", "càng...càng", "vẫn
là", "và", "vì". "rằng",
"bởi chưng", "chỉn e", "té
ra", và đặc biệt, nhiều nhất là từ "tuy
nhiên"... Chắc chắn là không có nhà thơ nào
dùng các từ nầy nhiều bằng ông. Thế nhưng, cách
Bùi Giáng sử dụng các liên từ nầy rất lạ lùng, không
giống bất cứ người nào trước ông hoặc sau ông. Xin
hãy đọc lại bài Tặng quán phở Huyền Trân dẫn ở trên,
và hãy chú ý đến ba câu cuối cùng: chữ "vì"
và chữ "là" đứng hết sức lửng lơ. Chúng
không nối kết cái gì cả. Chúng cũng không giải thích
cái gì cả. Chúng hoàn toàn trái ngược mọi luật lệ
ngữ pháp. Chúng thường xuất hiện ở những vị trí
thật bất ngờ: ở cuối câu, thường là câu cuối bài:
-Em về - nhà cửa nhỏ nhoi
Buồn rầu khôn xiết em soi gương và...
(Em đi)
-Nối đuôi khởi sự từ đầu
Ví dù kết thúc trước sau vẫn là...
(Vẫn là là)
-Bá phương phảng phất rồi xa
Mùi hương xa vắng càng xa xôi càng...
(Băng tâm)
-Mai sau dù có đi về
Xin nhìn gió rụng ngành tre thưa rằng...
(Em về)
Một điều vừa thú vị vừa khó hiểu là: người đọc
thơ Bùi Giáng lại ít chú ý, không bị giật mình vì
những cách dùng từ, đặt câu ngược ngạo như vậy.
Mà, ở những trường hợp nầy, Bùi Giáng đều cố tình
cả. Một mặt, tần số xuất hiện của những kiểu câu
như thế ê hề; mặt khác, nhiều lúc Bùi Giáng đem
những liên từ lý luận ra đùa nghịch:
-Nếu và nhưng vẫn ắt rằng
Tuy nhiên thế nọ thường hằng thế kia
Và nhưng tuy dẫu là chia
Lìa cha biệt mẹ bốc tia sinh tồn
(Tuy nhiên)
-Tuy nhiên đất quạnh sơn hà
Còn tuy nhiên mãi họa là nhiên tuy
(Ich dụng hung sự)
-Mần răng ra rứa ví dù
Mần ri thế nọ tịt mù thế kia.
(Mỗi ngày)
Một lần, Bùi Giáng giải thích: "Dù sao, tôi
nói dù sao, bởi vì thiên hạ vốn ưa thích dù sao.
Cho có mạch lạc. Chứ thật tình tôi chẳng rõ sao
gọi là mạch lạc liên tục ngụ trong tính tình của
ngôn ngữ dù sao dao sù" (9)
Cách phân tích như trên khá nguy hiểm: nó dễ làm
cho người ta có cảm tưởng thơ Bùi Giáng là một cái
gì tĩnh tại và cố định. Thật ra, không phải. Theo
dõi thơ Bùi Giáng chúng ta sẽ nhận ra ông thay đổi
không ít. Tập Mưa Nguồn xuất bản năm 1962 rất trong
sáng; từ tập Ngàn thu rớt hột (1963) về sau, thơ
ông tối tăm hẳn; sau năm 1975, ở hai tập thơ xuất
bản tại hải ngoại, thơ ông trong sáng trở lại, nhưng
so với Mưa Nguồn, đằm hơn, lắng hơn và chín hơn.
Mưa Nguồn là niềm nhớ thương đồng ruộng không nguôi:
-Viết thơ lạc dấu sai dòng
Viết trong tức tưởi sợ đồng lúa mong
-Viết thơ là trở lại bên
Con người thôn nữ răng đen hai hàng
(Ca dao)
Sau này, ông vẫn bâng khuâng nhớ đồng quê. Chỉ
bâng khuâng thôi. Nghĩa là rất man mác. Có một câu
thơ có lẽ ông thích, cứ lặp đi lặp lại rải rác ở
nhiều bài thơ khác nhau:
Trông về đồng ruộng đôi khi
Thị thành tâm sự hoài nghi trăng tà
(Gấu buồn)
Nhưng tâm sự chính của ông là nỗi tuyệt vọng về
khả năng giao cảm giữa người và người, niềm cay
đắng trước một xã hội ngày một đảo điên. Ông hoàn
toàn cô độc:
quay về một cõi riêng thôi
liệu trong tấc cỏ kiếm trời ba xuân
(Ðời rộng đương chìm)
Ông làm thơ cho hư không:
Bây giờ xin ngó cụm cây
Chắp hàng viết nốt áng mây về trời
(Bây giờ)
Ông độc thoại:
Ngàn năm độc đối riêng hàng
Tờ xanh ứa lệ đẫm trang xuân đầu
(Khởi từ)
Có khi ông im lặng:
Từ đây đổi vịt thay gà
Chán chường đến thế là ta ngậm lời
(Nhà ma đi đời)
Sau 1975, cảm giác cay đắng và tuyệt vọng ấy, không
hiểu tại sao dường như nhẹ nhàng đi nhiều. Ðời sống
ông cơ cực hơn, những cơn điên đến với ông thường
xuyên hơn (10), song thơ của ông lại có vẻ thanh
thản hơn. Ông bớt những thắc mắc siêu hình để quan
tâm hơn đến khía cạnh cảm xúc, từ đó, nhấn mạnh
đến yếu tố tâm hồn, coi đó là nguồn gốc của thơ:
Chợt mùa thơ vội đổi giòng
Cỗi nguồn cũng bởi tự lòng mà ra
(Từ bấy tới nay)
Với quan niệm như vậy, thơ không còn là trò đùa
nghịch chữ nghĩa nữa mà là một sự bộc bạch tâm sự:
Lời tỉnh táo, lời mê man
Ðiệu thê thiết rống điệu bàng hoàng ca
(Y ư mộng du ư mê)
Do đó, ông khao khát được thông cảm:
Xổ bầu tâm sự điêu linh
Ai người chia xẻ với mình với ta
(Một giờ)
Bài Bao giờ in trong tập Thơ Bùi Giáng do Thế Kỷ
21 xuất bản là một bài thơ hay:
Bằng bút chì đen
Tôi chép bài thơ
Trên tường vôi trắng
Bằng bút chì trắng
Tôi chép bài thơ
Trên lá lục hồng
Bằng cục than hồng
Tôi đốt bài thơ
Từng phút từng giờ
Tôi cười tôi khóc bâng quơ
Người nghe cười khóc có ngờ chi không
Thơ, với Bùi Giáng, trước hết là một sự hiện hữu
cụ thể với những màu sắc cụ thể nhất định: đó là
một văn bản với những từ, ngữ, giấy, mực cụ thể.
Văn bản ấy có đời sống riêng của nó: có sinh có
tử. Nhưng đằng sau, ẩn náu phía trong cái hình thức
cụ thể ấy lại là một tâm tình, là tiếng cười, là
tiếng khóc. Tâm tình của người làm thơ òa vỡ bất
chấp những giới hạn tự thân của ngôn ngữ:
Ngữ ngôn khép kín mặc dầu
Hùng tâm tim máu óc đầu mở ra
(Bé con ơi)
Bùi Giáng băn khoăn:
Tôi cười tôi khóc bâng quơ
Người nghe cười khóc có ngờ chi không?
Bùi Giáng lại năn nỉ:
Tặng nhau từ ngữ lạc lầm
Cũng xin hồng lệ hãy đầm đìa tuôn
(Y ư mộng du ư mê)
Trong bài Thuở chưa điên in trong tập Thơ Bùi Giáng
do Việt Thường xuất bản tại Canada năm 1990, Bùi
Giáng tự so sánh thơ mình ngày trước với thơ mình
bây giờ:
Ấy là thơ thuở chưa điên
Ở trong dấu ngoặc quàng xiên reo cười
Bây giờ xoang điệu đười ươi
Ðiệu hoa lầu các ngậm ngùi dấn thân
Sự khác nhau không phải ở chỗ: có lúc ông "quàng
xiên reo cười", có lúc ông lại "ngậm ngùi
dấn thân". Ở Bùi Giáng, cái cười và cái khóc
đôi khi rất giống nhau. Theo tôi, chỗ khác nhau
căn bản là: trước đây, Bùi Giáng loay hoay mãi trong
"dấu ngoặc" của ý thức, của cái tôi; sau
nầy, ông tung hê hết, ông hòa nhập vào cái chung
của cuộc đời:
Ta quên như thể mình ta quên mình
(Tặng hai cháu Quỳnh và Na)
Ông trở thành dễ thương và tội nghiệp vô cùng:
Trái tim mỗi mới mỗi ngày
Mỗi giờ phút động mây trời rung rinh
Ðường đi mất hút thình lình
Những khuôn mặt lạ những hình ảnh quen
Tạm nhờ men rượu nguôi quên
Niềm vui nỗi nhớ chênh vênh lạ lùng
(Ðường quanh ngõ quẹo)
Ở khía cạnh nầy, có thể nói Bùi Giáng xóa nhòa
ranh giới giữa cái tôi và cái ta, giữa cái riêng
và cái chung: Hoặc rằng người cũng là tôi
Hay là tôi cũng là tôi như người
Ấy rằng tinh thể đười ươi
Lời rằng quyết tuyệt và tươi vui và
Ấy rằng một cũng là ba
Là hai mai một mốt là hôm nay. Xóa nhòa. Xóa nhòa
ranh giới giữa các giọng điệu, giữa truyền thống
và hiện đại, giữa thơ và phi thơ, giữa cái lý và
cái phi lý, giữa cái tôi và cái ta, cái riêng và
cái chung, xóa nhòa mọi sự phân biệt, biện biệt;
theo tôi, đó là những đặc điểm nổi bật nhất trong
thơ Bùi Giáng. Bằng những sự xóa nhòa ấy, Bùi Giáng
xóa nhòa luôn cả ranh giới giữa cái gọi là văn hóa
cao cấp và văn hóa bình dân. Ðồng thời, Bùi Giáng
cũng xóa nhòa luôn cả tính chất nghiêm nghị, nghiêm
túc với những khẩu hiệu ồn ào như "vị nhân
sinh", "vị nghệ thuật" vốn kéo dài
rất lâu trong văn học Việt Nam. Khác với các nhà
thơ khác, lúc nào cũng nhăn mặt nhíu mày, lao vào
thơ như lao vào một trận địa, kỳ khu và khắc khổ,
lúc nào cũng khắc khoải sáng tạo ra cái mới, mà
chưa chắc đã mới và chưa chắc đã hay. Bùi Giáng,
ngược lại, làm thơ cứ như đùa như giỡn, như không
phải đang làm thơ, vậy mà tự nhiên thơ lại trở thành
bát ngát, lấp lánh và lộng sắc lộng hương. Mai Thảo
kể: "ba chữ "vui thôi mà" là câu
trả lời mơ hồ nghịch ngợm duy nhất của Bùi Giáng
trước mọi tìm hiểu của (về?) lực thơ và số lượng
thơ không thể tưởng tượng được ở nơi ông",
rồi bình tiếp: "thơ Bùi Giáng vui thật. Một
vĩ đại vui" (11). Theo Leslie Fiedler, sự xóa
nhòa văn hóa giữa văn hóa bình dân và văn hóa cao
cấp, và cùng với nó, việc đoạn tuyệt với chủ nghĩa
đặc tuyển (elitism) và tính chất nghiêm cẩn (seriousness)
là những đặc điểm chính yếu của chủ nghĩa hậu hiện
đại (postmodernism) (12). Ở khía cạnh nầy, Bùi Giáng
rất gần các nhà thơ hậu hiện đại.
Bùi Giáng còn gần gũi các nhà thơ hậu hiện đại
ở một khía cạnh khác nữa: một số khá nhiều các bài
thơ của ông là loại thơ không thể giảng. Susan Sontag
cho một trong những đặc trưng lớn của chủ nghĩa
hậu hiện đại là tính chất phản diễn dịch (anti-interpretation),
là sự nhấn mạnh vào hình thức và sự trình diễn (performance)
hơn là nội dung và ý nghĩa (13). Chúng ta biết theo
quan niệm của Ferdinand de Saussure, ngôn ngữ chỉ
là một hệ thống ký hiệu, ở đó, mỗi đơn vị ký hiệu
đều có hai mặt: cái biểu đạt (signifier) và cái
được biểu đạt (signified). Cái biểu đạt là âm hoặc
chữ viết. Cái được biểu đạt là ý niệm do âm hoặc
chữ viết ấy gợi lên trong đầu chúng ta. Ví dụ, nghe
âm "chó" (cái biểu đạt), chúng ta nghĩ
ngay đến giống vật thường được nuôi trong nhà (cái
được biểu đạt) (14). Từ đó, người ta đi đến chỗ
coi bài thơ cũng là cái biểu đạt. Ðọc thơ là để
tìm kiếm cái được biểu đạt, tức ý nghĩa, điều ẩn
giấu phía sau bài thơ. Với Bùi Giáng, cũng như với
các nhà thơ hậu hiện đại, ngược lại, bài thơ là
cái được biểu đạt chứ không phải là cái biểu đạt.
Nói cách khác, bài thơ là bài thơ. Không có ý nghĩa
nào ẩn sau bài thơ để chúng ta đào xới, tìm kiếm.
Nó giống như một bức tượng đá. Bề mặt: đá; trong
ruột: cũng là đá. Do đó, nếu hỏi ý nghĩa bài thơ
Ðạm Tiên tôi dẫn ở trên là gì ư? Chịu! ý nghĩa của
nó là chính sự hiện hữu của nó, là bài thơ có nhan
đề Ðạm Tiên, vậy thôi! Chúng ta không thể phân tích.
Chúng ta chỉ cần nghiệm (experience). Ðọc lần thứ
nhất: chúng ta không hiểu gì cả. Ðọc lần thứ hai:
chúng ta vẫn không hiểu gì cả. Nhưng càng đọc, chúng
ta càng nghe rõ, càng thấm, càng cảm cái nhạc điệu
lầm rầm, lầm rầm của bài thơ. Nghe như thần chú.
Như tiếng tụng kinh. Như lời cầu hồn. Chúng ta sống
trong một không khí huyền bí, ma quái, không có
gì rõ nét. Thì Ðạm Tiên là một bóng ma mà! Ở nhiều
bài thơ khác, điều chúng ta nghiệm được thường là
sự bất lực của ngôn ngữ; chúng ta không hiểu vì
chính nhà thơ cũng không thể diễn tả được những
gì ông chỉ cảm nhận một cách mơ màng hoặc bằng trực
giác hoặc bằng tiềm thức.
Chúng ta có thể gọi Bùi Giáng là nhà thơ hậu hiện
đại được chăng? Khái niệm hậu hiện đại, mặc dầu
xuất hiện từ thập niên 30 và 40 với Frederico de
Oniz, Dudley Fitts và Arnold Toynbee, được sử dụng
khá nhiều tại Mỹ vào thập niên 50 và 60, trở thành
thời thượng tại Âu Mỹ từ giữa thập niên 80 đến nay
(15), vẫn còn khá xa lạ với giới cầm bút Việt Nam.
Ðiều đó dễ gợi cho chúng ta ấn tượng chủ nghĩa hậu
hiện đại là cái gì rất mới, chỉ gần đây thôi, gắn
liền với máy vi tinh, chẳng hạn. Tuy nhiên, trên
thực tế, khác hẳn. Danh sách các nhà thơ hậu hiện
đại được Jerome Mazzaro phê bình trong quyển Postmodern
American Poetry bao gồm W.H.Auden (1907-73), Randall
Jarrell (1914-65), Theodore Roethke (1908-63) v..v..(16).
Với Margaret E. Gray, ngay cả Marcel Proust (1871-1922)
cũng là một nhà văn hậu hiện đại (17). Chúng ta
có thể gọi Bùi Giáng là nhà thơ hậu hiện đại hay
hậu "iện" đại (người vượt ra ngoài chủ
nghĩa "iện" đại tại Việt Nam) hay "ậu"
hiện đại (người ít nhiều - chứ chưa hoàn toàn -
nhích ra khỏi chủ nghĩa hiện đại theo cách hiểu
truyền thống tại Tây phương) được chăng? Dù sao,
vấn đề xác định danh xưng ở đây, tôi nghĩ, cũng
không phải là điều quan trọng. Quan trọng hơn, chúng
ta cần ghi nhận đóng góp lớn lao của Bùi Giáng:
ông đã tiến một bước khá xa trên con đường hòa giải
giữa thơ và hiện thực cũng như giữa nhà thơ và người
đọc.
Nguyễn Hưng Quốc
(Trích "Thơ, v.v...và v.v.." )
Chú thích:
(1) Mai Thảo (1994), "thay lời bạt: Một vài
kỷ niệm với Bùi Giáng", in trong tập Thơ Bùi
Giáng, nxb Thế kỷ 21, California, 1994. tr. 146.
(2) Như trên, tr. 139.
(3) Thanh Tâm Tuyền (1994) "Bùi Giáng, một
hồn thơ bị vây khốn", Tạp chí Thơ (California)
số 1, Mùa thu 1994, tr, 73-75.
(4) Bùi Giáng (1969), Thi ca tư tưởng, Ca Dao,
Saigon. tr, 102-3.
(5) Thơ Bùi Giáng, Việt Thường xuất bản tại Montreal,
1990 và Thơ Bùi Giáng, Thế Kỷ 21 xuất bản tại CA,
1994. (6) Trong bài "Bao giờ" và "Bài
thơ của tháng giêng" in trong tập Liên, đêm
mặt trời tìm thấy, nxb Sáng Tạo, Saigon, 1964.
(7) Bùi Giáng (1970) Mùa thu trong thi ca, Sống
Mới in lại tại hải ngoại, không ghi năm, tr. 223-4.
(8) Dẫn theo Steiner,G. (1967) Language and Silence,
Faber & Faber, London, tr. 72.
(9) Bùi Giáng (1970) Mùa thu trong thi ca, sđd.
tr. 17.
(10) Xem Phạm Xuân Ðài, "Kẻ cuồng sĩ trong
vườn cây" lời tựa tập Thơ Bùi Giáng, Thế Kỷ
21, 1994, tr. 15-26.
(11) Mai Thảo (1994), bài đã dẫn, tr. 141.
(12) Fiedler, L. (1975) "Cross the Border
- Close the Gap: Postmodernism" in trong tập
American Literature since 1900 do Cunliffe chủ biên,
Sphere Books, London, 1975, tr. 344-366.
(13) Sontag, S. (1966), Against Interpretation
and Other Essays, Delta, New York.
(14) Tác phẩm chính của Saussure, Cours de linguistique
générale, in tại Paris năm 1916, sau đó, được dịch
ra nhiều thứ tiếng và tái bản rất nhiều lần; một
thời gian dài, ít nhất cho đến đầu thập niên 70,
được xem như một tác phẩm kinh điển trong ngành
ngôn ngữ học trên khắp thế giới. Về Saussure, có
thể xem quyển sách giới thiệu rất hàm súc của Jonathan
Culler, Saussure, Fontana/Collins, 1976.
(15) Về lịch sử thuật ngữ "chủ nghĩa hậu hiện
đại", có thể xem: Bertens.H.(1986), "The
Postmodern Weltanschauung and Its Relation with
Modernism: An Introductory Survey" in trong
Approaching Postmodernism do Fokkema, D & Bertens,
H. biên tập, John Bengamins xuất bản tại Amsterdam,
1986, tr. 9-51; Best, S & Kellner, D. (1991),
Postmodern Theory, Macmillan, Hampshire, tr. 1-33.
Về chủ nghĩa hậu hiện đại trong lãnh vực văn học,
có thể xem: Hassan, (1982), The Dismenberment of
Orpheus: toward a Postmodern Literature, Oxford
University Press, NY.; Hassan, I. (1987), The Postmodern
Turn: Essays in Postmodern Theory and Culture, Columbus;
Spanos, W. (biên tập) (1979),Martin Heidegger and
the Questions of Literature: toward a Postmodern
Literary Hermeneutics, Indiana University Press,
Bloongton; Connor, S. (1989), Postmodernist Culture:
an Introduction to Theories of the Contemporary,
Basil Blackwell, Oxford, đặc biệt chương 4, "Postmodernism
and Literature", tr. 103-131; McHale, B. (1986),
"The Semantic and Syntatic Organisation of
Postmodernist Texts" in trong tập Approaching
Postmodernism, sđd, tr. 81-98; và Jameson, F. (1988),
"Postmodernism and Consumer Society" in
trong Postmodernism and its Discontents: Theories
& Practices, Kaplan E.A. biên tập, Verso, London,
tr. 13-29.
(16) Mazzaro, J. (1980), Postmodern American Poetry,
University of Illinois Press, Urbana.
(17) Gray, M. E. (1992), Postmodern Proust, University
of Pennsylvania Press, Philadelphia.

|