Không
cốc túc âm
Bùi
Giáng
“Nàng đã đến bởi con đường vạch trắng..”
Nàng
là nàng thơ, nàng Thúy, nàng Dương, nàng Hà, nàng
Thái Chân, Thậm Mỹ, Chí Thiện, Từ Bi… Nhưng phải
gọi, thì nàng mới về… Mà gọi cũng là lắng nghe…
Lắng nghe trong vắng lặng Thái Hư tịch mịch chiều
hồng…
“Lặng
nghe lời nói như ru
Chiều xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng”
Thế
là bỗng dưng biên thuỳ xoá mất… Ai là kẻ gọi? Ai
là người nghe? Và cả trời, cả đất, cả xuân, cả thu
cũng tràn lan vào trong cõi. Niềm tương ứng càn
khôn vũ trụ mấp mé bên nhịp cầu ngại ngùng trong
từng trận gió tịch mịch hư không.
Người
xưa dùng cái tiếng “không cốc túc âm” cũng không
ngoài nghĩa đó: “ngồi trong hang động im vắng mà
nghe gót chân…khơi động bên ngoài”.
Gót
chân nào đi?
Gót
chân nào bước?… Và đi trong bước để tái lập mộng
đời ở quanh quất hương màu các ngã ba:
“Nàng
từ lánh gót vườn Hoa
Dường gần Rừng Tía, đường xa Bụi Hồng”
Nàng
là ai?… Chính lời cậy hỏi nọ đã buộc ta bước lên
đường kêu gọi mãi… Về miền Nam nước Việt nhớ nhung
hoài người bạn tuổi anh niên.
Người
bạn tuổi anh niên… của miền Nam nước Việt -vốn xưa
kia tên gọi là nước Việt của trời Nam- đã từng gặp
những cơn mạo hiểm lưu ly…Tố Như Tử! Đã từng rời
mái Thanh Hiên, chịu làm Hiệp Hộ Lang Thang ghé
Gia Tĩnh tìm nàng suốt hà sơn vạn lý!…
“Xuân
phong tiếu bộ nguyên màu
Liễu yêu bài động mối sầu trở cơn”
Bởi
một đường rẽ trắng….nàng đến.
Bởi
một đường rẽ trắng….nàng đi.
Hỡi
ôi! Chính đó là cái chỗ để trần gian dấn thân vào
mà phiêu bồng tư lự chiêm bao:
Huyền
diệu của con người. Dị thường của con kẻ.
Kỳ bí của tồn lưu. Vô ngần của tâm lý.
U uẩn của tân thanh. U huyền của ngôn ngữ.
U lệ của ra hoa. U kiều của thanh lục.
U diễm của thanh hà trên vạn lý hà sơn.
Cái
đáng kể là riêng duy chỉ rằng, chân lý tồn lưu chịu
về trong ngôn ngữ và tư tưởng chịu đạt tới ngôn
ngữ nọ. Ngôn ngữ nào?… Ngôn ngữ tái tạo tân thanh.
Ngôn ngữ thiết lập thịnh triều của ngôn ngữ. Vô
thanh vô tức trong Nếp gấp Bất tư nghi của Vô Ngôn.
Nói
nghìn lời để dìu cái-không-lời về trong cái-không-nói.
Và
cái-không-nói cũng thường là cái mệnh đề phụ thuộc
giắt cài thêm, lửng lơ như cái-nói-rằng-không là
triền miên trong-có vậy.
Thường
thấy người ta phàn nàn: thằng nọ viết văn làm thơ
lớ mớ, nửa cỏ nửa gai, không gì ra rành mạch cả.
Sao nó không viết đơn giản rành rõ như ông Nguyễn
Du, như ông Hồ Dzếnh, như ông Khổng, ông Lão, ông
Trang?
Tưởng
như ông Khổng, ông Trang, ông Du, ông Dzếnh viết
văn rành mạch đơn giản lắm!
Tưởng
như người ta đã hiểu rõ cái điều ông Khổng, ông
Du đã nói!
Và
hỡi ôi! Tưởng như ai ai cũng có thể và có bổn phận
phải viết như các thánh sống, thần linh kia! Kỳ
dị thay!
Giữa
phong tình cổ lục, và lục đại mây mưa vốn có một
cái hang từ thiên cổ. Cái hang chia xa tồn lưu và
tồn hoạt. Chia xa dị biệt.
Rồi
về sau, lúc mê cung tư tưởng chuyển sang Mê Hội
Trận Triết Học chi ly, khi cái chỗ chia xa dị biệt
đạt tới mức độ vô ngần.
Đó
là trường hợp Đức Khổng. Hình nhi thượng và Hình
nhi hạ ban sơ tương giao ở địa điểm tồn sinh nào,
mà về sau căn cơ an thập lập mệnh trôi tuốt đi ba
ngã, bốn bề phiêu bồng suốt xứ. Lời than tê buốt
lại dội ngầm:
“Thái
Sơn kỳ đồi hồ!
Lương mộc kỳ hoại hồ!
Triết nhân kỳ nuy hồ!” [1]
Chúng
ta bàn hoàn xiết bao, chợt một lần nghe ra tiếng
than thở nọ.
Đầu
ta hai ba thứ tóc!
Mà
sao chiêm bao vạn lý, sao hà sơn đi?
Đại
hồng ký thác từ quy: “Lời trong căn để vui gì lắm
đâu”.
Suốt
kiếp phải nghiêng mình lên huyền nhiệm nọ! Ấy bởi
rằng, không thể dòm ngó theo lối “ lai rai “.
“Cái
cốt thiết, cái hệ trọng, cái tinh thể làm sao nhìn
thấy với hai con mắt thao láo mở”. Hãy xin người
hãy đăm chiêu hơn nữa…Từ con trăn trong rừng thẳm
nuốt con mãnh thú trong rừng sâu, tới con rắn vàng
hoe mổ vào chân Hoàng Tử Bé…, cho tới miền bàn hoàn
của kẻ ở lại sớm hôm bần thần nêu câu hỏi:
“Một
nơi nào đó, chẳng biết là đâu, một con cừu đã, có
hay không, ăn mất một đoá hồng?” [2]
Chân
thành nhìn vào chỗ nọ, ta sẽ nêu câu hỏi: “Nhạt
thưa gương dọi đầu cành”, “ngọn đèn khi tỏ khi mờ”
vây phủ cõi đăm chiêu chiêm niệm của những chàng,
những chị thiếp lúc họ đối diện với định mệnh mình,
khi tỉnh mộng, khi trở cơn?
“Chập
chờn cơn tỉnh cơn mê
Song hồ nửa khép mở về chiêm bao»
Chính
những câu thơ chập chờn lay lắt của Nguyễn Du là
cái chỗ căn cơ cho mọi cuộc thiết lập trường tồn
vô ngần lãng đãng. Nguyễn Du đã âm thầm đẩy một
nhịp cầu tồn lưu “tổng hợp” tới dưới bước chân con
người đang khập khiễng trên bình diện náo sinh.
Những
“tổng hợp” lớn trong những trận suy tư hoằng viễn,
cũng hiện ra trong Nếp Gấp dị thường cơ cấu lung
linh mờ tỏ “dường gần Rừng Tía, dường xa Bụi Hồng”.
Cho đến lúc nào cái lẽ tử sinh hiện ra giữa trận
tiền theo tiết điệu: “sinh là tử, tử là sinh”, tử
sinh là cái thiên thu tặng vật phong phú trao về
từ dĩ vãng đang chờ đợi con người ở chân trời sương
bóng Mai sau.
Truyện
Kiều biến làm truyện sử lịch Tây Phương đang tìm
sang Đông Phuơng để nêu một câu hỏi trong cuộc gây
cấn tương tranh.
Nhưng
nếu người Đông Phuơng không nghe cái tiếng nói của
Đông Phương thì làm sao mà nghe tiếng nói của Tây
Phương.
Phải
trả Đức Lý về cõi sơ nguyên trong ánh sáng mờ tỏ
của tồn thể, thì Đức Lý mới đủ sức đi tiếp dặm đường
và giải toả thiên hạ để bước vào Mê Cung lớn.
Từ
đó về sau, thiên hạ sẽ đọc lại thơ Việt Nam trên
bình diện Thái Cổ Cực Kim.
Đó là điều môt bực tiền bối cũng đã nói:
“Lão
phu mạo hỹ
Tam thu khai bồ liễu chi dung”
Tới
lúc đó thì cả trời, cả đất, cả vũ trụ và càn khôn,
và Sài Gòn phố thị, và Chợ Lớn phố phường, và cô
em họ gái phố Tunis sẽ… hòa chung trong cõi miền
bấn loạn của Tình Điên:
“Đã
có một lần (giữa trận tiền), tôi xin phép Đại Uý
cho phép về Tunis thăm người em họ gái”, Đại Úy
trả lời: “Trong thế gian còn chứa đầy xiết bao là
cô em họ gái!” [3]
Đông Phương, Tây Phương gặp gỡ nhau chính tại trận
tiền nọ.
Một
phen trong cõi, đã yêu một cô em họ gái trong miền,
thì từ đó về sau nhìn đâu đâu cũng thấy “trong thế
gian còn chứa đầy xiết bao là cô em họ gái”. Những
da vàng, da trắng, da đen, da Triều Minh Gia Tĩnh,
da Hy Lạp Homère, da Sylvie thôn nữ, da cô em mọi
nhỏ phiêu bồng… nguồn dịu ngọt… suối tóc hồng vàng…
dặm nghìn nước thẳm… năm nghìn cây số sa mạc bên
kia….
Những
trang viết ẩn kín của mấy nhà tư tưởng Tây Phương
đang nói với chúng ta những điều cốt yếu thân thiết
trong tâm hồn họ. Nghĩa là tâm hồn của Lục Địa đang
thao thức vì câu chuyện sử xanh lạc loài rơi vào
trong tồn sinh “hư vô chủ nghĩa” đã tàn phá cõi
“Thái Hư”.
Những
nhà tư tưởng xưa nay vẫn lần mò đi đứng trong đáy
hang sâu… để nghe rõ ràng những vang bóng đi qua…
Kỳ
lạ sao. Cứ mỗi phen đoạn trường dội tân thanh là
một phen trần gian lẩy bẩy hy vọng náo nức.
Chúng
ta muốn rủ nhau chết chùm để có cơ hội hồi sinh
sống bó.
Tất
cả những trang sách hoằng viễn của hiện đại đều
nằm trong trong cơn chiêm bao bát ngát thầm thì
vết máu bất-khả-tư-nghi của hoài vọng Hy-Lạp-Ly-Tao!
Tiếng
kêu đó phải được nghe trên lối về miền vắng lặng.
Vì nó nằm trong cõi bất-tư-nghị của mọi tư tưởng
kim cổ trong bầu gió của Tồn Thể Uyên Nguyên.
Vô
thanh vô tức… Đoạn trường tân thanh… Thanh hiên
thi tập… Terre des hommes… Le Petit Prince… tiếng
kêu chìm trong hơi thở hiu hiu…
“Bậc
chân nhân đời xưa công trùm thiên hạ, mà thiên hạ
không biết không hay”.
Từ
câu nói đó, những tặng vật thiên thu bỗng được trao
về.
Ta
đón nhận và tự nhủ rằng: «dù sao cũng không quá
muộn”.
(1965)

|