Trung Quốc
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Trung Quốc (tiếng Hoa: 中国), tên đầy đủ là Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (中华人民共和国 hay Trung Hoa Nhân dân Cộng hoà Quốc), là đất nước bao gồm phần lớn khu vực địa lý, lịch sử và văn hoá có tên gọi là Trung Hoa. Từ khi thành lập vào năm 1949, nước này được Đảng Cộng sản Trung Hoa lãnh đạo. Đây là nước đông dân nhất trên thế giới, có hơn 1,3 tỷ người, phần nhiều thuộc sắc tộc Hán. Trung Quốc cũng là nước lớn nhất tính theo diện tích trong khu vực Đông Á và nước lớn thứ tư trên thế giới, sau Nga, Canada và Hoa Kỳ. Trung Quốc nằm bên cạnh 14 nước khác: Afghanistan, Ấn Độ, Bhutan, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Lào, Myanma, Mông Cổ, Nepal, Nga, Pakistan, Tajikistan, Triều Tiên và Việt Nam. Mặc dù vẫn chính thức duy trì thể chế cộng sản, CHND Trung Hoa đã tự do hóa đáng kể nền kinh tế từ ba thập kỷ nay.
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đòi chủ quyền đối với Đài Loan (cùng với quần đảo Bành Hồ (澎湖群島), Kim Môn (金門) và quần đảo Mã Tổ (馬祖列島)) nhưng không đòi quản lý nước này. Vị thế chính trị của Đài Loan còn nhiều bàn cãi; Đài Loan hiện do chính quyền Trung Hoa Dân Quốc đặt tại Đài Bắc quản lý. Thuật ngữ "Trung Hoa lục địa" hay "Hoa Lục" thường dùng để chỉ lãnh thổ dưới sự quản lý của CHND Trung Hoa (thường không tính hai đặc khu hành chính là Hồng Kông và Ma Cao), và CHND Trung Hoa đôi khi cũng bị các đối tượng phê phán và chống đối chính trị gọi là Trung Hoa đỏ hay Trung Cộng.
| |||||
| Khẩu hiệu quốc gia: không có | |||||
![]() | |||||
| Ngôn ngữ chính thức | Tiếng Hoa¹ | ||||
| Thủ đô | Bắc
Kinh (Beijing) | ||||
| Thành phố lớn nhất | Thượng Hải (Shanghai) | ||||
| Chính phủ | Cộng sản Hồ Cẩm Đào Ôn Gia Bảo | ||||
| Diện
tích - Tổng số - Nước (%) |
9.596.960 km² (hạng 4) 2,8% | ||||
| Dân
số - Ước lượng năm 2000 - Thống kê dân số 2004 - Mật độ |
1.261.832.482 (hạng 1) 1.298.847.624 135 người/km² (hạng ) | ||||
| GDP
(PPP) - Tổng số năm 2003 - Trên đầu người |
6.450 tỷ Mỹ kim (hạng 2) $4.700 (hạng 91) | ||||
| Đơn vị tiền tệ | Nhân
dân tệ (RMB¥, CN$) (CNY) | ||||
| Múi giờ - Mùa hè (DST) |
(UTC+8) (UTC) | ||||
| Thành
lập |
Ngày 1 tháng 10 năm 1949 | ||||
| Quốc ca | Hành khúc quân tiến nghĩa dũng (义勇军进行曲) | ||||
| Tên miền Internet | .cn | ||||
| Mã số điện thoại | +86 | ||||
| ¹ Tiếng Phổ Thông là chuẩn chính thức về ngôn ngữ nói, ngoại trừ Hồng Kông và Ma Cao nói tiếng Quảng Đông. Tiếng Hoa cũng là ngôn ngữ chính thức bên cạnh tiếng Anh ở Hồng Kông và tiếng Bồ Đào Nha ở Ma Cao. Ở một số vùng thiểu số, tiếng Hoa ở mức độ nào đấy cùng là ngôn ngữ chính thức bên cạnh nhiều ngôn ngữ thiểu số như tiếng Duy Ngô Nhĩ, Mông Cổ, và Tây Tạng | |||||
Mục lục |
Lịch sử
Bài chính: Lịch sử Trung Quốc, Lịch sử nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, Biểu đồ niên đại lịch sử Trung Quốc
Sau Đệ nhị thế chiến, xảy ra cuộc nội chiến giữa Đảng Cộng sản Trung Hoa và Quốc Dân Đảng và kết thúc năm 1949 với kết quả là bên phe Cộng sản nắm được Trung Hoa lục địa và Quốc Dân Đảng kiểm soát Đài Loan cùng một số đảo ngoài khơi xa của Phúc Kiến. Ngày 1 tháng 10 năm 1949, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa theo thể chế nhà nước cộng sản.
Những người ủng hộ thời đại Mao, bao gồm chủ yếu là dân Trung Quốc nghèo khổ hoặc những người hoài cổ hay có tinh thần dân tộc chủ nghĩa hẹp hòi, cũng như những người nước ngoài tin vào chủ nghĩa cộng sản, thì cho rằng dưới thời Mao, chủ quyền và tính thống nhất của Trung Quốc lần đầu tiên sau hàng thập kỷ đã được bảo đảm, và đã có sự phát triển về mặt cơ sở hạ tầng, công nghiệp, y tế, và giáo dục, và họ cho rằng tất cả điều này đã giúp gia tăng tiêu chuẩn dân sinh. Họ cũng tin tưởng rằng những phong trào như Đại Nhảy vọt và Cách mạng Văn hóa đã tác động đến sự phát triển của Trung Quốc và làm trong sạch nền văn hóa. Những người ủng hộ cũng nghi ngờ những số liệu thống kê hay bằng chứng về số thiệt mạng hay những thiệt hại khác do các phong trào của Mao gây ra.
Tuy nhiên, bên phản đối chế độ của Mao, bao gồm phần lớn những nhà phân tích và quan sát nước ngoài cũng như một số người Trung Quốc, đặc biệt là giới trung thượng lưu và dân thành thị có tư tưởng tiến bộ, thì cho rằng chính sách quản lý của Mao đã kiểm soát quá chặt chẽ đời sống hàng ngày, đồng thời cho rằng Mao phải chịu trách nhiệm với các phong trào như Đại Nhảy Vọt và Cách Mạng Văn Hóa, làm hàng triệu (thậm chí có thể là hàng chục triệu) người chết, gây thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế, đồng thời phá hoại nghiêm trọng di sản văn hóa Trung Hoa. Đặc biệt từ khi có phong trào Đại Nhảy Vọt, đã xảy ra một nạn đói khủng khiếp ở Trung Quốc, và theo như nguồn tin Tây phương và Đông phương, đã có từ 20 - 30 triệu người chết; hầu hết những nhà phân tích phương Tây và Trung Quốc đã quy tội cho Đại Nhảy Vọt, trong khi đó những người khác, bao gồm cả Mao, vào thời đó thì đổ cho tại thiên tai; số khác thì nghi ngờ những con số này và cho rằng nhiều người chết là do nạn đói và các hậu quả xuất phát từ những đảo lộn chính trị trong thời Tưởng Giới Thạch trước đó.
Sau những thất bại bi thảm về kinh tế đầu thập niên 1960, Mao từ bỏ vị trí chủ tịch nước Cộng hoà Nhân dân. Quốc hội Nhân dân đã bầu Lưu Thiếu Kỳ làm chủ tịch nước. Mao vẫn nắm chức chủ tịch Đảng và chuyển dần nhiệm vị quản lý kinh tế sang cho một nhóm lãnh đạo ôn hoà hơn dưới ảnh hưởng chủ yếu của Lưu Thiếu Kỳ, Tổng bí thư Đặng Tiểu Bình và các nhân vật khởi xướng cải cách kinh tế.
Năm 1966 Mao phát động phong trào Cách mạng Văn hóa, theo như những người chống đối (bao gồm các nhà phân tích phương Tây và nhiều thanh niên Trung Quốc vào thời đấy) thì đây là một cú đánh trả các đối thủ của Mao bằng cách huy động thanh niên cả nước ủng hộ tư tưởng Mao đồng thời dẹp bỏ phái lãnh đạo ôn hòa (Lưu, Đặng), còn theo những người ủng hộ thì là một thử nghiệm đối với nền dân chủ trực tiếp đồng thời là một cố gắng thực sự để làm trong sạch xã hội Trung Quốc khỏi những thối nát và những ảnh hưởng tiêu cực khác. Điều này đã dẫn đến những bất ổn nhưng ngay sau đó, nhờ sự lãnh đạo khôn khéo của Chu Ân Lai các lực lượng ôn hòa đã dành lại được ảnh hưởng. Sau khi Mao chết, Đặng Tiểu Bình đã giành được quyền lãnh đạo tối cao; Tứ nhân bang (thường bị gọi một cách miệt thị là Bè lũ bốn tên), gồm quả phụ của Mao là Giang Thanh, Trương Khang Sinh, Diêu Văn Nguyên và Vương Hồng Văn, những người từng vươn lên nắm quyền lực trong Cách mạng Văn hóa, đã bị bắt và đưa ra xét xử.
Kể từ đó, chính quyền mới đã dần dần nới lỏng đáng kể việc kiểm soát của chính quyền lên đời sống cá nhân của người dân, và bắt đầu giai đoạn chuyển tiếp của nền kinh tế theo kế hoạch của Trung Quốc sang một hình thức kinh tế hỗn hợp.
Những người ủng hộ cải cách kinh tế, có vẻ là giới trung lưu Trung Quốc và những nhà quan sát phương Tây thuộc cánh trung tả tới cánh hữu, hướng đến sự phát triển nhanh chóng những lĩnh vực kinh tế tiêu thụ và xuất khẩu hàng hoá, hình thành nên một giai cấp trung lưu (chủ yếu nằm ở các thành phố ven biển nơi tập trung phần lớn các ngành công nghiệp) hiện nay chiếm đến 15% dân số, có mức sống cao hơn (thể hiện ở sự tăng trưởng ngoạn mục GDP trên đầu người, mức chi cho hàng tiêu dùng, tuổi thọ, tỷ lệ biết chữ, và tổng sản lượng lương thực) và quyền con người cũng như tự do nhiều hơn cho toàn dân Trung Quốc.
Những người phê phán cải cách kinh tế, có lẽ là giới nông dân và công nhân Trung Quốc và những nhà quan sát phương Tây thuộc cánh tả, cho rằng cải cách kinh tế đã dẫn tới sự chênh lệch giàu nghèo, ô nhiễm môi trường, tham nhũng tràn lan, thất nghiệp gia tăng kết hợp với việc sa thải hàng loạt ở những công ty quốc doanh kém hiệu quả và đưa đến những ảnh hưởng văn hóa không hay. Do vậy họ cho rằng văn hóa Trung Quốc đã bị làm hỏng, những người nghèo đã trở thành một giai cấp thấp đông đảo không còn chút hy vọng, và sự ổn định xã hội của Trung Quốc sẽ bị đe dọa.
Mặc dù có sự nhượng bộ đối với chủ nghĩa tư bản, Đảng cộng sản Trung Quốc vẫn nắm quyền và duy trì những chính sách phản ứng đối với những nhóm họ cảm thấy có sự đe dọa, như nhóm Pháp Luân Công và phong trào đòi độc lập ở Tây Tạng. Những người ủng hộ các chính sách này chủ yếu là nông dân và một nhóm nhỏ thị dân Trung Quốc, cũng như một số ít các quan sát viên, cho là những chính sách này giúp quy trì ổn định một xã hội bị chia rẽ bởi ngăn cách và ganh đua giai cấp, một xã hội không có truyền thống về ý thức tự giác công dân và luật lệ hạn chế. Những người chống đối, có lẽ bao gồm một thiểu số người Trung Quốc, những người bất đồng chính kiến Trung Quốc sống ở nước ngoài, nhiều người ở Hồng Kông hay Đài Loan, các dân tộc thiểu số như Tây Tạng, và hầu hết những người phương Tây, cho rằng những chính sách này vi phạm nghiêm trọng những chuẩn mực về nhân quyền, đồng thời cũng cho rằng việc này hình thành nên một nhà nước công an dẫn tới một bầu không khí lo âu.
Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã thông qua hiến pháp mới vào ngày 4 tháng 12 năm 1982.
Chính trị
- Bài chính: Chính
trị của Trung Hoa
- Phần này viét về chính trị của Hoa Lục. Xem thêm: Chính trị của Cộng Hòa Trung Hoa (Đài Loan), Chính trị của Hồng Kông, và Chính trị của Macao.
Trong ngôn ngữ của khoa học chính trị, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH) đã là một quốc gia cộng sản trong thế kỷ thứ 20, và nó vẫn còn được xem là một quốc gia cộng sản bởi nhiều, nếu không nói là tất cả, các nhà khoa học chính trị. Các cố gắng để mô tả đặc tính tự nhiên về cấu trúc chính trị của Trung Hoa đều thất bại. Chính quyền này đã được miêu tả một cách khác nhau như là một chủ nghĩa độc tài, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội, và ngay cả các kết hợp của các danh từ trên. Nó cùng được mô tả như là một chính quyền cộng sản.
Chính phủ CHNDTH được lãnh đạo bởi Đảng Cộng sản Trung Hoa. Trong khi có một vài hướng vận động cho sự tự do chính trị, thì trong các kì bầu cử ở cấp làng xã và các nghị viện lại có chỉ dấu của sự chỉ định từng thời từng lúc. Đảng vẫn giữ quyền tiến cử các chức vụ trong chính quyền. Trong khi đó, nhà nước dùng các phương pháp độc quyền để ứng xử với các thách đố đối với sự cai trị của nó, đồng thời, lại tìm cách làm giảm sự bất đồng (chính kiến) bằng cách nâng cao nền kinh tế, cho phép biểu thị các phàn nàn cá nhân, và có các đối đãi khoan dung với những ngưòi biểu thị sự bất đồng, nếu như họ được chính quyền tin là không có các tổ chức đứng sau.
Hạn chế của ngôn luận chính trị là một thông lệ, và Đảng Cộng sản đàn áp thô bạo các sự chống đối và các tổ chức mà xét thấy đó có thể làm cho quyền năng của nó bị đe dọa như trường hợp Biểu tình ở Thiên An Môn. Mặc dù vậy, có một số kiềm chế giới hạn mà Đảng muốn đạt tới. Các phương tiện truyền thông dần dà chủ động tăng cường việc công khai hóa các vấn đề xã hội, tệ nạn tham nhũng, và sự tiếu hiệu quả của chính quyền cấp thấp. Đảng này cũng đã không thành công lắm trong việc chỉ đạo thông tin, và trong nhiều trường hợp phải thay đổi chính sách để trả lời cho các sai sót. Mặc dù sự chống đối có tổ chức thì không được tha thứ, các cuộc biểu tình do các vấn đề về địa phương thường được khoan dung ngày càng nhiều.
Sự ủng hộ của Đảng Cộng sản Trung Hoa trong dân chúng thì chưa rõ, bởi vì không có tuyển cử quốc gia, và các đối thoại riêng tư, các tin đồn thường mang lại những quan điểm mâu thuẩn. Nhiều người tại Trung Hoa cho thấy sự hài lòng về vai trò của chính quyền trong việc ổn định xã hội cho phép tăng trưởng kinh tế liên tục. Những sự lo ngại về chính trị trong Trung Quốc bao gồm khoảng cách giàu và nghèo ngày càng lớn, sự lớn lên của nhiều bất đồng, cùng với sự lan tràn tham nhũng trong giới lãnh đạo.
Có một số dảng phái khác trong CHNDTH. Đảng Cộng Sản hợp tác với các đảng này thông qua các hội nghị đặc biệt, gọi là Hội đồng Tư vấn Chính trị Nhân dân Trung Hoa (HĐTVCTNDTH) lãnh đạo bởi Đảng Cộng sản Trung Hoa. Mặc dù vậy, hiệu quả các đảng phái này trong chính quyền còn rất yếu. Với vai trò cố vấn không có quyền lực, HĐTVCTNDTH tương tự như một con mắt bên ngoài, mặc dù có các nhân viên của hội đồng này hầu hết là nằm trong các bộ ngành của chính quyền.
Quan hệ ngoại giao
Bài chính: Quan hệ ngoại giao của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có quan hệ ngoại giao với hầu hết các nước trên thế giới nào chấp nhận chủ quyền của Hoa Lục với Đài Loan và cắt đứt mọi liên hệ chính thức với chính phủ Cộng Hòa Trung Hoa như là một điều kiện tiên quyết. Nó cũng mạnh mẽ chống lại các cuộc thăm viếng nước ngoài của những người có chủ trương đòi Đài Loan độc lập như là Lý Đăng Huy và Trần Thủy Biển, cũng như là Dalai Lama thứ 14.
Từ 1971, CHNDTH đã thay thế Cộng Hòa Trung Hoa trong vai trò đại diện của nước "Trung Hoa" ở Liên Hiệp Quốc và trở thành một trong năm thành viên của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. (Xem Trung Hoa và Liện Hiệp Quốc).
Đã có một thời gian Trung Quốc là một thành viên của Khối phi liên kết, và nay vẫn còn ở vị trí quan sát viên. Nhiều chính sách ngoại giao dựa trên khái niệm Sự tăng tiến hòa bình của Trung Hoa.
Quan hệ Hoa-Mỹ đã gặp trở ngại nhiều lần trong một vài thập niên. Tháng 5 năm 1999, một oanh tạc cơ B-2 đã thả ba trái bom, loại đuợc hướng dẫn của vệ tinh nhân tạo nặng 2000 pound vào ngay lãnh sự quán của Trung Quốc ở Belgrade trong thời gian chiến tranh Kosovo, làm chết ba nhân viên. Hoa Kỳ đã nhấn mạnh rằng đó là một lỗi lầm, cho rằng tài liệu dùng trong việc lựa chọn tòa nhà làm mục tiêu tấn công đã dựa trên bản đồ đã quá cũ được in ra bởi Cơ quan Ảnh và Bản đồ Quốc gia (tên mới của nó là Cơ quan Tình báo Địa dư Quốc gia. Họ đã nhận lầm toà nhà này là một cơ quan quân sự của chính quyền Yugoslav. Mặc dù Mỹ đã gửi đại diện ngoại giao đặc biệt tới Trung Quốc để giải thích lỗi lầm, nhưng chính quyền Trung Quốc vẩn tiếp tục cho rằng đó là hành động có chủ ý. Trong năm 2001, chiếc khu trục cơ EP-3, loại cánh quạt, hoạt động tình báo trong vùng hải phân quốc tế gần bờ biển Trung Quốc đã bị "phát hiện" bởi phản lực cơ khu trục của Trung Hoa dẫn đến tai nạn va chạm và người phi công Trung Hoa đã bị chết. Chiếc máy bay Hoa Kỳ bị hư hại buộc phải đáp khẩn cấp xuống đảo Hải Nam của Trung Hoa, tại đó, 24 thành viên phi hành đoàn Hoa Kỳ đã bị bắt và các thiết bị dò thám đã bị tịch thu. Báo cáo COX trong năm 1999 phát hiện rằng các bí mật về hạt nhân của Mỹ bị Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hoạt động gián điệp đánh cắp trong nhiều thập niên.
Ngoài vấn đề Đài Loan, Trung Quốc đã có những tranh cãi khác về lãnh thổ như là:
- Aksai Chin, chiếm giữ bởi Trung Quốc, nhưng Ấn Độ tuyên bố là có chủ quyền tại đó.
- Quần đảo Hoàng Sa, chiếm giữ bởi Trung Quốc, nhưng Việt Nam và Trung Hoa Dân Quốc tuyên bố là có chủ quyền.
- Quần đảo Trường Sa, tranh chấp giữa Trung Quốc và nhiều nước trong vùng Đông Nam Á.
- Quần đảo Diaoyu/Quần đảo Senkaku, chiếm giữ bởi Nhật, nhưng Trung Quốc và Trung Hoa Dân Quốc tuyên bố là có chủ quyền.
- Arunachal Pradesh, hay Nam Tây Tạng, chiếm giữ bởi Ấn Độ, nhưng Trung Quốc tuyên bố là có chủ quyền.
Xem thêm: Tình hình chính trị của Đài Loan
Phân chia hành chính
Bài chính: Phân cấp hành chính ở Trung Hoa
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa kiểm soát hơn 22 tỉnh (省); chính quyền Trung Quốc xem Đài Loan như là tỉnh thứ 23 của họ. (Xem Tình trạng chính trị của Đài Loan). Cùng với các tỉnh này còn có 5 vùng tự trị (&#自治区) tập trung các sắc dân thiểu số, 4 thành phố lớn nhất Trung Hoa và hai khu vực hành chánh đặc biệt (Macao và Hồng kông) SAR (特别行政区) trực tiếp cai quản bởi CHNDTH.
Số 22 tỉnh, 5 khu tự trị và 4 thành phố lớn thường được gọi chung như là Hoa Lục, ngoại trừ Hong Kong và Đài Loan.
Sau đây là danh sách các phân chia hành chánh của các nơi dưới sự kiểm soát của CHNDTH
|
Tỉnh (23)
|
Địa lý
Bài chính: Địa lý Trung Quốc
CHNDTH là nước lớn thứ tư trên thế giới và có rất nhiều dạng địa dư khác nhau. Phía Đông, dọc theo bờ của sông Biển Vàng và Biển Đông Trung Quốc thì mật độ dân cư rất dày đặt trên các bình nguyên phù sa; dọc theo bờ Biển Nam Trung Quốc có nhiều núi non và miền Nam TRung Hoa thì hầu hết là đồi và các dãy núi thấp. Trong vùng trung tâm của phía Đông có nhiều châu thổ của hai con sông chính Hoàng Hà và Dương Tử. Những con sông lớn khác gồm có Vị Thủy, Mê Kông, Brahmaputra và Amur.
Phía Tây, phần chính là các dãy núi, đáng lưu ý nhất là dãy Hy Mã Lạp Sơn với đỉnh cao nhất ca Trung Hoa Everest, và các cao nguyên ở vị trí cao mà có đặc tính khô cằn của sa mạc như là Takla-Makan và sa mạc Gobi. Do hạn hán kéo dài và có lẽ kỹ thuật canh tác nông nghiệp nghèo nàn, các cơn bão cát đã trở thành thường xuyên trong mùa xuân ở Trung Hoa. Theo cơ quan Bảo vệ môi trường Trung Quốc, sa mạc Gobi đang mở rộng và trở thành nguồn chính của những cơn bão cát ảnh hưởng đến Trung Hoa và các phần khác của châu Á như là Triều Tiên và Nhật.
Kinh tế
Main article: Economy of China
The People's Republic of China characterizes its economy as a socialist market economy with Chinese characteristics. Beginning in late 1978 the Chinese leadership has been reforming the economy from a Soviet-style centrally planned economy to a more market-oriented economy but still within a rigid political framework of Communist Party control. To this end the authorities have switched to a system of household responsibility in agriculture in place of the old collectivization, increased the authority of local officials and plant managers in industry, permitted a wide variety of small-scale enterprise in services and light manufacturing, and opened the economy to increased foreign trade and investment. This has resulted in mainland China's shift from a command economy to a mixed economy.
The government has emphasized raising personal income and consumption and introducing new management systems to help increase productivity. The government also has focused on foreign trade as a major vehicle for economic growth, for which purpose it set up over 2000 Special Economic Zones (SEZ) where investment laws are relaxed in order to attract foreign capital. The result has been a quadrupling of GDP since 1978. In 1999, with its 1.25 billion people and a GDP of just $3,800 per capita, the PRC became the sixth largest economy in the world by exchange rate and third largest in the world after the European Union and the U.S. by purchasing power. The average annual income of a Chinese worker is $1,300. Chinese economic development is believed to be among the fastest in the world, about 7-8% per year according to Chinese government statistics. Mainland China is now a member of the World Trade Organization.
Mainland China has a reputation as being a low-cost manufacturer, particularly due to abundant cheap labour. A worker at a Chinese factory typically costs a company 50 cents to $1 per hour (average $0.86), compared with $2 to $2.50 per hour in Mexico and $8.50 to more than $20 for the U.S. By the end of 2001, the average electricity price in Guangdong Province was 0.72 yuan (9 US cents) per kilowatt hour, much higher than the average level on the Chinese mainland of 0.368 yuan (4 US cents). The PRC officially abolished direct budgetary outlays for exports on Jan. 1, 1991. Nonetheless, it is widely believed that many of mainland China's manufactured exports receive other types of export subsidies. Other forms of export subsidies involve guaranteed provision of energy, raw materials or labor supplies. Exports of some agricultural products, such as corn and cotton, still benefit from direct export subsidies. However, the PRC substantially reduced the level of corn export subsidies in 1999 and 2000. Preferential tax incentives are another example of export subsidies. China is attempting to harmonize the system of taxes and duties it imposes on enterprises, domestic and foreign alike. As a result, preferential tax and duty policies that benefit exporters in special economic zones and coastal cities have been targeted for revision. Chinese exports to the United States were $125 billion in 2002; American exports to China were $19 billion. The discrepancy is largely attributable to the fact that the U.S. consumes far more than it produces and that Chinese people paid low wages cannot afford the US's expensive products. Another factor cited by some people is the unfavorable exchange rate between the Chinese yuan and the United States dollar to which it is pegged. Chinese exports to the United States are rising 20% per annum, much faster than U.S. exports to China. [1], [2]
In 2003, China's GDP in terms of purchasing power parity reached $6.4 trillion, becoming the second-largest in the world. Using conventional measurements it is ranked 7th. With its large population this still gives an average GNP per person of only an estimated $5,000, about 1/7th that of the United States. The officially reported growth rate for 2003 was 9.1%. It was estimated by the CIA that in 2002 agriculture accounted for 14.5% of China's GNP, industry and construction for 51.7% and services for 33.8%. Average rural income is about one third that of urban areas, a gap which has widened in recent decades.
Dân số
Trung quốc là nước có dân số lớn nhất thế giới khoảng 1.3 tỉ người. Dân tộc chủ yếu là người Hán. Là một nước đông dân, chính phủ có chính sách hạn chế phát triển dân số. Các vùng có mật độ dân cư đông nhất là: Đồng bằng sông Hoàng hà, Trường giang, Châu giang và vùng đông bắc. Vùng miền núi phía tây gồm Tây tạng, Tân cương ... dân cư thưa thớt
Y tế
Bài chính: Sức khỏe công cộng ở Trung Quốc và Môi trường của Trung Quốc
CHNDTH đã gặp nhiều vấn đề sức khoẻ công cộng: Các vấn đề về sức khỏe này liên quan đến không khí cà nước bị ô nhiễm, sự gia tăng của bệnh dịch AIDS và hàng trăm triệu người hút thuốc lá. Bệnh dịch HIV, lại được chịu thêm một cách truyền nhiễm khác là qua con đường truyền và tiếp máu thiếu vệ sinh ở các vùng thông quê trong quá khứ. Vấn đề thuốc lá thì phức tạp do sự tập trung của việc độc quyền cung cấp thuốc lá từ chính quyền. Chính quyền thì lại phụ thuộc vào thu nhập trên việc bán thuốc lá này. Do đó, dường như chính phủ lưỡng lự với trách nhiệm của mình so sánh với các vấn đề sức khỏe công cộng khác.
Viên gan B là một bệnh dịch ở Hoa lục, Phần lớn dân chúng thường tiếp xúc với bệnh, có khoảng 10% dân là bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Thường thì hư gan hay ung thư gan là một nguyên nhân tử vong phổ biến ở Trung Hoa. Một chương trình khởi động năm 2002 dự định trong vòng 5 năm sẽ chủng ngừa cho tất cả trẻ sơ sinh trong Hoa Lục.
Khoa học và kỹ thuật
Bài chính: Khoa học và Kỹ Thuật Trung Quốc
Ngoài những bùng nổ về văn hóa đề cập trên, những phát minh kỹ thuật của Trung Quốc bao gồm:
- La bàn
- Khuôn in / Công nghệ in
- Giấy
- Bàn tính
- Thuốc súng
- Cung tên
- Móng ngựa
- Sơn mài
- Bánh lái
- Địa chấn ký
- Sành sứ
- Tiền giấy
Những địa hạc nghiên cứu kỹ thuật khác:
- Toán học: Các ứng dụng toán học trong truyền thống Trung quốc là kiến trúc và địa lý. Sp^' π đã dược tính tù thế kỷ thứ 5 bởi nhà toán học Zu Chongzhi chính xác đến số thứ 7. Hệ thập phân đã được dùng ở Trung Quốc từ thế kỷ 14 TCN. Tam giác Pascal được tìm ra bởi nhà toán học Liu Ju-Hsieh tư lâu trước khi Pascal raq đời.
- Sinh học: Các nghiên cứu sinh học đã rất mạnh, và các chứng liệu lịch sử vẩn còng dùng được cho đến ngày nay như là dược thảo của các cây thuốc.
- Y học: Y Học Trung Quốc và ngoại khoa đã phát triển cao ở các thời điểm khác nhau trong lịch sử, và nhiều lãnh vực vẩn còn được xem là có tính sáng kiến. Chúng tiếp tục giữ vai trò lớn mạnh trong cộng đồng y học quốc tế, và cũng đã đạt được sự công nhận của Tây Phương trong vài thập niên gần đây như là các trị liệu bổ xung và thay thế. Một thí dụ là khoa châm cứu, mặc dù nó đã là đề tài tranh luận trong vài năm. Mặc dù vậy, khoa khám nghiệm tử thi đã không được chấp nhận (ở Trung Quốc), vì sự tin tưởng chung rằng xác chết không nên bị xâm phạm. Mặc dù vậy, nhiều bác sĩ đã tăng cuờng sự hiểu biết về giải phẩu học bằng cách vi phạm lòng tin này.
- Thuật giả kim đã là hóa học Lão giáo rất khác với hoá hiện đại.
- Thiên văn Trung Quốc và các chòm sao đã thường được dùng cho bói toán.
- Các phát minh quân sự bao gồm cung tên, móng ngựa, hơi độc, hơi cay (làm từ bột chanh), các bản đồ giải vây dùng cho kế hoạch đánh nhau, diều giấy, đèn lồng, tên lửa, thuốc súng, thuốc nổ, các dạng sơ khai của súng ngắn, và súng thần công.
15 tháng 10 năm 2003 xử dụng tên lửa Trường Chinh 2F và phi thuyền Thần Châu 5, CHNDTH đã trở thành nước thứ 3 trên thế giới gửi người vào không gian bằng khả năng riêng của mình.
Một số chuyên gia cho rằng phi thuyền Thần Châu đạc cơ sở trên phi thuyền Soyua của Nga. Việc thắng lợi này của Trung Quốc sẽ dấy lên một cuộc chạy đua không gian mới.
Văn hóa
Main article: Culture of China Far deeper than the formal trends of common values in Chinese culture is found with simple plant known as tea. It is an essence discovered by the simple farmers while trying to enhance their tasteless water. Tea is found all over scattered in the many parts of China. Without tea, there will not be any real roots to the real cause of the Chinese Culture. China's traditional values were derived from the orthodox version of Confucianism, which was taught in schools and was even part of imperial civil service examinations. However, the term Confucianism is somewhat problematic in that the system of thought which reached it high-water mark in Qing Dynasty imperial China was in fact composed of several strains of thought, including Legalism, which in many ways departed from the original spirit of Confucianism; indeed by the height of imperial China, the right of the individual ethical conscience and the democratic right of criticism bad government and demanding change had largely been prohibited by "orthodox" thinkers. The leaders who directed the efforts to change Chinese society after the establishment of the People's Republic of China in 1949 were raised in the old society and had been marked with its values. Although they were conscious revolutionaries, they had no intention of transforming Chinese culture totally. As practical administrators, PRC leaders sought to change some traditional aspects, such as rural land tenure and education, while preserving others, such as the family structure. Indeed, many observers believe that the Communist period following 1949 is very much in continuity with traditional Chinese history, rather than revolutionary--much like before, the masses accepted the views of the ruling party without much protest. The new government was seen as having who had assumed the Mandate of Heaven, taking over from the old regime and establishing a new dynasty. Just as in the imperial age, the ruler (such as Mao Zedong) was revered and generally seen as without fault and worthy of praise. Change in Chinese society, therefore, has been less than total and consistent than claimed by official spokesmen. At various times in the history of the PRC, many aspects of traditional Chinese culture including art, literature, linguistic forms, to name a few, have been sought by the regime or prominent movements (such as during the Cultural Revolution by the Red Guards) as regressive and harmful, yet as time passes, much of traditional Chinese culture has been accepted by the people and regime as an integral part of Chinese society; indeed, Chinese national policy often emphasizes these as being important in forming a Chinese national identity, and over time many traditional forms have been put to new uses to support the new regime.
- Chinese art
- Chinese cuisine
- Chinese language
- Chinese written language
- List of famous Chinese people
- Music of China
- Religion in China
- Holidays in the People's Republic of China
Các chủ đề khác
Main article: List of China-related topics
- Chinese law
- Education in China
- Communications in China
- Environment of China
- Human rights in China
- Science and technology in China
- Police in China
- Transportation in China
- Railways in China
- Nationalities of China
Tham khảo
Liên kết bên ngoài
- http://nguoivienxu.vietnamnet.vn/trenduongphattrien/2004/09/265524/
- China.org.cn – Website chính của Trung Quốc bằng tiếng Anh
- Tin tức Trung Quốc
- Chinese politics: New York Times (cần đăng ký)
- China in red – PBS: Frontline
- P.R.C. – People's Republic of China Guide
- Go Taikonauts! – Trang Web của một người dân Trung Quốc về chương trình vũ trụ Trung Quốc
- Bài đọc về chương trình vũ trụ của Trung Quốc
| Các nước ở Đông Á |
| Trung
Quốc (CHND) | Nhật Bản | Bắc
Triều Tiên | Hàn
Quốc | Đài
Loan (THDQ) Các vùng tự trị đặc biệt: Hồng Kông | Ma Cao |
| Các nước ở Trung Á |
|---|
|
Trung Quốc (CHND) (Tân Cương) | Kazakhstan | Kyrgyzstan | Mông Cổ | Tajikistan | Turkmenistan | Uzbekistan |
vi:Trung Quốc





