| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Chuyện
vui bên lề cuộc bút chiến thơ mới và thơ cũ
Năm
1932 được xem như cái mốc của phong trào thơ mới
khi cụ Phan Khôi "trình chánh giữa làng thơ"
bài thơ mới đầu tiên Tình già đăng trên báo Phụ
nữ tân văn số 122 ngày 10/3/1932 làm xôn xao dư
luận. Thế là bùng lên một phong trào chống đối thơ
mới từ những nhà cựu học.

Từ trái sang phải: Xuân Diệu, Thế Lữ, Nhất Linh,
Khái Hưng thời Tự Lực Văn Đoàn.
Điều đáng chú ý là cụ Phan Khôi (1887-1959) - cháu
ngoại của cụ Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu - vốn xuất
thân là nhà cựu học, đã từng đỗ tú tài chữ Hán năm
18 tuổi nhưng lại cổ vũ cho phong trào thơ mới.
Năm 1928, trên Đông Pháp thời báo, cụ Phan Khôi
đã dám táo bạo chê luật thơ cũ của ta la trói buộc,
tù hãm. Sau khi bài thơ Tình già xuất hiện trên
báo, phái thơ cũ phản ứng mạnh mẽ. Thi sĩ Tùng Thành
viết bài thơ Nhàn ngâm đả kích nặng nề:
"Trách bác Phan Khôi khéo rắc rối,/ Noi
gương Hồ Thích (1) làm thơ mới/ Câu dài, câu ngắn
chẳng ra sao,/ Vần đụp, vần đơn nghe thật thối,/
Hăng hái, Thị Kiêm (2) diễn thuyết khen,/ Nhiệt
thành, Thế Lữ lao công mãi./ Phải chăng muốn diễn
ý tân kỳ?/ Hay tại làm thơ cũ kém giỏi?"
Phan
Khôi.
Thật ra không phải Phan tiên sinh làm thơ cũ kém
giỏi, thơ Đường của cụ cũng rất hay (như bài Ngẫu
cảm, Viếng mộ ông Lê Chấu) nhưng vì cụ không muốn
gò bó trong phép làm thơ nên mới đề xướng ra cách
làm thơ mới.
Sau Phan Khôi, hàng loạt nhà thơ mới có tài bắt
đầu xuất hiện trên thi đàn làm cho vị trí của thơ
mới ngày càng vững: Thế Lữ (tức Lê Ta), Lưu Trọng
Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Huy Thông, Nguyễn Nhược
Pháp... Trước tình hình ấy, phái thơ cũ không tiếc
lời chỉ trích, chê bai thơ mới:
"Nghĩa lý vơ vơ rồi vẩn vẩn,/ Thanh âm
ngẩn ngẩn lại ngơ ngơ./ So với Á học như dưa đắng,/
Sánh với Âu văn tựa mít xơ..."
Họ cho rằng những người làm thơ mới đều bất tài,
không làm nổi thơ luật nên mới phải làm thơ mới,
là một loại thơ dễ dãi về kỹ thuật, đó là những
người chẳng hiểu gì về thơ cả:
"Lạy bác xin đừng nói đến thi,/ Nghĩa
thi chưa hiểu, hãy im đi".
và họ gọi những nhà thơ mới là bọn mù và dốt:
"Chẳng khác anh mù lại nói mơ,/ Chẳng
qua một bọn dốt làm thơ".
(Những bông hoa trái mùa của Tường Vân và Phi Vân)
Dần dần, báo chí bị lôi vào cuộc và hình thành
hai phe rõ rệt. Phe bênh vực thơ cũ có các báo:
An Nam tạp chí, Văn học tạp chí, Văn học tuần san,
Công luận, Tiếng dân, Tin văn... Phe bênh vực thơ
mới có: Phong hoá, Ngày nay, Phụ nữ tân văn, Tiểu
thuyết thứ bảy, Loa, Hà Nội báo..., trong số này,
báo Phong hoá là "hùng hổ" nhất. Và nhóm
Tự lực văn đoàn vốn chủ trương theo mới dĩ nhiên
đứng vào hàng ngũ của những nhà thơ mới.
Tản Đà lúc đầu rất thận trọng, có ý muốn đứng ngoài.
Tuy chẳng ưa gì thơ mới nhưng ông không để cơ quan
ngôn luận của mình là tờ An Nam tạp chí tấn công
thơ mới. Mãi đến cuối năm 1932, thấy báo Phong hoá
làm quá, ông mới cho đăng lên báo An Nam tạp chí
số 6 một bài thơ Ông Tản Đà nhắn bạn Phong hoá (Tửu
nhập thi xuất) nhưng tuyệt nhiên không đề cập gì
đến thơ mới cả:
"Mấy lời nhắn bảo anh Phong hoá,/ Báo
đến như anh thật láo quá!/ Từ tháng đến năm không
ngớt mồm,/ Sang năm Quí Dậu (1993) phải kiếm khoá./
Ông nỉnh ông ninh có liệu mà.../ Tái tứ tái tam
đừng trách nhá!/ Chút tình đồng nghiệp bảo cho nhau,/
Nhờ gió thổi đi mong cảm hoá".
Gặp dịp tốt, lập tức báo Phong hoá số 28 (30/12/1932)
phản ứng ngay bằng cách đăng bài hoạ nguyên vận
để đả kích Tản Đà:
"Anh lên giọng rượu khuyên Phong hoá,/
Sặc sụa hơi men khó ngửi quá./ Đã dạy bao lần, tai
chẳng nghe,/ Hẳn còn nhiều phen mồm bị khoá./ Thân
mềm chưa chắc đứng ngay đâu,/ Lưỡi ngắn thì nên
co lại nhá!/ Phong hoá mà không hoá nổi anh,/ Tuý
nhân quả thật là nan hoá!".
Sau bài thơ hoạ nguyên vận trên đây, báo Phong hoá
còn đăng nhiều bài đả kích Tản Đà vì coi Tản Đà
là lãnh tụ của phái thơ cũ như bài Ông Hiếu với
thầy Nhan Hồi của Tứ Ly (Hoàng Đạo), bài thơ của
Vân Dương nói xỏ xiên Tản Đà, vở hài kịch Tuồng
cổ tân thời của Tứ Ly chế giễu không chỉ Tản Đà
mà cả các ông Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn
Tiến Lãng, Dương Bá Trạc, Nguyễn Công Tiến, Trịnh
Đình Rư, Lê Công Đắc... là những nhà văn nhà thơ
cũ.
Sau Tản Đà, đến lượt Á Nam Trần Tuấn Khải, một
nhà thơ lừng danh thời trước, cũng bị Việt Sinh
lôi ra làm bia chế giễu. Việt Sinh viết:
"Trong sách Chơi xuân của Nam ký, ông Á Nam
vì xuân làm bài thơ xuân rất hay, rất mới: "Một
đời dược mấy gang tay,/ Một năm được mấy mươi ngày
là xuân./ Gặp xuân ta phải chơi xuân,/ Kẻo mai hạ
tới là xuân không chờ".
Hay tuyệt! Câu đầu cả ý lẫn chữ là câu sáo cũ.
Câu thứ hai cũng hay như câu thứ nhất. Câu thứ ba
cũng hay như câu thứ hai. Còn câu thứ tư không hay
thì là của ông Á Nam!".
Năm 1934, khi cuộc bút chiến đã đến hồi gay gắt,
trên báo Phụ nữ tân văn số xuân năm ấy, Tản Đà có
một bài "hài đàm" nói móc Phan Khôi vốn
là người đã từng "đụng độ" với ông mấy
lần về vụ Nho giáo, vụ "Cái cười của con Rồng
cháu Tiên". Bài hài đàm mở đầu bằng một đoạn
văn xuôi rồi kết thúc bằng một bài "thơ mới":
"Đờn là đờn/ Thơ là thơ/ Thơ thời còn
có chữ, đờn có tơ/ Nếu không phá cách, vứt điệu
luật/ Khó cho thiên hạ đến bao giờ/ Bá Nha xa/ Lý
Bạch khuất/ Thơ có họ Phan, đờn họ Quách/ Thơ có
chữ/ Đờn có tơ/ Đờn thì ngớ ngẩn, thơ vẩn vơ/ Tài
tử văn nhân thường rứa rứa/ Bút huê ngao ngán bận
đề thơ".
Không thấy Phan Khôi trả lời. Điều đáng chú ý là
tờ Phụ nữ tân văn trước nay vẫn đứng về phe bệnh
vực thơ mới, đã từng đăng bài thơ Tình già của Phan
Khôi mà nay lại đăng bài của Tản Đà móc Phan Khôi.
Xuân
Diệu.
Các nhà thơ mới thường hay chê các nhà thơ cũ ưa
dùng những từ ngữ và hình ảnh cũ kỹ sáo mòn: hễ
mùa xuân thì trăm hoa đua nở, mùa hạ có tiếng cuốc
tiếng ve, mùa thu thì sương sa gió thổi, lá ngô
đồng rụng, mùa đông thì tuyết phủ, tuyết ngậm mặc
dù ở Việt Nam chẳng bao giờ có tuyết. Nhân Tản Đà
cho đăng bài Cảm thu, tiễn thu trong đó có những
chữ: gió thu hiu hắt, sương thu lạnh, lá thu rơi
rụng đầu ghềnh, cỏ vàng cây đỏ..., Tú Mỡ bèn làm
một bài hát nói khôi hài để chế giễu lối làm thơ
sai sự thực, trong đó có mấy câu:
"Cây tươi tốt, lá còn xanh ngắt,/ Bói
đâu ra lác đác ngô vàng./ Trên đường đi nóng dẫy
như rang,/ Cảnh tuyết phủ mơ màng thêm quái lạ!"
Trên báo Phong hoá số 31, Nhất Linh chế giễu thơ
của Phương Lang, một nhà thơ cũ:
"Vậy tôi chỉ nói đến bài thơ của ông Phương
Lang và xin chép lại bài thơ ấy ra đây lần nữa:
Mặt bẩn sao chưa lau?/ Con ra lấy cái thau./ Đổ
nước, mang khăn mặt,/ Mau!
Thơ như thế sao gọi là thơ được? Đó chỉ là mấy
câu sai con mà có vần. Nó cũng như thơ con cóc mà
thôi. Nhất Linh lại xin bắt chước ông Phương Lang
làm bài thơ theo lối ấy:
"Trông vào nồi, cơm hết/ May còn miếng
cháy giòn/ Ăn với cá kho mặn,/ Ngon!
(Lạc quan)
"Tay tôi mụn ghẻ đầy,/ May sao gặp thuốc
hay./ Bôi được một tuần lễ,/ Khỏi ngay!"
(Mừng khỏi bệnh)
Trên tờ Hà Nội báo ngày 19/2/1936 Lưu Trọng Lư
"nở một nụ cười kiêu hãnh" đăng bài thơ
thất ngôn sách hoạ chế giễu các nhà thơ cũ:
"Đôi lời nhắn nhủ bạn làng Nho,/ Thơ thẩn,
thẩn thơ, khéo thẫn thờ./ Nắn nót miễn sao nên bốn
vế,/ Chẳng thơ thì cũng cóc cần thơ!"
Không thấy ai hoạ lại, có lẽ hoặc là vì xem thường,
hoặc là vì tự ái.
Thế
Lữ.
Phong trào thơ mới lên rầm rộ, lấn át hẳn thơ cũ,
chiếm địa vị ưu thắng trên thi đàn. Nhưng bên cạnh
những bài thơ hay cũng có không ít những bài thơ
dở. Khái Hưng, một cột trụ của báo Phong hoá - tờ
báo nhiệt liệt bênh vực thơ mới - có bài đăng trên
báo này đả kích những người làm thơ mới quá dễ dãi
với mình, cho ra đời những đứa con thiếu tháng.
Sau khi vờ tự hỏi "làm thơ dễ hay khó?",
ông đã mỉa mai "chỉ độ vài giờ thôi" rồi
viết:
"Vì thế kỳ báo này/ Tôi lại/ Viết một
câu văn vui đại khái/ Cũng bằng thơ mới/ Nói thơ
tự do thì có lẽ phải hơn, vì cứ mỗi lần/ Gặp vần
là tôi tự do xuống dòng, bất kỳ câu ngắn/ Hay dài,
từ một đến mười hai chữ/ Như thế hẳn/ Chẳng khó
khăn gì/ Mà bỗng mình trở nên một nhà thi/ Sĩ/ Rồi
các nhà phê bình sẽ/ Tìm ra những cái hay của mình
và có lẽ/ Tôn bừa mình lên bậc thi hào/ Thì mình
cũng đành nhận chứ biết sao!"
Trong khi đó, nhà thơ Thế Lữ không tranh luận ồn
ào, chỉ cặm cụi làm thơ và cho ra đói những bài
thơ hay, có chất lượng rất cao như: Nhớ rừng, Tiếng
sáo Thiên Thai, Giây phút chạnh lòng..., xây dựng
một nền tảng vững chắc cho thơ mới.
* * *
Cuộc bút chiến ấy kéo dài đến năm 1936 thì nhạt
dần rồi tàn hẳn. Thơ mới nghiễm nhiên chiếm ưu thế
trên thi đàn rồi đi vào lớp học, đẩy lùi thơ cũ
vào dĩ vãng để nằm im dưới lớp bụi thời gian. Nhưng
khi thơ mới đã thắng thế rồi, người ta bắt đầu nghĩ
lại và cảm thấy ân hận về những điều đã làm trước
đó. Trước kia, ai nấy đều đổ xô vào mỉa mai, châm
biếm, chế giễu Tản Đà thì từ năm 1938, Tản Đà được
coi như vị thánh sống của làng thơ. Nhất là sau
khi Tản Đà từ trần (1939), người ta đua nhau viết
bài ca tụng ông như là người có công lớn đối với
nền thi ca của dân tộc. Và Hoài Thanh, khi viết
cuốn Thi nhân Việt Nam, đã kính cẩn đặt Tản Đà ở
đầu trang sách với những lời cung chiêu sang trọng.
Ngay cả nhóm Tự lực văn đoàn trước kia công kích
Tản Đà là thế mà nay cũng cho đăng nhiều bài của
Văn Bình, Xuân Diệu, Khái Hưng trên báo Ngày nay
ca tụng công lao và sự nghiệp văn chương của Tản
Đà. Tinh thần hoà giải ấy đã dần dần xoá đi sự hiềm
khích giữa hai phái thơ cũ và thơ mới.
Từ đó đến nay cũng đã ngót bảy mươi năm, thơ mới
ngày ấy nay đã trở thành thơ cũ. Một thời đại trong
thi ca đã khép lại, nhưng dư âm của những ngày sôi
động ấy hẳn sẽ còn vang vọng mãi trên thi đàn.
Huyền Viễm (Kiến thức ngày nay)
(1) Hồ Thích (1891-1962): nhà trí thức nổi tiếng
của Trung Hoa đã từng du học ở Mỹ và suốt đời nỗ
lực vận động cho nền tân văn học.
(2) Cô Nguyễn Thị Kiêm, một kiện tướng của nền
thơ mới, đã hai lần đăng đàn diễn thuyết để bênh
vực cho thơ mới tại Hội khuyến học Sài Gòn ngày
26/7/1933 và 9/1/1935.

|