Năm Nhâm Tý (1912) ấm Hiếu trượt thi Hương thành
Nam, cuối năm về nhà một người quen là ông anh Nguyễn
Tái Tích ở thành phố Nam Định. Ở đây ấm Hiếu đã
dệt nên tình cảm thơ mộng với một nữ sinh tiểu học
mới 13 tuổi. Vào ngày cuối cùng của năm Nhâm Tý,
ngày ba mươi tháng chạp vẫn được gọi là ba mươi
tết, nhà chủ về quê ăn tết, ấm Hiếu ở lại trông
nhà và một kỷ niệm đẹp đã diễn ra. Tản Đà thuật
lại:
“Trưa hôm ba mươi tết, nhà lan thanh vắng, xảy
một người bạn cũng ngụ cư ở láng giềng đến đây chơi,
13 tuổi, tóc dở lòa xòa buông quá vai. Nhân tắm
gội xong, thay quần áo sạch, cùng ra vườn sau hái
hoa đào. Một người trèo lên cây hái hoa đưa một
người đứng dưới cầm. Người nọ lên, người kia lại
xuống, khách địa tha hương, giai nhân tài tử, đầu
xanh mây biếc, người trắng hoa hồng, giời Nam ai
vẽ bức Thiên Thai mà mỗi bên bước đi một”. Dưới
bài ghi: “Nay kỷ niệm riêng một sự hái đào ấy là
trưa ngày hôm ba mươi tháng chạp năm Duy Tân thứ
6 (bạn đọc chú ý: tháng chạp ngày ba mươi là thuộc
Duy Tân thứ 6, còn tết lại là về năm Duy Tân thứ
7).
Ba mươi tết Kỷ Mùi (1919) nhà nhà náo nức mổ lợn
gói bánh đón tết Canh Thân, đầm ấm gia đình sum
họp một ngày cuối năm, Tản Đà lại đi ngược dòng
đời, ra đi từ làng quê Khê Thượng:
Chơi xuân kể lại hành trình
Ngày ba mươi tết hứng tình ra đi…
Để rồi lại đến với một tết tha hương:
Từ Bất Bạt qua Việt Trì
Còn năm Kỷ Tỵ còn thì tiết đông
Canh Thân ăn tết Thăng Long
Sang ngày mồng bốn vào trong Trung Kỳ.
Tết Thăng Long, Tản Đà ở nhà ông phán Nguyễn Văn
Xước ngõ Hồng Phúc, mồng bốn vào Trung Kỳ ăn tết
với Bùi Huy Tín chủ nhân nhà in Đắc Lập ở Huế. Ở
đây ta được thấy tính lãng tử của Tản Đà qua những
vần thơ tự họa:
Trời sinh ra bác Tản Đà
Quê hương thời có cửa nhà thời không.
Nửa đời Nam Bắc Tây Đông
Bạn bè sum họp, vợ chồng biệt ly…
Năm Bính Dần, An Nam Tạp chí ra số 1 (tháng 7/1926),
tòa báo đặt ở số nhà 52 phố Hàng Lọng (nay là đường
Lê Duẩn đoạn gần Cửa Nam). Sớm tinh mơ mồng một
đầu năm Đinh Mão (1927), ai đi qua đoạn đường này
đều phải ngước nhìn một lá cờ lớn màu vàng phấp
phới ở tầng gác hai, trên cờ có hai chữ An Nam to
màu trắng, hai chữ Tạp chí nhỏ ở dưới và một dấu
đỏ hình ấn vuông “Tản Đà” chữ to.
Cái lá cờ ấy có phần đóng góp của bà vợ Tản Đà.
Cả ngày ba mươi tết, bà tìm mua vải và cắt may theo
chỉ dẫn của đức ông chồng tính khí khác đời… Hai
chữ “An Nam” ông định múa bút viết đại tự… chữ quốc
ngữ nhưng bà bảo vải trắng cắt chữ rõ hơn. Lá cờ
được hoàn thành, nhà thơ bèn trải vải vàng lên bàn
ghế, lấy cái màu vàng hoàng đế trang trí căn phòng
nhỏ rồi mời vợ lên cùng đón giao thừa. Tiếng pháo
nổ vang cả phố “đón mới tiễn cũ”, riêng Tòa báo
An Nam không có pháo, cờ được treo lên, ông chủ
báo ngông có tiếng ngất ngưởng với be rượu, khai
bút mấy vần thơ:
Năm xưa tết nhất đã suông suồng!
Tết nhất năm nay lại quá tuồng!
Tiếng pháo nghe nhờ thiên hạ đốt
Cờ vàng dấu đỏ đế vương suông.
Lại là một đêm ba mươi tết tha hương, Tản Đà đón
giao thừa ở Sài Gòn. Đó là vào năm Mậu Thìn (1928),
Tản Đà cùng Ngô Tất Tố phụ trách trang “văn chương”
trên tờ Đông Pháp Thời Báo của Diệp Văn Kỳ. Vào
đêm giao thừa Mậu Thìn, Tản Đà có năm đồng bạc,
thuê xe lôcaxông (xe taxi) đón ông bạn Tùng Lâm
hết một đồng, đưa Ngô Tất Tố ba đồng tiêu tết, còn
lại đúng một đồng, mua một lít rượu ba cắc còn ba
cắc đưa Tùng Lâm mua thức nhắm. Tùng Lâm mua một
chai Mai Quế Lộ và một con gà quay. Khi trở về,
vì đứng xem một đám cãi cọ, Tùng Lâm bị cảnh sát
“hót” về bót. Tản Đà chờ Tùng Lâm, đúng hơn là chờ
thức nhắm, mãi không thấy về. Đồng hồ chỉ đúng mười
hai giờ đêm, Tản Đà mở rượu uống suông. Trong bót,
cũng giờ này, Tùng Lâm mở rượu Mai Quế Lộ nhắm với
gà quay. Sớm mồng một, Tùng Lâm được tha về, đến
nhà thấy ông bạn Tản Đà ngủ say bên hũ rượu rỗng,
Tùng Lâm đánh thức bạn dậy, kể chuyện bị bắt “vơ
đũa” cho bạn nghe rồi gõ chai đọc mấy câu thơ:
Cao hứng vì yêu bác Tản Đà
Một chai Quế Lộ một con gà.
Suốt đêm trừ tịch nằm trong bót
Nhớ lại buồn cười lúc tỉnh ra.
Tản Đà cũng gõ hũ rỗng, đọc mấy câu thơ Đái Thúc
Luân đời Đường:
Lũy quán thùy tương vấn
Cô đăng độc khả thân.
Nhất niên tương tận dạ
Vạn lý vị quy nhân.
(Ngậm ngùi quán vắng tanh
Đêm khuya một bóng với mình là hai.
Đêm này năm cũ bước qua
Mà người muôn dặm đường xa chưa về)