| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

NGÔ TẤT TỐ
Trong
Rừng Nho
Chương 1
Đêm ấy không có trăng.
Phố phường Hà Nội đã theo cảnh tượng trời đất,
biến thành một vật đen xì. Vũ trụ thu lại vùng ánh
sáng của mấy cây đình liệu. Gió bấc ào ào thổi.
Chín, mười ngọn lửa lớn bằng chín mười cái bịch,
hết thảy điên cuồng lồng phách như muốn lìa những
bó đuốc nứa, nhẩy vọt lên tầng mịt mù.
Quang cảnh trường thi hôm nay càng rộn ràng hơn
mấy hôm trước.
Dưới lớp ngói ống của nhà "thập đạo",
xiêm áo xen với cờ quạt, thấp thoáng hiện trước
bóng đèn lồng.
Trong những gian chòi canh lơ lửng gác ở lưng trời,
hiệu trống cái đi đôi với hiệu thanh la, thong thả
đưa những giọng oai hùng trịnh trọng. Ngoài dãy
phên nứa hùng vĩ như bức tường thành quây kín bốn
"vi" nền trường, đội lính trú phòng rầm
rập theo vó ngựa của viên giám trường đề điệu, tiếng
nhong nhóng của nhạc ngựa hóa lộn tiếng dình dình
của trống quân.
Trên nếp cửa tiền, một bức hoành biển dài dằng
dặc như chiếc thuyền thoi, nghênh ngang nằm gối
đầu vào đôi đồng trụ. Với bông hoa sen chỉnh chọe
kết ở chính giữa và đôi trái găng lủng lẳng treo
ở đôi đầu, làm "diềm" phủ trên mép biển
dường muốn phô vẻ thắm của tấm nhiễu điều. Với màu
sơn son lóng lánh in ánh lửa sáng choang: cái khung
chữ nhật, như có ý khoe nét vàng của bốn chữ "Tân
hưng thịnh điển."
Từ mặt tiền qua phía tả đến mặt hậu, cũng như từ
mặt hậu qua phía hữu đến mặt tiền, bốn cửa ở bốn
góc đều ngỏ thênh thang. Mấy cái khung bảng chứa
hàng mấy nghìn tên người cùng ngảnh cái mặt "rán
giấy" ra đường, như đương ngóng các thầy sĩ
tử. Mấy chiếc ghế tréo cao chín mười bậc cùng duỗi
bốn chân đứng cạnh các cửa, như đương đợi mấy ông
khảo quan.
Hai cửa của vi tả vi hữu ở đằng sau, cũng như hai
cửa của vi giáp vi ất ở đằng trước, toán lính kiểm
soát đã chực ngoài cửa bằng dáng bộ nghiêm trang.
Tấm áo nẹp xanh thân đỏ gọn gàng nấp dưới chiếc
nón dấu sơn quang dầu. Những sợi dây tòng của tay
thước khảm trai, bông bênh rủ trên miếng ban kiên
sạc sỡ.
Khoảng đầu canh ba, tiếng ồn ào tự nẻo xa xa đưa
lại, học trò các nơi tới tấp kéo đến cửa trường.
Gió bấc thổi càng dữ. Những cây đình liệu cháy
càng nỏ. Trên miếng đất giá lạnh của trời đông,
bóng người đông như đám hội.
Có người đến bảy tám mươi tuổi, mái tóc bạc phất
phơ xòa dưới nón sơn. Cũng có người mới độ mười
bốn, mười ba, hồng mao còn ngất nghểu ngóng trên
vành khăn nhiễu. Có người mặt non mơn mởn chỉ vào
trạc mười tám đôi mươi. Cũng có người râu dài lê
thê, ít ra phải năm sáu chục tuổi. Có người ra tuồng
kiết xác, cái thân gầy guộc co ro sưởi trong mảnh
áo đơn. Cũng có người rất mực phong lưu, áo bông
quấn sù sù, hàm răng vẫn run cầm cập. Có người hai
vai nặng trĩu, khuỷu tay còn đủ sức thích bên kia,
gạt bên nọ, len từ ngoài tít vào trong cùng. Cũng
có người cất cổ không lên, lều, chiếu đều bị lôi
xềnh xệch ở mặt đất. Vênh cái mặt dương dương tự
đắc, đó là người mới thi lần đầu.
Dúm trên trán những nét lo âu, ấy là người lao
đao trường ốc.
Đủ các nhân vật. Đủ các bộ dạng.
Đêm càng khuya, học trò kéo ra càng nhiều. Ai vào
vi nào, lật đật tìm đến cửa vi ấy. Dưới hàng vạn
nón chóp lố nhố đứng ở bốn cửa, hàng vạn con người
trang thức cùng một lối như nhau: sườn này cái chõng
tre và bộ gọng lều, sườn kia thì bó áo tơi và cuộn
áo lều hoặc một đôi chiếu cói, trên ngực quả bầu
be và chiếc ống quyển, dưới bụng thì cái yên mộc
hay cái tráp sơn.
Bấy nhiêu đồ vật nặng có, nhẹ có, lớn có, bé có,
dài có, ngắn có, hết thẩy xúm lại và đu lên cổ các
ông thư sinh.
Hình như trời bắt bao nhiêu ông cống, ông đồ, trước
khi bước lên đường công danh, đều phải tập làm anh
phu tải. Kẻ chen vào, người đẩy ra, kẻ du đi, người
kéo lại, dưới bóng lửa sáng, đám người bị dồn dập,
bị xô đẩy, cồn cộn như lớp sóng nước triều. Tiếng
gọi nhau, tiếng hỏi nhau, tiếng mắng nhau, tiếng
cãi nhau, tiếng lầm rầm, nói chuyện với nhau, các
thứ tiếng ấy hợp lại, thành một cái vọng ầm ầm,
bốn khu cửa trường giống như bốn cái chợ lớn.
Sang đầu canh tư, các cây đình liệu đều cháy già
một nửa. Tàn nứa đỏ ối theo ngọn gió bấc tản mác
bay khắp giữa trời. Rồi từ từ, nó rơi xuống đám
đầu người, xuống quãng đất không, xuống những nơi
xa tít, nếu nó không bị tắt ở bóng tối.
Trong nhà thập đạo, trống khẩu gióng, kiểng đồng,
nện đủ ba hồi chín tiếng, các bóng đèn đều bị lay
động, các ông quan trường cắt nhau mỗi người xuống
mỗi vi. Bốn ông ngự sử đem hết chức trách đàn hặc
lên bốn chòi canh. Hai ông phân khảo tiến ra cửa
hai vi tả hữu với cái quyền "nửa nội nửa ngoại.
Ông phó chủ khảo theo biển "phụng chỉ"
đến cửa vi ất. Còn cửa vi giáp, vẫn là phần ông
chánh chủ khảo trông nom.
Hai hàng đèn lồng lấp ló soi hai bên đường, một
đôi lọng vàng nghiêm chỉnh rước lá cờ "khâm
sai" đi đằng trước đường, ông chủ trường thi
và cái mũ cánh chuồn, cái hốt ngà voi, cái đai kim
tuyến, cái áo thủy ba, cái hia rát con bướm vàng
bằng bạc, khúm núm núp dưới bốn chiếc lọng xanh
chóp bạc, thong thả đi từ nhà thập đạo ra cửa trường.
Cũng như mấy ông phó khảo phân khảo ở các cửa kia.
Ông chánh chủ khảo vâng mệnh lệnh tôn nghiêm của
lá cờ vua ban, khoan thai bước lên mặt ghế tréo
và ngồi chỉnh choẹ vợi một chồng quyển thi của học
trò. Lọng vàng lọng xanh lại lần lượt làm theo phận
sự. Nghĩa là bốn cái lọng xanh cùng che vào ông
chủ khảo, hai cái lọng vàng thì che cho lá cờ "khâm
sai".
Tiếng ầm ầm ở khu đất của trường tự nhiên im bặt,
mấy nghìn con mắt đều đổ dồn vào viên đại thần đứng
đầu khảo quan.
Bỗng như phá bầu yên lặng: "Báo oán giả tiền
nhập! Báo ân giả thứ nhập! Sĩ từ thứ thứ nhập!"
- Dứt mấy tiếng loa chiếu lệ, ậm ọc ở trên chòi
canh. Người lính đứng cạnh ghế tréo của ông chủ
khảo theo miệng người lại phòng cầm sổ cũng đứng
chỗ ấy, bắc loa đọc tên họ học trò.
Một tiếng dạ bật lên trong đám đông.
Một người thiếu niên liều mạng lách qua "vòng
vây , đệ các đồ đạc kềnh càng đến khu đất trước
ông chủ khảo.
Toán lính kiểm soát bắt đầu làm việc.
Họ giở bỏ áo tơi và cuốn áo lều, họ dòm những cái
chõng, chân chõng, họ ghé vào ống đựng quyển và
quả bầu be đựng nước, họ lần giải lưng và vuốt các
gấu áo gấu quần, họ cởi tung cả bộ gọng lều, rồi
họ lục soát đến cái tráp sơn.
Ngoài một thoi mực, một cái nghiên, vài cái bút,
một cái dùi vở, một tập giấy bản và mấy cái bánh
giò, mấy cái bánh dầy, vài cái chả trâu, vài miếng
cơm nắm, vài miếng thịt rang, trong tráp không có
vật gì khả nghi.
Người thiếu niên ấy được phép lĩnh quyển thi của
người lại phòng, và tung tăng đi vào trong trường
với các đồ đạc lúc lích, vấn quanh vai quanh cổ.
Đến lượt người khác theo tiếng loa gọi tiến vào.
Người này cũng không có sách thạch bản hay văn
cũ chữ kiện chi hết, nhưng các đồ lặt vặt không
đựng bằng tráp mà đựng bằng yên, và trong cái yên
lại thêm một bộ bàn đèn thuốc phiện. Thuốc phiện
không phải vật bị cấm, người ấy cũng được lĩnh quyển
vào trường.
Người lính cầm loa lại gọi đến tên người nữa.
Cũng không có thứ gì gian lậu, nhưng ở trong tráp
người ấy lại có một dầm con. Thì ra ông có chứng
đi kiết, phải dùng thứ khí giới ấy để vùi cái bã
văn chương xuống nền lều, nếu khi làm văn chẳng
may bệnh phát.
Mang dầm vào trường không có tội gì. Người ấy được
qua cứa trường như hai người kia, sau khi đã nhận
quyển thi bỏ vào ống quyển.
Tên người khác nữa được nhắc lại trong miệng loa
đồng.
Các vật cần dùng của người này không khác gì của
mấy người trước. Riêng có thứ đồ đựng nước không
phải là quả bầu be mà là một cái lọ sành rộng miệng.
Ngạc nhiên, người lính kiểm soát thò que khoắng
dưới trôn lọ, tức thì ở trên mặt nước có vật tròn
tròn nổi lên.
Càng lấy làm lạ, người lính kia vội vớt vật ấy
ra bửa ra xem. Té ra một mớ giấy bản viết chữ nhỏ
hơn con kiến, người ta đã vo tròn lại và trát một
lượt sáp ong ở khắp chung quanh.
Của phi pháp liền bị tịch thu, và cái tội "mang
sách vào trường" tức khắc đưa học trò gian
ngoan ra khỏi nơi thi cử.
Người lại phòng, người lính cầm loa và bọn lính
kiểm soát lại tiếp tục làm việc như thường. Chừng
nửa canh năm, sương mù ở các cây đình liệu đã lui
xuống gần mặt đất, ánh sáng cũng biến ra sắc úa
vàng.
Đám người và đám lều chõng đã chuyển hết ba phần
tư vào trường, khu đất ngoài trường chỉ còn lơ thơ
vài trăm học trò, tiếng ồn ào dần dần êm dịu.
Mặt trời mọc, các cây đình liệu cũng vừa cháy hết,
vũ trụ đã khôi phục cảnh tượng xinh đẹp và mông
mênh của ban ngày.
Trong miếng đất giáp với cửa trường, một chàng
trai trẻ thơ thẩn đợi sự - khám xét của bọn lính
kiểm soát. Bộ mặt tuấn tú cố chọi vẻ kiều diễm với
ánh nắng buổi mai. Đôi mắt long lanh như muốn hút
cả sơn hà thành quách. Quần áo đồ đạc chàng ấy không
có thứ gì phạm cấm, chỉ duy cái ngực sao lại nở
nang mẩy lớn, hơi khác với ngực người thường.
Lục hết cái món linh tinh, cố nhiên bọn hạnh kiểm
soát không quên soát cái chỗ mà họ đã nghi ngờ đó.
Vừa thục tay vào lần trong áo chàng ta, thì người
lính ấy lập tức rút luôn tay ra, dáng bộ giẫy nẩy
giống như đụng phải nước nóng.
Những người gần đó hau háu nhìn chàng tuổi trẻ
bằng đôi mắt ngờ vực, có kẻ bảo chàng ấy giắt nhiều
sách vở giấy má trong mình, có kẻ lại đổ trong mình
chàng ta hẳn có hung khí hoặc phù chú chi đó.
- Bẩm quan lớn, người này không phải đàn ông.
Sau tiếng trình giật giọng của người lính kiểm soát,
ông chủ khảo trọ trẹ gắt gỏng:
- Sao mi hay Bẩm quan lớn, con thấy...
Rồi ngập ngừng, người lính như không dám nói nốt.
- Mi thấy cái chi?
Người lính lại ngập ngừng:
- Bẩm con thấy. . .
Sự thông minh của chủ khảo đã do sự ngập ngừng đó
mà biết được cái người lính đã thấy, ngó mặt người
trẻ tuổi, ông ấy hỏi một cách nghiêm nghị:
- Có thật mi là đàn bà không?
Đích thực đàn bà, người ấy không dám chối cãi. Lệnh
nghiêm từ trên ghế tréo đưa xuống.
Người đàn bà ấy phải bỏ chiếu, lều, chõng, tráp
ở cửa trường, theo luôn sợi thừng của lính kiểm
soát để đi ra dinh tổng đốc.
Trong đám đông, những ông sĩ tử còn đợi tiếng gọi,
xôn xao người nọ hỏi người kia:
- Cô ả nào mà to gan thế - Quê quán chị ta ở đâu,
có ai biết không?
- Cô ta ở phường Khán Xuân, chứ đâu.
- A! Cái cô ái nam ấy ư?
- Phải, chính cô ái nam ấy đấy!
- Hoài của nhỉ! người thế mà ái nam!
- Cô ả học hành khá lắm phải không?
- Chẳng khá lại dám giả trai đi thi? Giỏi lắm đấy
chứ, kém gì nàng Văn Tú Tài?
- Các ông dám khen nó giỏi, tôi thì tôi cho là đồ
đ...,"Nữ ngôn bất xuất", chữ sách để đâu?
Một người con gái đã có đọc sách mà dám len lỏi
vào thi với đám con trai, thì còn biết danh giá
là cái gì nữa. Dầu hay ! "Tám vạn ngậm tư"
cũng là đồ bỏ.
- Chẳng những đồ bỏ mà thôi, lại còn cái tội "khi
quân" nữa chứ. Giả làm con trai đi thi đó là
khi quân chứ gì! Rồi các ông xem, chị ta được "giảo
giam hậu là nhẹ, nếu tội ấy vào người đàn ông thì
phải "trảm quyết". Cứ thế, người ta cứ
chĩa vào mặt người con gái mà cãi vã với nhau mãi
như thế.
Mặc cho những tiếng mỉa mai, những lời khen ngợi
bay ngoài lỗ tai, cô gái lạ đời cứ việc đi qua trước
mặt mọi người bằng dáng bộ thản nhiên.
Mặt trời lên cao.
Ánh nắng đã làm tan bớt giá rét.
Khu đất ngoài trường dần dần vắng teo.
Câu chuyện "thi gian" của cô ả ái nam,
nửa theo các ông học trò vào trong vi giáp, nửa
đi với bọn hàng quà hàng bánh ra các phố phường.

|