| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Vì
lợi ích truyền đạt các kiến thức, các giá trị văn
học. Chúng tôi chân thành cảm ta những nguồn trích
dẫn. Chúng tôi rất tiếc không liên lạc để xin phép
đăng lại được. Xin lượng thứ. HNPĐ)

Nhân
ngày mất của nhà văn, nhà báo Vũ Bằng (07-04-1984
)
Vũ
Bằng
Món
Lạ Miền Nam : Canh Rùa
Thôi
cũng là may: phe dân chủ ở Mỹ thắng, mình thấy ngay
một cái lợi là biết ăn canh rùa. Mới nghe, tưởng
là đùa, nhưng sự thật quả là như thế.
Từ
thuở bé, sống ở thủ đô Bắc Việt, ông bà tôi, rồi
đến thầy mẹ tôi, chỉ dung nạp được một thứ kêu là
ba ba, ba ba tần, ba ba nướng chả, ba ba om, ba
ba nấu giả cầu (có đậu phụ, chuối xanh, lá tía tô...
Thượng đế ơi, ngon quá!)... nhưng đến cái con vật
mệnh danh là con rùa thì tối kỵ, không ai lại ăn
đến cái thứ đó bao giờ. Quái, con rùa thì khác gì
con ba ba? Mà sao ăn ba ba lại không ăn rùa?
Có
lúc tôi nghĩ như thế nhưng không dám hỏi
Mãi
đến sau này, lấy vợ, có buổi mây chiều gió sớm,
ngồi “đấu lý” với nhau, tôi mới biết người hiền
nội trợ phương Bắc không ăn rùa vì thành kiến từ
ngàn xưa để lại:
Thương
thay thân phận con rùa
Lên đình đội hạc, xuống chùa đội bia
Ở
đình chùa nào, người ta cũng thấy con rừa bằng đá
hay bằng gỗ nên con rùa, không ai bảo ai, đã mặc
nhiên thành một con vật huyền bí, có tính cách thiêng
liêng, phải tôn thờ, phải kính cẩn, không được coi
làm thường. Thôi, đừng có nói vậy, mà phải tội bây
giờ đấy. Người vợ hạ giọng xuống khẽ bảo chồng như
dạy dỗ, như khuyên can:
-
Rùa là đệ tử trung thành của Đức Phật từ bi đấy,
biết chưa? Ngày xưa, đã lâu lắm rồi, lúc ấy thầy
Đường Tăng đi thỉnh kinh bên Tây Trúc, chính là
nhờ con rùa đấy, chớ không thì làm thế nào mà đi
được thiên sơn vạn thuỷ, đương đầu với bao nhiêu
quỷ sứ, yêu tinh!? Thế cho nên thỉnh được kinh rồi,
thầy Đường Tăng thành Phật thì Đức Quan Thế Âm ngài
cũng cho con rùa thành Phật luôn... Vì thế không
bao giờ nên ăn thịt rùa. Ăn vào thì xúi quẩy, lụn
bại, không còn buôn bán, làm ăn gì được!
-
Yêu nhau, bảo thế nào lại chẳng phải nghe. Hai chục
năm, sống ở bên cạnh ngượi vợ bé nhỏ, một niềm kính
Phật thờ Trời, tôi không phút nào dám nghĩ đến chuyện
ăn thịt rùa. Mãi đến tận gần đây, vào trong này,
một biến cố lạ lùng xảy ra, khích động tính tò mò
quá mức, khến cho người chồng đã có một lần quên
hẳn lời người vợ yêu để liều ăn một bữa thịt rùa
xem sao. Nhưng mà cái việc liều lĩnh đó không phải
là không có cớ!
-
Ấy là vì khoảng dăm năm trở lại đây, ngày vui của
kẻ viết sách này có thể đếm trên đầu ngón tay mà
ngày buồn thì dằng dặc như trong đoạn kết bài thơ
của vua Đường khóc người đẹp họ Dương. Mình cứ rình
một cơ hội gì để liều đổi thời vận xem ra thế nào,
thì trúng ngay vào lúc Tổng thống Eisenhower hết
nhiệm kỳ, hai ông Kennedy và Nixon tranh nhau làm
Tổng thống.
-
Nói chuyện dằng dai, dễ ghét!
-
Thì đã bảo mình đương buồn mà! Đêm vắng, nằm không
ngủ được, mình mới lôi những bài tuyên ngôn của
hai ứng cử viên Tổng thống Mỹ ra coi, rồi dây mơ
rễ má, đọc luôn cả những bài văn cổ động cho 2 ông.
Một cuốn sách tuyên truyền cho công dân Kenedy đã
làm cho tôi chú ý: cụ thân mẫu ra ông Kennedy, năm
đó gần tám mươi tuổi, chính là trưởng ban tuyên
truyền của ông; các anh em ông đi khắp mọi nơi hô
hào cử tri bỏ phiếu cho ông không ngớt, nhưng giúp
việc cho ông đắc lực nhất, chính là những cô em
gái ông hoạt động bất phân một dạ, dưới muôn vàn
hình thức khác nhau.
-
Các cô đi không còn thiếu một câu lạc bộ, một hội
liên đới phụ nữ nào; các cô diễn thuyết và lấy lòng
phụ nữ cho ông anh; nhưng tài tình nhất là cụ thân
mẫu và các cô em của ứng cử viên Kennedy khéo làm
các bánh ngọt để biếu các bạn gái ở từng quận xã
và không quên gửi kèm theo một cuốn sách mỏng trình
bày rất đẹp. Một cuốn thơ xanh mầu hy vọng? Hay
đó là một bản sao mấy bức danh hoạ của Gauguin,
Van Dyck? Không, thơ họa gì cũng không bằng. Cuốn
sách nhỏ bé gửi biếu các cử tri đó chứa đựng một
bảo vật gia truyền của dòng họ Kennedy: bí quyết
nấu canh rùa. Xin mời các bạn gái cử tri trên toàn
bộ nước Mỹ cứ theo đó mà làm, các bạn sẽ tạo hạnh
phúc cho chồng con và các bạn sẽ thấy thiên đường
không ở đâu xa, mà chính ở ngay trên đất!
Đọc
thế tôi thấy hay hay; nhưng làm cho tôi suy nghĩ
thực nhiều, phải là từ lúc có tin điện loan truyền
cùng thế giới: Kennedy đắc cử!
Không
hiểu tại làm sao từ đó, lúc nào tôi cũng nghĩ tới
món canh rùa và, thường đêm, vào lúc chập chờn sắp
ngủ, tôi hay liên tưởng đến một cái đĩa tây trắng
cứ bong ra; đựng một thứ nước óng ánh vàng, trên
thả một nhánh tỏi, vài ba lát rađ, lập là lập lờ
vài miếng thịt hung hung màu vàng ố! Phải, tôi tưởng
tượng canh rùa của người Âu Mỹ như thế đó, nhưng
chẳng biết ăn thế thì có ngon không nhỉ? Người Âu
Mỹ ăn thịt ngựa, thịt ếch, ừ thì cũng được đi, nhưng
bảo rằng họ thích canh rùa thì quả là từ khi đọc
tập sách cổ động cho ứng cử viên Tổng thống Kennedy,
tôi mới thấy lần đầu tiên như vậy. Rùa ăn có giống
thịt ba ba không? Thịt nó dai và nhạt ? Và ăn uống
thì cách thức làm ra thế nào, hở ... cô Năm?
Tôi
có một cô bạn nhỏ quen nhau từ câu chuyện đi lấy
lát ở Cồn Tranh dệt chiếu và biết nhau từ một sáng
thu đi hái lá so đũa nấu canh với cá cơm để cùng
ăn trong một túp lều tranh trên cồn. Yêu quá thể
là yêu, cô gái bé miền quê Sa Đéc! Này, có phải
ở ruộng người ta cho bông hoa bằng lăng này là biểu
hiện của tình yêu mộc mạc không? Ờ mà quên mất nhỉ,
bao giờ em lấy chồng? Mà yêu nhau quá thếnày, đến
khi anh về thành với vợ, em có buồn không?
Người
con gái bé nhỏ không biết gì hết, ngoài những chuỗi
giờ dằng dặc ngồi bẻ bìa, móc chân làm chiếu kiếm
tiền, chỉ biết cặm cụi vào bếp để nấu hết món này
đến món kia làm vui người bạn mang nặng trong lòng
nỗi biệt ly xứ sở.
Ăn
uống không có gì hết cả: Vài trái điều xào với tôm,
ăn vào một buổi chiều có gió hây hây ; một chén
mủ trôn trưa hè; một nồi cá cháy không lột vỏ, không
đánh vẩy, kho lạt ăn với cơm nguội; một chén dế
cơm chiên nhắm nhót buổi tối trước khi đi nằm, hay
mấy con ốc gạo cuốn theo lối bì cuốn chấm đẵm giấm
ớt ăn vào lúc đương xót ruột... Chỉ có thể thôi.
Nhưng phải trông thấy tận mắt người con gái bé nhỏ
đó xào nấu, chế hóa các món ăn và đệ lên cho mình
dùng, ta mới có thể cảm thông được sự trang trọng
lên cao đến mức nào và ta không thể không nghĩ rằng
những món quà hèn đó, đối với cô Năm, còn quý hơn
là các bà các cô ở thành trịnh trọng với sơn hào
hải vị.
Sinh
làm con nhà nghèo, cô chỉ biết con cua, con ếch,
lá rau bò ngót, con cá nham nào, cùng lắm là miếng
huyết heo luộc ăn với gạo lúa đốc, chớ có bao giờ
biết vây yến, su cút hay ca-măm-be Ô-si-đa là gì.
Ăn thịt con rùa, cố nhiên tôi phải hỏi cô Năm và
cố nhiên một hôm tôi đã được thưởng thức món rùa
chính cống làm theo kiểu miền quê Nam Việt.
-
Trời ơi! sao anh lại có thể ví con rùa với cua đinh?
Có lẽ ở xứ sở anh, người ta kêu cua đinh là ba ba,
và em nghe các bà Bắc di cư nói chuyện thì “ở ngoải”
người ta ăn ba ba thường lắm, hoặc theo kiểu tần,
hoặc theo lối rán hay om với chuối xanh, đậu phụ,
giềng, mẻ, điểm thêm mấy lá tía tô hay rau ngổ.
Ở đây cũng vậy, người ta cũng ăn cua đinh, nhưng
cua đinh và rùa có hương bị khác hẳn nhau, cũng
như thịt vịt ta không thể như thịt vịt xiêm, hay
không ai lại có thể so sánh con cá ngáp với con
cá sặt, chỉ vì lẽ cùng là loài cá.
Không
ai bảo cho tôi biết ở đô thị, người ta ăn thịt rùa
theo cách thức nào, cũng như tôi chưa sưu tầm được
bí quyết nấu canh rùa của em gái cố Tổng thống Kennedy
ra sao; nhưng mấy món rùa của cô Năm nấu cho tôi
thưởng thức hôm đó đã làm cho tôi chợt như cảm thấy
như vừa mới nghe thoang thoảng đâu đây một hương
lan hòa với hương xuân lúc cùng với người yêu trèo
lên một đỉnh núi cao trên Đà Lạt.
Có
những người sành ăn muốn thưởng thức món ăn gì,
hết sức giữ cho kỳ được vị của món đó trong khi
chế hóa mới vừa lòng. Ăn rươi, sợ tanh, mà cho gia
vị đánh át mất cả vị của chính con rươi; ăn dê hầm
mà cho lá sả và tẩy gừng quá tay để cho mất mùi
hoi, hoặc pha mắm tôm ăn chả cá mà cho nhiều rượu
và chanh quá, làm mất cả vị của mắm tôm, ăn như
thế tức là “ám sát” các vị căn bản của món ăn, “thực
bất tri kỳ vị”. Tôi thích món ba ba tần, ba ba hồng
síu, ba ba om duyên dáng, triền miên, nhưng ăn đến
rùa mà thật gọi là “thưởng thức”, cần phải ăn theo
hai món chính mà cô Năm đã làm cho tôi. Đó là món
rùa xào và món xé phay gỏi bắp chuối.
Lúc
còn ở ngoài Bắc, tôi đã được trông thấy một con
rùa to bằng cái nia lớn lên phơi nắng ở trước đền
vua Lê. Rùa như thế, tôi đã cho là lớn lắm nhưng
sau này xem sách thì chưa thấm vào đâu hết.
Trong
hai mươi nhăm loài rùa sống ở trong trời đất, người
ta đã tìm thấy những con to bằng cả một cái chiếu
rộng nhất, cân nặng tới năm trăm ký, nhưng trái
lại, lại có những con sống hàng trăm năm mà không
lớn hơn một bàn tay, ta có thể cho vào túi ba-đờ-suy
đi dạo mà không ai thấy.
Người ta bắt nó ra sao? Ta thường vẫn tưởng chỉ
có hai thứ rùa : rùa núi và rùa sông, rùa sình.
Thực ra, ngoài hai thứ đó, còn có một thứ rùa biển
nữa. Rùa biển ăn thịt cá, tôm và nhiều khi bắt vịt,
bắt le như chớp nhoáng ; con rùa sông, rùa sình
thì thường ăn rêu, ăn sậy nhưng cũng không chê tôm
cá, nếu chẳng may những con này sa vào miệng chúng
; bởi vì rùa biển, rùa sông hay rùa núi đều có một
điểm giống loài chim là chúng có một cái miệng không
răng mà hai mép thì rắn như sừng, thường gọi là
cái mỏ.
Những
người ăn thịt rùa không thích những thứ lớn quá
vì ta có quan niệm cái gì lớn quá đều là thần hoặc
là ma. Rùa lý tưởng cho người ta ăn thịt là thứa
rùa lớn bằng cái đĩa tây. Theo các sách Âu Mỹ thuật
lại thì từ năm 1708, người Âu Châu đã thích ăn thịt
rùa, Đại úy Francois Leglat đã viết trong một cuốn
nhật ký của ông: “Thịt rùa cũng tựa như thịt trừu
nhưng ăn thanh hơn nhiều”. Nhà thám hiểm Marc Antoine
rendu ăn thịt rùa hả quá cũng viết: “Canh rùa là
vua canh” và không chê những con rùa kỳ lạ không
có vảy nhưng toàn mình bọc một tấm da như kiểu một
nhà võ sĩ thời Trung cổ.
Con
rùa cô Năm làm cho tôi ăn hôm ấy không kỳ lạ đến
như thế; nó giống như các con rùa thường, chỉ khác
mai nó hung hung vàng. Cô nói:
-
Rùa ăn thế nào cũng được, chỉ cómột điều nên nhớ
là thứ rùa quạ, mu đen như quạ, ăn không tốt. Người
ta lại bảo rằng ăn rùa quạ cũng như ăn cua đinh
mà cụt một cẳng thì dễ sanh bịnh cùi. Chẳng biết
có đúng hay không? Con rùa mà em mua được hôm nay
là rùa vàng, ăn vào phát tài, anh dùng đi, chớ cứ
ngồi mà nhìn em hoài vậy ư?
Cô
Năm tiếp thêm cho tôi một miếng rùa xé phay. Cô
nói:
-
Anh ăn đi, ngọt lắm Em làm kỹ, không có sợ đau bụng
đâu. Người ta bảo rằng làm cái giống rùa này mà
không lau cho khô nước thì dễ sinh đau bụng. Anh
đã thấy em làm rồi đấy: thịt khô mà chín nhừ. Có
người cho lên lò nướng rồi tróc mu ra. Em không
thế. Em cho vào nồi, trong nồi có sẵn muối hột ;
em rang muối, khi nào muối nóng thì bỏ rùa vào.
Thấy
muối nổ cũng đừng bắc ra vội; phải chờ đợi cho muối
vàng và tan thành bột, hãy bắc nồi ra. Lúc đó, rùa
mới thực chết và thịt nó lúc ấy mới thực săn. Em
cậy nắp ra, bỏ ruột, có trứng thì lấy trứng; đoạn
lấy dao lách thịt, xé phay, cuốn bánh tráng, giã
đậu phộng, rau răm và hẹ, như thế này. Anh phải
chấm đẫm nước mắm ớt có pha giấm và đường, ăn với
đồ chua mới ngon, anh à.
Ăn
kiểu này thì thưởng thức được chân vị của món thịt
rùa; người ta thấy thoang thoảng một chút tanh tựa
như cái tanh của sò, của hến, thêm cái chất ngọt
của thịt gà chân chì mà lại man mát tựa như thịt
vịt xiêm. Thú tực là tôi không thấy cái gì “tựa
thịt trừu” như lời đại úy Leglat đã nói, song ăn
đến cái nước lèo rùa luộc thì phải nhận là ngon,
nhưng cái ngon đây vẫn không phải là cái ngon đáo
để của thịt trừu, hay thịt bò con, mà là cái ngon
dịu hiền, thanh cảnh và kín đáo, tựa như món gà
giò nấu với sa sâm, ý dĩ, thêm chất tanh tanh thú
vị của món hà mà ta ăn sống ở trên bờ biển Vũng
Tàu hay Long Hải.
Ông
nào cho ăn như thế là thanh cảnh quá, muốn đậm đà
hơn một chút, nên dùng món rùa xào : thịt rùa rang
lên rồi chặt ra từng miếng bằng con cờ, cho vào
chảo xào với củ hành, gia thêm thứ rau tùy ý, xúc
ra đĩa, ăn luôn với một hai tóp rượu đưa cay, ta
cảm như ăn ba ba hồng síu của Tầu. Nếu cho vào nồi
gia nước, đun lên và bỏ thêm mấy miếng su su, cà
rốt, tống cú và vài cái chân gà ác hầm lên, ta sẽ
cảm thấy cá vị ba ba cáy dùng.
Nhưng
ăn thực cho thích khẩu những người sành thường dùng
món rùa hấp cách thủy : thịt rùa chặt ra từng miếng
nhỏ, cho đúng phân lạng sa sâm, ý dĩ, đại quy và
bạch thược, đợi cho thịt rùa thật chín và mềm, đem
ra ăn, sướng ông thần khẩu không chịu được.
Hấp
cách thuỷ như thế hơi lâu.
Trong
khi chờ đợi, những ông bợm nhậu có thể lấy mấy cái
chân rùa ra nướng lên nhấm nháp. Chân rùa nhiều
gân, ta cạp chân gà thế nào thì gân chân rùa cũng
từa tựa như thế; nhưng có nhiều người bảo gậm chân
rùa “không có sướng” bằng lấy những cái vẩy trên
mai nó nướng cháy lên mà nhắm rượu – chết ngửa,
giòn cứ tanh tách mà bùi quá thể là bùi! Này, các
trái “noa” của Tây, tôi đố có thể đem ra mà bì được
đấy!
Rùa
cách thủy đã được rồi đấy, mời ông lấy ra dùng.
Húp mấy thìa thử mà coi, ông thấy mát ruột liền;
nước không béo nhưng ngọt ; mùi tanh của rùa quyện
lấy mùi ý dĩ, bạch thược tạo nên một vị riêng tựa
như thịt nai tơ, mà lại tựa như thịt rắn, nhần nhận,
the the, mà lại trơn lừ cuống họng như canh yến.
Ăn mà sướng khẩu cái như thế, chẳng là đã quá rồi
sao ? Nhưng có những người kỳ lắm, phàm ăn món gì
lạ là cố tìm ra vài tính chất bổ béo của nó cho
kỳ được mới nghe. Vì thế có ông bạn đã nghiêm khắc
bảo tôi:
-
Trời! Nếu rùa mà chỉ có thế thì đâu có quý! Nó quý
vì cái khác kia...
- Bẩm, cái khác ấy là cái gì?
-
Con rùa cũng như con trâu, ông ạ, không có một bộ
phận nào của nó mà không được việc. Cái mu và cái
yếm của nó đem phơi dùng để bói và làm thuốc chữa
cam phổi, cam gan, cam thận, cam tim của trẻ con
; mật nó phơi khô trị chứng đau răng hay lắm, còn
thịt nó thì không thể nào nói xuể... người ta bảo
ăn được trăm ngàn thì vợ chồng yếu sẽ mạnh, có ông
già sáu mươi tám tuổi lấy vợ hai mươi chín tuổi
mà bốn năm sanh liền hai đứa con trai đấy!
Tôi
tiếc là lúc viết bài này không có sách “Kinh nghiệm
Y lý Đông phương” để truy cứu xem những lời nói
của ông bạn đúng được bao nhiêu phần trăm ; nhưng
có một điều tôi biết chắc là chính giống rùa mạnh
lắm, có một sức sống tuyệt kỳ, mà lại sống lâu như
Bành Tổ
Năm
1938, người ta đã tìm thấy ở Mỹ những con rùa mà
ở trên mu còn hằn những vết đạn hồi bảy mươi năm
năm về trước, lúc xảy ra cuộc Nam Bắc phân tranh.
Lại
vừa đây, người ta mới bắt được một con rùa trên
mu có khắc số 1844. Thì ra con rùa này sống ít nhất
cũng được trên 120 năm nay và xem bộ dáng thì vẫn
còn mạnh lắm.
Nhưng
phá kỷ lục sống dai – theo sự hiểu biết có hạn của
những nhà tự nhiên học – thì là con rùa mà người
ta đưa tặng Nữ hoàng Eugénie. Theo nhà nghiên cứu
Ambroise Randu, lúc con rùa này theo Nữ hoàng đi
Ai Cập để khánh thành kinh đào Suez nó đã được 140
tuổi trời. Giữa đường, nó bị lạc. Mãi về sau, người
ta mới thấy nó – nhưng thấy ở đâu ? Ở vùng Kim Tự
Tháp ! Quốc vương Farouk đệ Nhị (Farouk II) nuôi
nó trong Hoàng cung. Bây giờ nó là “thượng khách”
của vườn thú Le Caire, thủ đô nước Cộng hòa Ả Rập
thống nhất và tính đến nay được hơn 250 tuổi.
Ở
phương Đông, rùa là một trong tứ quý (lân – ly –
quy – phượng), không những là vì rùa báo điềm lành,
mà còn được coi là tượng trưng của tuổi thọ của
con người. Thực ra, rùa không những sống lâu mà
lại còn mạnh lắm. Các nhà tự nhiên học cho biết
một con rùa núi bình thường có thể “cõng” một đứa
trẻ rên lưng mà đi lại thong thả hàng cây số. Một
con rùa lớn ở Mỹ có thể chở phăng phăng một “gi
ay” (người lính mỹ)
nặng bảy mươi ký trên cái mu đường kính bốn mươi
lăm phân của nó.
Thế
kỷ trước, nhà bác học Thụy điển Aexandre Kestern
muốn giữ xác một con rùa làm kỷ niệm, tìm cách giết
nó đi mà loay hoay hàng tháng không biết giết nổi.
Thoạt đầu ông ta treo con rùa lên cao, cho đầu nó
vào trong một thùng phuy nước, và lấy dây buộc cổ
nó lại, để cho nó ngạt hơi dần. Nó vẫn “sống nhăn”.
Kestern lấy một cái kim bự đâm thấu óc nó: nó vẫn
cứ sống luôn. Ông ta bèn ngâm nó vào rượu có pha
chất cyanure de potassium: Vô ích nốt. Rút cuộc,
ông phải áp dụng phương pháp của “ông Sài Gòn”:
trảm thủ nó như là trảm Trịnh Ân! một tuần sau thân
thể nó còn cựa quậy, bốn chân duỗi ra và thụt vào
trong mu, còn cái mỏ thì vẫn cắn.
Một con vậy dai sức và sống dai như thế, cố nhiên
phải là con thịt lý tưởng của những nhà dinh dưỡng
muốn tìm sức mạnh bằng món ăn.
Thuở
nhỏ, học ngụ ngôn của La Fontaine, chúng ta thường
vẫn yên trí rùa là một giống vật chậm chạp và không
hoạt động: sự thực, không phải thế. Có nhiều giống
rùa biết lội giỏi hơn cả cá, hàng triệu cây số lận;
còn rùa núi, rùa cận thì ở Anh, người ta đã thấy
có con đi du lịch tới 350 cây số trong vòng hai
năm. Rùa ở đảo galapagos đi thủng thỉnh từ năm đến
bảy cây số một ngày, không biết mỏi; nhưng lạ vào
bực nhất ở Đông Dương có một giống rùa leo núi như
khỉ và trèo lên cây để kiếm thức ăn như vượn
Ăn
một món ăn lạ mà vừa nhấm nhót mà lại vừa cảm thấy
ly kỳ như thế, ai mà lại không thấy lòng mình phơi
phới như có cánh bay. Cô Năm đứng dậy, đinh thủng
thỉnh vào nhà rong, lật cái lồng bàn, bưng ra một
cái đĩa, đặt trước mặt tôi và nói:
-
Thế nào ? Anh ăn thịt rùa thấy làm sao?
-
Cũng được, là lạ miệng.
-
Nhưng chưa thấm với cái này ...
-
Gì vậy?
-
Trứng rùa. Ăn rùa mà không thưởng thức trứng, tức
là chưa ăn rùa vậy.
Tôi nhóm tay cầm một cái trứng lên coi. Luộc rồi,
trứng rùa có sắc trắng, tròn và nổi lên những tia
máu đỏ. Nó lùng bùng nhưng dai, cắn vỡ thì có nước
và một cái màng màu vàng sẫm. Cái trứng đó vừa mút
vào thì đã trôi đến cổ rồi, nhưng đừng có nuốt vội
vàng, hỡi hỡi người bạn háu ăn ! Thử cắn nhỏ nhẹ
những cái trứng đó ra, anh sẽ thấy nó rắn hơn tròng
đỏ trứng gà, mà quánh như sáp, vừa nhai vừa ngẫm
nghĩ thì có ý bùi hơn và cũng thanh hơn. Này, ăn
thêm một hai cái nữa, tuyệt trần, phải không anh?
Ô,
thảo nào các nhà tự nhiên học không ngớt ca tụng
trứng rùa.
Sách
thuật rằng vào khoảng dăm trục năm về trước, ở Campuchia
công việc kiếm trứng rùa được qui định theo một
sắc lịnh của nhà vua, và trứng của những con rùa
quý ở sông đều phải đem “tiến” cũng như hồi trước
nước ta “tiến” lên nhà vua nhãn, quế, vải, cốm hay
vây, yến. Sở dĩ vậy là vì trứng rùa ăn thích khẩu,
đã đành, mà còn vì một lẽ nữa là nó hiếm.
Cứ
vào mùa “con nước”, rùa cái cũng “động đực” như
heo nái vậy. Đương sống thanh nhàn, tĩnh mịch, các
“em” kéo nhau đi tìm “chất đàn ông”, không phải
vì “nhớ đến tên các anh viết trên lá, trên hoa,
bviết trên vú trên mông”, nhưng chính là để “giết
cái sầu cô độc, xây mùa tình ái, dựng niềm yêu...
thế hệ”!.
Ôi
chao, các cậu rùa lúc đó “lấy le” dữ quá. Y như
các bố trẻ “lưu manh” lộng lành ở các quán nước
hiện nay để chiếm lòng các nữ ca sĩ, các cậu rùa
giao chiến cực kỳ ác liệt cắn nhau chí choé và tìm
đủ các miếng khóa “ta ki đô” để vật ngửa nhau ra.
Anh nào thắng, dắt em yêu đi hưởng tuần trăng mật
– một tuần trăng mật kéo dài tới hàng tuần, có khi
tới gần một tháng!
Mắn
thế! Chẳng mấy hồi, cô rùa đã có bầu. Thường thường,
cô đẻ mươi mười lăm trứng, nhưng người ta đã từng
thấy có những con rùa biển lớn đẻ tới ba, bốn trăm
trứng làm ba lần. Nhưng dù là thuộc loại rùa biển,
rùa sông, rùa đất hay rùa núi, chúng cũng cào đất
mà chôn trứng xuống, vì thế, trứng rùa khan hiếm
và do đó thành ra món “tiến”.
Vừa
ăn thịt rùa, vừa nhẩn nha suy nghĩ, một mình như
thế, mình tự nhiên thấy trứng rùa đã ngon lại ngon
quá chừng là ngon, mà thịt rùa đã quí lại quá chừng
là quý. Và mình tưởng chừng như lúc ấy cô Năm có
làm ba con rùa nữa mình cũng cứ ăn ... bay!.
Đêm
ấy, trăng chiếu xuống mảnh giường kê ở ngoài vườn.
Tiếng con “kuềnh quang” và con trằng hiu ru tôi
vào những giấc ngủ đầy những mộng lành: tôi thấy
mình lại dẻo dai như hồi hai mươi tuổi và đi mãi,
đi mãi, qua thiên sơn vạn thủy như rùa, đến một
cuối trời kia có mây xanh, gió tím... và ở một bên
bãi lau có gió thổi hắt hiu, tôi bỗng thấy một người
yêu đã mấy năm nay không gặp!

|