| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

TIỂU
THUYẾT TỰ LỰC VĂN ĐOÀN 1930 - 1945
HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA TIỂU THUYẾT TỰ LỰC VĂN ĐOÀN
QUAN NIỆM VỀ CÁI TÔI TRONG TỰ LỰC VĂN ĐOÀN
NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH CỦA TIỂU THUYẾT TỰ LỰC VĂN
ĐOÀN
NGHỆ THUẬT CỦA TIỂU THUYẾT TỰ LỰC VĂN ĐOÀN
KẾT LUẬN
Từ trái sang phải: Xuân Diệu, Thế Lữ, Nhất Linh,
Khái Hưng thời Tự Lực Văn Đoàn
--------------------------------------------------------------------------------
I. HOÀN CẢNH RA ÐỜI CỦA TIỂU THUYẾT TỰ
LỰC VĂN ÐOÀN
Từ năm 1932-1945, Tự Lực Văn Ðoàn chiếm ưu thế
tuyệt đối trên văn đàn công khai, sách báo của họ
in đẹp nhất, bán chạy nhất, có một ảnh hưởng nhất
định trong giới trí thức tư sản và tiểu tư sản thành
thị.
"Tự
Lực Văn Ðoàn chính thức thành lập năm 1933, gồm
có Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam), Khải Hưng (Trần
Khánh Giư). Hoàng Ðạo (Nguyễn Tường Long), Thạch
Lam (Nguyễn Tường Lân), Tú Mở (Hồ Trọng Hiếu), Thế
Lữ (Nguyễn Thứ Lễ). Về sau thêm Xuân Diệu, Trần
Tiêu (em Khải Hưng)" (theo tài liệu của Trương
Chính). Còn có một số nhà văn cộng tác chặt chẽ
với Văn Ðoàn này đó là Trọng Lang, Huy Cận, Thanh
Tịnh, Ðoàn Phú Tứ. Cơ quan ngôn luận của Văn Ðoàn
là tờ báo Phong hóa, khi Phong hóa bị đóng cửa năm
1936 thì có tờ Ngày nay thay thế.
Sách Tự Lực Văn Ðoàn in đẹp. Phần lớn in ở nhà
in Trung Bắc Tân văn, bấy giờ có Ðỗ Văn học nghề
in ở Pháp về phụ trách. Sau, họ mở nhà in riêng,
nhà in Ðời nay. Bìa, tranh minh hoạ đều nhờ những
họa sỹ nổi tiếng trông coi: Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc
Vân. Có thể nói trong các nhà xuất bản thời bấy
giờ, Nam Ký, Tân Dân, Mai Lĩnh, Cộng Lực, Minh Phượng,
Lê Cường, Tân Việt...chẳng nhà in nào tranh dành
được với họ.
Nguyễn
Thị Vinh
Khi ra đời, Tự Lực Văn Ðoàn có đề ra tôn chỉ mục
đích rõ ràng: "Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời,
có chí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ. Theo chủ nghĩa
bình dân, không có tính cách trưởng giả quý phái.
Tôn trọng tự do cá nhân. Làm cho người ta biết đạo
Khổng không hợp thời nữa. Ðem phương pháp Thái Tây
áp dụng vào văn chương An Nam"
Sau khi những phong trào Cách mạng Yên Bái vào
đêm mồng 9 tháng 2 năm 1930 do Nguyễn Thái Học và
Nguyễn Ðức Chính bị thất bại, một không khí chán
nản, u hoài, yếm thế bao trùm đời sống. Thanh niên
lớn lên không còn có lý tưởng để phụng sự. Con đường
yêu nước bế tắc, họ thoát ly trong những tình cảm
cá nhân nhất là yêu đương. Thơ văn ái tình lãng
mạng bắt đầu từ đấy. Chính thời 1930 văn học đã
đẻ ra những nhân vật điển hình như Tố Tâm, Ðạm Thủy.
Rồi thơ của bà Tương Phố, ông Ðông Hồ, người chết
chồng, kẻ chết vợ, họ khóc lóc nỉ non, khơi mào
cho các nhà văn lãng mạn lớp sau đi sâu vào tình
yêu để rồi phô diễn thành vần thành điệu.
Tự Lực Văn Ðoàn đề ra mục đích tôn chỉ "lúc
nào cũng trẻ, yêu đời" là muốn phá tan cái
không khí u uất, sầu thảm kia. Trong hoàn cảnh xã
hội thời Pháp thuộc, cái nhân văn tiểu tư sản đó
tiến bộ nhiều hơn so với cái nhân văn cổ hủ, hẹp
hòi thời Phong kiến. Trong tiểu thuyết Tự Lực Văn
Ðoàn thanh niên chưa dám đứng lên cứu nước, đang
tìm mọi cách thoát ly thực tế đời sống. Vui, cũng
để mà quên. Ðối với họ than vãn là lạc hậu, nói
như Nhất Linh trong lời tựa cuốn "Hồn bướm
mơ tiên" của Khái Hưng. Tâm hồn họ "Phản
phất vui lẫn buồn tựa như những ngày thu nắng nhạt
điểm mưa thưa". Tiểu thuyết Tự Lực Văn Ðoàn
đã ra đời trong hoàn cảnh như vậy.
II. QUAN NIỆM VỀ CÁI TÔI TRONG TỰ LỰC VĂN
ÐOÀN
Như trên đã trình bày, văn học lãng mạn 1930-1945
khác văn học lãng mạn trước đó, là do sự tư sản
hóa của ý thức và sự âu hóa của thẩm mỹ đã đến độ
cao.
Trước 1930, người ta cũng đã muốn được hưởng tự
do tư sản, nhưng còn vướng mắc đạo đức Phong kiến
nên chủ nghĩa cá nhân đành khuất phục giáo lý Khổng-Mạnh.
Thời phong kiến cái tôi" hầu như bị giam cầm,
bị kìm hãm, bị toả chiết và có lúc như bị giết chết.
Con người không tự chủ được mình, luôn lệ thuộc
vào những triết lý hà khắc. Tư tưởng chính thống
của chế độ Phong kiến đã giết chết "cái tôi"
của từng con người, cũng là giết chết cái chủ nghĩa
cá nhân. Sau năm 1930, chủ nghĩa cá nhân tư sản
xuất hiện ở Việt Nam. Ðây là một loại chủ nghĩa
cá nhân mang tính nhân bản trong buổi đầu phát triển
của tiểu thuyết Tự Lực Văn Ðoàn. Nên nhớ rằng vào
thời kì sau năm 1930 chủ nghĩa cá nhân tư sản là
một bước tiến bộ trong quá trình con người dành
quyền sống. Xã hội Phong kiến Việt Nam chưa hề có
quan niệm về cá nhân- cái tôi". Không có cá
nhân, chỉ có gia đình, quốc gia. Cá nhân và hạnh
phúc cá nhân, bản sắc cá nhân chìm hẳn trong gia
đình trong quốc gia, "như giọt nước trong biển
cả". Một sinh viên trong trường Cao đẳng đọc
hết sách Tây như Ðạm Thủy, mà không dám chống lại
những tập tục cũ, yêu Tố Tâm nhưng bị ràng buộc
bởi lời hứa hôn của gia đình, không tìm được cách
nào giải thoát cho mình và cho Tố Tâm. Bà mẹ Tố
Tâm buộc nàng phải lấy một cậu B nào đó môn đăng
hộ đối. Không những thế, Ðạm Thủy không có một phản
ứng nào đáng kể. Anh ta vẫn cho tình gia quyến là
"tối thiêng liêng". Anh ta phục tùng gia
đình một cách vô điều kiện. Cho là "bổn phận"
là "danh dự".
Chúng ta không bênh vực những cá nhân ích kỷ, hèn
nhát, trốn tránh trách nhiệm đối với gia đình, đối
với xã hội, nhưng chúng ta cũng không tán thành
những ai cứ nghe nói đến"chủ nghĩa cá nhân"
tưởng là cái gì tồi tệ nhất. Xuân Diệu khi bàn về
văn học lãng mạn, cũng nói: "trong nền văn
học của các dân tộc, nằm chung trong lịch sử văn
hóa nhân loại. Khi cái tôi" bắt đầu có ý thức
là có mình thì theo tôi khái niệm có phần cũng tương
tự như khi một em thiếu niên, đồng thời với sự dậy
thì, thời trong tâm tình em ấy cũng từ trạng thái
hồn nhiên vô tâm, chuyển sang tự giác, tự ý thức,
tự biết là "mình đây" có một sự phấn chấn
nhạy cảm, ham sống, yêu đời..." (tìm hiểu Tản
Ðà).
Bởi vậy khi cá nhân đòi hỏi quyền sống, đòi quyền
được phát triển nhân cách, khả năng của mình, đấu
tranh cho quyền được yêu, chọn người xứng đáng để
chung sống suốt đời thì không thể gọi là chủ nghĩa
cá nhân tư sản hưởng lạc, cho là "xa rời với
truyền thống dân tộc" được.
III. NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH CỦA TIỂU THUYẾT
TỰ LỰC VĂN ÐOÀN
1. Tinh thần chống lề giáo phong kiến, đòi quyền
tự do yêu đương, đề cao hạnh phúc cá nhân
Tác phẩn Tự Lực Văn Ðoàn đều chĩa mũi nhọn đã kích
lễ giáo Phong kiến và nếp sống đại gia đình Phong
kiến: "Nửa chừng xuân", "Ðoạn tuyệt",
"Lạnh lùng", "Ðôi bạn", "Gia
đình", "Thoát ly", "Thừa tự"...
Họ hô hào giải phóng phụ nữ khỏi cảnh mẹ chồng nàng
dâu, mẹ ghẻ con chồng, cảnh thủ tiết của những người
đàn bà trẻ góa bụa. Họ đòi cho nam nữ có quyền được
hưởng hạnh phúc riêng.
Chống lễ giáo Phong kiến, đòi hạnh phúc lứa đôi
và quyền sống con người là một vấn đề đã được đặt
ra từ lâu trong văn học việt Nam: "Sơ kính
tân trang" (của Phạm Thái); thơ Hồ Xuân Hương;
"Truyện Phan Trần" (truyện Nôm khuyết
danh); "Truyện Kiều" (Nguyễn Du)... ở
mức độ khác nhau đều đã lên tiếng tố cáo thứ lễ
giáo khắc nhiệt đó. Cái chết của Tố Tâm (tác phẩm
Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách) nói về khách quan cũng
là một thái độ phản ứng chống lễ giáo Phong kiến.
Tiểu thuyết Tự Lực Văn Ðoàn tiếp tục truyền thống
ấy của văn học dân tộc trong hoàn cảnh xã hội thuộc
địa nửa Phong kiếnViệt Nam ở thành thị đang trên
đà Âu hóa.
a/ Chống lễ giáo Phong kiến
Ơí Việt Nam lễ giáo Phong kiến đã ngự trị lên đời
sống xã hội hàng ngàn năm với biết bao những kỷ
cương hà khắc để làm một cuộc "Cách mạng"
xóa bỏ cái cũ, hàng loạt tác phẩm Tự Lực Văn Ðoàn
đã chĩa mũi nhọn đả kích vào lễ giáo của đại gia
đình phong kiến. Những nhà văn có công lớn nhất
trong việc này phải kể tới Nhất Linh và Khái Hưng.
Qua tác phẩm "Nửa chừng xuân" (Khái Hưng)
nhà văn đã xây dựng được nhân vật Mai đương diện
đấu tranh với lễ giáo Phong kiến. Lễ giáo Phong
kiến đã chà đạp lên hạnh phúc của mình.
Nhân vật Mai trong truyện là một nạn nhân, một
nạn nhân đau khổ và tự trọng, chỉ biết đem cái chính
nghĩa, cái thanh cao của mình ra mà chống đỡ.
Sở dĩ tác phẩm là một trận đánh vào giáo lý và
tập tục Phong kiến, là vì nó làm cho người ta ghét
bà Aïn, nhân vật đại diện cho thế lực Phong kiến,
mà người ta yêu Mai- hiện thân của tình yêu thanh
sạch, chung thủy. "Nửa chừng xuân" đã
làm cho người ta khóc than Mai nhiều kể cả khi nó
được diễn thành kịch trên sân khấu.
Xây dựng nhân vật Mai, Khái Hưng muốn xây dựng
một nhân vật lý tưởng, một tình yêu lý tưởng; Mai
dẫu đã có con với Lộc, dẫu vẫn thiết tha yêu Lộc,
dẫu đã được bà Aïn yêu cầu về chung sống với Lộc,
nhưng Mai không trở về. Với lòng tự trọng Mai không
thể về làm vợ lẽ Lộc được. Thái độ của Mai là một
khía cạnh chống chế độ đa thê và là một cách bảo
vệ tình yêu lý tưởng.
Khái Hưng chưa thực sự mài ngòi bút cho sắc để
chống lại bà Aïn. Tác giả chỉ muốn xây dựng một
"mệnh phụ" có đầu óc đầy quan niệm cũ
chỉ vì con mà phải già tay giằng buộc. Nhưng cái
hiện thực mà tác phẩm phản ánh còn mạnh hơn ý muốn
của tác giả: chỉ cái thủ đoạn gởi thư tình giả mạo,
chỉ cái í định tìm cho Lộc một người vợ ở nơi quyền
quý có lợi cho việc tiến thân của Lộc về sau cũng
đủ nói lên cái bản chất của bà Aïn - bản chất của
một con người quỷ quyệt. Ðối với hạnh phúc của Lộc-Mai,
bà Aïn là một kẻ phá hoại. Những bà mẹ có lòng nhân
hậu không làm như bà Aïn được; tác dụng khách quan
của nhân vật là ở đó. Ðược như thế không phải tác
giả đã nhìn thấu suốt nhân vật phong kiến đã lột
trần được cái bản chất phong kiến của bà Aïn đâu.
Chính là nhờ ý nghĩa của một số chi tiết hiện thực,
mà cũng là nhờ sức lôi cuốn của nhân vật Mai nữa.
Hai lần Mai trực tiếp đấu lý với bà Aïn ích kỷ
xảo quyệt và cả hai lần Mai luôn cho bà bẽ mặt dồn
bà Aïn đến chổ đuối lý. Trong xã hội thực dân Phong
kiến lúc bấy giờ, chúng ta tìm được một cô gái như
Mai không phải nhiều lắm. Song cũng không phải là
không có. Mai không hẳn giống các cô gái thị thành.
Mai có cái mạnh dạn táo bạo của một "cô gái
tân thời" nhưng cũng có cái dịu dàng, nết na,
chân chất của một cô gái thôn quê. Những đức tính
của mai gần với đạo đức nhân dân. Cái tôi"
của chủ nghĩa cá nhân thời kỳ đầu mới ra đời đã
mang lại được tính nhân bản của nó.
Nhân danh chống lễ giáo phong kiến, tiểu thuyết
Tự Lực Văn Ðoàn ở thời kỳ đầu được phát triển cả
về hình thức và nội dung.
"Ðoạn tuyệt" của Nhất Linh là cuốn tiểu
thuyết tặng những thanh niên nam nữ đang đau khổ
vì cuộc xung đột mới- cũ như lời tác giả viết trên
đầu sách.
Nhất Linh muốn chứng tỏ rằng tình yêu cùng chí
hướng đều bị đại gia đình Phong kiến kìm hãm, chỉ
có một lối thoát là đoạn tuyệt với đại gia đình
Phong kiến. Truyện lấy tên là "Ðoạn tuyệt"
vì thế.
Trong cách xây dựng truyện, ta nhận thấy cái khó
khăn này: bị ràng buộc trong cái xã hội cũ, Loan
không bao giờ thoát khỏi cảnh làm dâu nhà bà Phán
Lợi. Loan mà thoát được là do một sự tình cờ, một
vụ ngộ sát đưa đến một vụ xét xử. Tác giả phải mượn
đến trường hợp ngẫu nhiên ấy để mở đường cho Loan.
Câu chuyện Nhất Linh viết khá cảm động. Loan thông
minh biết điều, yêu sâu sắc, tha thiết tự do, tự
lập. Nàng bị ép lấy Thân. Người chồng quá lạc hậu,
không hiểu vợ; mẹ chồng ác nhiệt, hành hạ con dâu,
em chồng xúi dục mẹ thêm. Cả một đại gia đình chống
lại những ý nguyện tốt đẹp nhất của Loan. Ngày lại
ngày, một chuỗi đau khổ đến với Loan. Loan có lúc
đã nghĩ rằng thà đi hoạt động phiêu lưu như Dũng,
người yêu của nàng, "nếu có gặp cái chết chăng
nữa, cái chết cũng không đáng thương bằng cái chết
dần chết mòn". Cả tác phẩm là một bản cáo trạng.
Loan tiêu biểu cho "cái mới". Người đọc
theo dõi Loan, thương mến Loan, vui mừng khi thấy
Loan ra tòa được tha trắng án. (cái mới đã thắng).
Giá trị đương thời của tiều thuyết là ở đó.
Ðối với phong tục tập quán cổ hủ, những cảm tưởng
chua chát, những mẩu đời thực, những tấn kịch xảy
ra giữa Loan và Thân, giữa Loan và bà Phán Lợi,
có tác dụng phê phán mạnh. Chẳng hạn bị cha mẹ ép
gả cho Thân, khi lợn quay nhà trai dẩn lễ, Loan
đã đem chia cho bà con họ hàng, Loan ngẫm nghĩ "thịt
quay mình đây. Bây giờ cứ ở mỗi nhà quen trong mâm
tất có món thịt quay. Mỗi nhà một miếng thế là đối
với cái xã hội nhỏ này mình đã nghiễm nhiên là vợ
thân, là con dâu bà Phán Lợi. Ðố chạy đâu thoát".
Quả vậy, "việc nhân duyên của nàng chỉ là
việc mua bán. Trước kia cha mẹ Loan giao ước cho
nàng làm vợ Thân là đã làm một việc bán linh hồn
của con mình, nay cha mẹ bắt nàng làm vợ Thân là
đã bán xác thịt của nàng, bán nàng vì một số tiền
ba ngàn bạc".
Tưởng rằng, Loan chấp nhận sự đời éo le nhưng Loan
đã đấu tranh quyết liệt Loan đã thắng lễ giáo phong
kiến trở về được với Dũng- người yêu cũ của Loan.
"Ðoạn tuyệt" ra đời báo chí lúc bấy giờ
hoan nghênh. Nếu như cách đó mười năm "Tố Tâm"
của Hoàng Ngọc Phách, gia đình còn có một sức mạnh
thiêng liêng, khiến Ðạm Thuỷ và Tố Tâm phải thừa
nhận thì "Ðoạn tuyệt" chế độ gia đình
hà khắc bị lên án kịch liệt. Vì sau mười năm làn
gió mát " Âu hóa" đã tràn vào Việt Nam,
cái "tôi" của chủ nghĩa cá nhân đã tự
khẳng định được mình.
Cái thế giới tâm tư của cá nhân từ xưa ít được
khám phá. Cá nhân không được đếm xỉa đến, nên người
cầm bút e ngại bộc lộ những nổi niềm riêng. Với
văn học lãng mạn, cá nhân là đề tài chủ yếu. Dưới
hình thức này hay hình thức khác, các nhà văn chăm
chú biểu hiện cái tôi". Cái tôi của họ còn
được giành cho họ và cho độc giả nhiều điều mới
mẻ.
Cũng là một hình thức chống lại lễ giáo Phong kiến
nhưng tác phẩm "Gia đình" của Khái Hưng
lại biểu hiện ở một khía cạnh khác. Những cái thối
nát của đại gia đình, những cái thối nát trong quan
trường, đó là cái phần hiện thực trong tác phẩm
của Khái Hưng. Tá giả muốn chứng tỏ rằng khuất phục
đại gia đình, dấn thân vào quan trường (mà đi làm
quan trường cũng là vì đại gia đình phong kiến).
An là nhân vật chính của "Gia đình". Anh
cảm thấy đời mình trống rỗng vô vị "chàng không
còn tin ở cái quan niệm sự sống và cách bày trí
tương lai của chàng. Và chàng cảm thấy sự trống
rổng vô vị dần dần lấn sâu mãi linh hồn. Hôm nay
cũng như hôm trước đây, chàng vác súng đi săn là
để cố lấp kín sự trống rỗng đó.
An lấy vợ, "lấy vợ không phải vì chàng mà
chỉ vì gia đình, vì tổ tiên, vì những người chết..."
An đi học thêm ở trường luật rồi ra làm quan vì
mẹ vợ (bà Aïn Báo), vì anh rể (Huyện Viết), vì em
vợ, vì vơ, vì những ghen tị khích bác trong đại
gia đình.
Một lần nữa đại gia đình tấn công An. Những tấn
bi hài kịch mà tác giả miêu tả có một ý nghĩa đã
phá rõ rệt.
Còn vấn đề quan trường? Hãy nghe mấy lời An tự
nhủ: "ta phải bình tĩnh sau được! thời nay
hai chữ "quan trường" đã trở nên cái ý
nghĩa ghê sợ, huyền bí. Ðến nay, ta cũng rùng mình
mỗi khi ta nghe kể những câu chuyện về quan trường,
những công trình tàn ác của một vài viên tri huyện,
tri phủ bất lương mà mục đích làm quan là để bóc
lột dân quê ngu dại. Ta biết thế mà ta còn đâm đầu
vào !... chẳng qua chỉ tại vợ ta, chú ta và cậu
ta, chỉ tại gia đình ta cả !".
An vô cùng khổ sở trong cảnh làm quan của mình,
đến nổi có lúc phải thốt lên: "Làm quan ! trời
ơi, sao tôi lại làm quan !".
Viết "Gia đình" thái độ của tác giả thù
ghét đại gia đình, thái độ đã kích của tác giả đối
với quan trường và thái độ mến chuộng của tác giả
đối với cuộc sống của địa chủ "văn minh"
và "nhân đạo" đã rõ.
Những nhân vật đại diện cho lễ giáo phong kiến
là đối tượng phê phán của tác phẩm "Nửa chừng
xuân" Khái Hưng làm cho người đọc công phẩn
với bà Aïn-hiện thân của quan niệm "môn đăng
hậu đối". Tuy bà rất thương con, có khi biết
ăn năn về hành động của mình nhưng những hành động
tàn nhẫn, những thủ đoạn toan tính bỉ ổi đã làm
cho người đọc không những căm ghét bà Aïn cụ thể
mà còn căm ghét cả một nền luân lý lễ giáo phong
kiến. Bà Aïn Báo trong "Gia đình" là một
người hám danh vị đánh mất cả lương tâm và bổn phận
làm mẹ.
Viết được các tác phẩm trên , các nhà văn Tự Lực
Văn Ðoàn có ý thức dương cao lá cờ nhân đạo chủ
nghĩa, mang đến cho chủ nghĩa cá nhân một màu sắc
hấp dẫn của chính nghĩa.
b/ Ðề cao hạnh phúc cá nhân
Tiểu thuyết Tự Lực Văn Ðoàn đòi quyền tự do yêu
đương cho thanh niên. Các nhà văn đã tự đưa ra một
quan niệm mới mẻ về hạnh phúc cá nhân, về tình yêu,
xem đó là lẽ sống duy nhất của con người.
_Tình yêu trong tiểu thuyết Tự Lực Văn Ðoàn là
muôn hình vạn trạng. Có tình yêu "bất vong
bất diệt" của Lan và Ngọc dưới bóng từ bi phật
tổ (hồn bướm mơ tiên) - Khái Hưng. Ðây là cuốn tiểu
thuyết đầu tiên của Tự Lực Văn Ðoàn. Nó được thanh
niên thành thị đón chào như một người bạn chờ đợi
từ lâu. Nó nâng ái tình lên một triết lý, miêu tả
tỉ mỉ những băn khoăn của lòng yêu.
Ðề tài của cuốn tiểu thuyết lấy trong cuộc sống
của tiểu tư sản thành thị: Ngọc là sinh viên Trường
Cao Ðẳng Canh Nông, đọc tiểu thuyết Pháp và biết
hội họa. Lan là một cô gái có học, không "quê
mùa" chút nào, bỏ nhà đi tu vì chẳng muốn lấy
một người chồng bị ép buộc.
Ngọc gặp chú Tiểu Lan dưới chùa Long Giáng, kiều
diễm dưới bộ áo tu hành. Ngọc ngờ lan là gái, để
tâm theo dõi. Càng thấy mình đoàn trúng, Ngọc càng
đem lòng yêu. Lan không khỏi bồi hồi: ái tình nảy
nở trong tâm hồn cô gái đi tu ! lan đấu tranh để
khỏi sa ngã. Thái độ muốn dứt khoát, nhưng lòng
vẫn cứ yêu. Ngọc cũng chẳng gạt bỏ được mối tình.
Kết cục hai người xa nhau mà "yêu nhau trong
linh hồn trong lý tưởng"... và vẫn có thể gặp
nhau. Câu chuyện chỉ có thế : một chuyện tình "dưới
bóng từ bi Phật tổ"
Khái Hưng muốn miêu tả cuộc xung đột giữa ái tình
và tôn giáo. Trong cuộc xung đột hồi hộp và đau
đớn ấy, ái tình hẳn phải thắng. Dù không thắng hẳn,
nhưng cũng là thắng. Aïi tình thắng vì ái tình là
"bản tính con người ", chỉ có ái tình
mới đem lại hạnh phúc.
Viết "hồn bướm mơ tiên", Khái Hưng đã
đề cao ái tình trong trắng, cao thượng, tránh những
dục vọng thường tình. Ngọc yêu Lan, một tình yêu
chung thủỷ: :"tôi xin viện Phật tổ, tôi thề
với Lan rằng suốt một đời tôi, tôi sẽ chân thành
thờ ở trong tâm trí, cái tâm hồn dịu dàng của Lan".
Chúng ta hãy biết rằng, bất cứ bao giờ, đối với
một tình yêu chân chính, lòng chung thủy vẫn là
tốt đẹp và cảm động. Nhưng phải chăng ở đời ái tình
là trên hết ! Phải chăng suốt đời, người ta chỉ
nên sống trong cái thế giới mộng ảo của ái tình
dù là cái ái tình lý tưởng, ái tình "bất vong
bất diệt" như lời văn vẻ của Ngọc.
Thanh niên hồi bấygiờ, tuy đã lấy ái tình làm lẽ
sống, nhưng chưa đến nổi trụy lạc, trác táng, cái
lãng mạng của họ có chất mộng ảo, không tưởng nhiều.
Cố nhiên cái mộng ảo của thanh niên mất nước chỉ
có lợi cho bọn cướp nước.
"Hồn bướm mơ tiên" ca tụng ái tình, ái
tình trong sạch, chung thủy, ấy là dạo lên một khúc
nhạc được thanh niên mong chờ và một lý tưởng cao
cả bao trùm nhân loại và vũ trụ, mà lại không loại
trừ tình yêu hẳn là được bạn trẻ vồ vập lấy. Sách
không hề đả kích Phật giáo, có chỗø hầu như đề cao,
thì bọn thống trị chẳng cần ngăn cấm.
_ Tình yêu trong tiểu thuyết Tự Lực Văn Ðoàn có
tình "trong giây phút mà thành thiên thu"
như Loan và Dũng trong "Ðoạn tuyệt".
Dũng bất mãn về hoàn cảnh gia đình, yêu mà không
lấy được Loan, dọn đi ở một căn nhà tồi tàn ở xóm
lao động hẻo lánh. Người ta có gặp Dũng dăm ba lần:
lần Dũng bị tai nạn ô tô trong rừng, tình cờ gặp
xe Loan một lần trong dịp tết,một lần Dũng ngồi
trên khoan thuyền bùi ngùi nhớ tới Loan, một lần
Dũng đứng lẫn trong đám công chúng dự phiên tòa
và lần cuối cùng Dũng lại gặp Loan tại nhà chị giáo
Thảo, hai người hiểu rõ lòng nhau rồi gắn bó với
nhau như sở nguyện.
Viết "Ðoạn tuyệt" Nhất Linh đề cao tình
yêu lứa đôi, đó là tình cảm tự giác, tự nguyện đến
với nhau dù chỉ là giây phút ngắn ngủi nhưng trong
trắng và thủy chung.
_Tình yêu trong tiểu thuyết Tự Lực Văn Ðoàn, có
tình yêu mộc mạc thuỷ chung của Liên trong "Gánh
hàng hoa" của Nhất Linh và Khái Hưng.
Liên là một cô gái thùy mị, nết na, chăm chỉ làm
lụng, giàu lòng vị tha và đức hy sinh. Liên đã kéo
chồng tội lỗi ra khỏi vòng trụy lạc, sa đọa trở
về với tình yêu chân chính. Liên biết trân trọng
và gìn giữ hạnh phúc lứa đôi của mình.
Viết về tình yêu trong tiểu thuyết Tự Lực Văn Ðoàn,
các nhà văn đã đề cao tình cảm trong sáng thủy chung
của những chàng trai cô gái. Tình yêu của họ phải
vượt qua bao nhiêu những ràng buộc, khắc khe nhưng
họ luôn đấu tranh bảo vệ hạnh phúc của mình. Ðó
chính là điểm tiến bộ của tiểu thuyết Tự Lực Văn
Ðoàn.
Song bên cạnh những mối tình cao đẹp, thủy chung
thì cũng có những tình yêu "không còn có cái
gì gọi là thiên liêng nữa".
Ðó là tình yêu lén lút, vụng trộm của Nhung trong
"Lạnh lùng" của Nhất Linh. Tình yêu bông
lông tài tử của Nam "Ðẹp" của Khái Hưng.
Khái Hưng muốn miêu tả một tâm hồn nghệ sĩ: nghệ
sĩ tôn thờ cái "Ðẹp" chỉ vì nó là đẹp
và thực hiện cả cái triết lý ấy trong đời sống của
mình "Vẽ để mà vẽ .Ðó là nguyên tắc của chành
về hội họa. Ðược vẽ là đủ rồi, là sung sướng rồi,
chàng không cần phải hỏi và phải biết: vẽ để làm
gì ? .Một bức tranh chỉ có giá trị khi mình còn
đương vẽ, vẽ xong nó là cái khung vải bôi sơn".
Trong tình yêu, Nam cũng có những quan niệm khác
người: hoặc lấy vợ và thôi vẽ, hoặc vẽ tranh và
đừng lấy vợ. Trong "Ðẹp" tâm trí của Nam
là một tâm trí chẳng lành mạnh. Ðiều đó cũng thể
hiện đúng cái thế giới quan của các nhà văn lãng
mạn ở thời kỳ cuối. Tầm mắt của văn học lãng mạn
chẳng phóng xa nữa, nhà văn càng lui vào thế giới
bên trong, xa hẳn thực tại xã hội. Với họ, phong
trào quần chúng và cuộc đấu tranh về nghệ thuật
đã là chuyện cũ rồi. Ðời sống của dân nghèo thành
thị và thôn quê chẳng lưu ý họ nữa. Chẳng còn những
băn khoăn, thấp thỏm, ít nhiều dính liúu đến thời
đại đến dân tộc ! Tất cả nhân sinh, tất cả xã hội
chỉ thu hình trong Cái Tôi" bé nhỏ ốm yếu.
Ðề tài eo hẹp lại, chủ đề quanh co đi, nội dung
bắt đầu đã thấy khó khăn bế tắc.
Nếu cuốn "Tối tăm" của Nhất Linh đã vạch
cái vô nghĩa của xu hướng nghệ thuật vị nghệ thuật,
thì truyện "Ðẹp" của Khái Hưng ra đời
sau, lại điểm tô cho xu hướng ấy. Nếu Hoàng Ðạo
đã tìm "Con đường sáng", nếu Nhất Linh
đã tạo "Ðôi bạn" thoát li gia đình để
làm Cách mạng (dù là cách mạng để mua cái quên)
thì chính Nhất Linh lại viết "Bướm trắng"
chuyên tả một thanh niên xa đoạ.
Nam ít ra còn hâm mộ cái đẹp, cái đẹp hình thức,
phần nào cái đẹp tinh thần. Trương của Nhất Linh
trong "Bướm trắng" thì độc đáo đến thành
quái gở. Nhân vật khác thường này đã tụt xuống hố
sâu nhơ bẩn.
Trương yêu Thu "Trương nghĩ lại mới thấy tình
chàng yêu Thu không có một lí nhẽ gì sâu xa, một
căn bản gì chắc chắn cả. Chỉ là một ảo tưởng gây
nên một vài sự rủi ro; lần đầu trông thấy Thu là
Thu đẹp não nùng trong bộ áo tang ... Thu lại có
vẽ đẹp giống Liên, người mà trước kia chàng đã yêu...".
Ơí tù ra chàng hy vọng Thu vẫn yêu chàng và chàng
tính toán như sau "... giờ chỉ còn một cách
là rủ Thu đi trốn. Phải đấy, không xong thì ta sẽ
về làng lấy Nhan". Trương đã thay người yêu
như thay áo và Trương luôn luôn có ý muốn lạ lùng
"làm cho nhân phẩm mình mất dần đi". Trương
đặt tình yêu lên trên cả dư luận xã hội, trên cả
nhân phẩm: " yêu nhau đến không cần gì cả,
không kể đến cha mẹ, đến xã hội. Chẳng biết Thu
có là người yêu đến bậc ấy không. Mình thụt két
mà Thu yêu mới là yêu.
Nhân vật Cảnh trong "Thanh đức" cũng
giống Trương, hai nhânvật này bổ sung cho nhau để
hoàn thiện bản chất thô bạo, đểu cáng một cách trắng
trợn. Cảnh thay đổi tình nhân như thay đổi áo sơ
mi. Hắn dùng vũ lực, dùng tiền bạc để chiếm đoạt
tình nhân của bạn. Ðối với hắn ở trên đời này "không
còn cái gì đáng gọi là thiên liêng nữa, nếu ta muốn
dành chữ thiên liêng cho một cái gì".
Tình yêu trong tiểu thuyết Tự Lực Văn Ðoàn đi từ
lãng mạn đến suy đồi là một hiện tượng có tính quy
luật và dễ hiểu.
Từ những nhân vật tích cực như Mai, Loan, từ những
tình cảm tốt đẹp Ngọc, Loan, Liên, tác giả mau chóng
chuyển sang những nhân vật do dự, giỏi chịu đựng
hơn là ít đấu tranh như Hồng, Nhung ... vấn đề chống
lễ giáo phong kiến chỉ một vài năm sau lùi dần vào
dĩ vãng. Và cuộc đấu tranh bằng văn hóa chống phong
kiến chỉ xảy ra trong phạm vi lễ giáo. Ðối với chế
độ chiếm hữu ruộng đất cái gốc của lễ giáo phong
kiến tiểu thuyết Tự Lực Văn Ðoàn không đề cập đến.
Tiểu thyết Tự Lực văn Ðoàn chỉ chống đối với bộ
phận hủ bại nhất của giai cấp phong kiến ngăn trở
hạnh phúc cá nhân.
Về văn học lãng mạn, Ðặng Thai Mai nhận định: "Phần
đông các nhà văn vẫn sung sướng ẩn nấp sau cái biểu
ngữ "không làm chính trị" để lao đầu vào
con đường "tự do chủ nghĩa" và ca ngợi
tự do ái tình, tự do cá nhân và chủ nghĩa anh hùng
viển vông. Tất cả cống hiến của văn chương thời
này là những tìm tòi về kỹ thuật biểu hiện và những
cố gắng để phân tích tâm lý của con người tiểu tư
sản" (nghiên cứu văn học số 1-1960)
2. Xu hướng bình dân:
Thời kỳ mặt trận dân chủ do Ðảng công khai lãnh
đạo. Trên văn đàn công khai, văn học lãng mạn không
còn ưu thế nữa. Nó không phù hợp với thực tế xã
hội sôi nổi với quần chúng lao động đấu tranh, với
tâm lý độc giả ít nhiều đổi thay. Nhưng nó vẫn còn
ít nhiều độc giả tư sản và tiểu tư sản thành thị,
do đó những tac phẩm lãng mạn vẫn kế tiếp nhau ra
đời.
Mặt khác, cho khỏi lạc lõng, văn học lãng mạn chạy
theo phong trào bình dân: nó gượng thích nghi với
hoàn cảnh mới để dễ tồn tại.
Tự Lực Văn Ðoàn dù muốn "tự lực" đến
thế nào cũng chịu sức tác động của Mặt trận dân
chủ. Họ phải khuôn theo sự chuyển hướng trong công
chúng. Họ thêm mục "Bùn lầy nước đọng"
chuyên viết về dân quê. Năm 1939, Hoàng Ðạo, tác
giả cuốn "Con đường sáng", công bố "10
điều tâm niệm" bàn về đạo làm người : con người
phải hoàn toàn theo mới, tin ở sự tiến bộ, sống
theo một lý tưởng và làm việc xã hội. Tiểu thuyết
Tự Lực Văn Ðoàn trong thời kỳ này, muốn tỏ ra nặng
khuynh hướng xã hội, băn khoăn đền bình dân. Nói
chung gọi là "xu hướng bình dân" của họ
chỉ vươn lên được đến cái mức cải lương xã hội mà
thôi.
"Hai vẻ đẹp" của Nhất Linh, nó đặt lên
câu hỏi: giữa hai vẻ đẹp, vẻ đẹp vị nghệ thuật và
vẻ đẹp vị nhân sinh, thì vẻ đẹp nào đẹp hơn ? và
nó giải đáp rằng đẹp vị nhân sinh mới thật là đẹp.
Vốn con nhà nghèo, Doãn vào làm em nuôi bà Thượng,
được sang Pháp du học, thi đỗ cử nhân luật . Nhưng
chàng không chịu ra làm quan, suốt ngày chỉ mải
mê vẽ tranh. Dần dầìn Doản đi về nông thôn để vẽ,
hóa ra gần gũi với những nỗi khổ của dân quê, như
cảnh khổ cực, tiều tụy của nông dân hiện ra trước
mắt: "mấy mảng bè rau rút màu xanh già, mùa
thu rắc hoa vàng lấm tấm, lại càng tăng vẻ bẩn thỉu
của cảnh ao tù..." .Và cảnh : "một đứa
bé con trần truồng đi ra cầu ao bụng to và hai chân
lẳng khẳng trông tựa một con nhái dựng đứïng".
Lòng thương người ở Doản ngày một tăng, Doản không
thể dửng dưng trước cuộc đời. Cuộc đời mải mê hình
sắc trước kia đối với Doản thanh cao biết bao !
nay Doản không dám tự hào về nó. Cuộc đời như thế
đã trở thành vô nghĩa. Không những thế Doãn còn
thấy nghệ thuật thuần túy của mình là bước tường
ngăn cách của mình với cuộc sống thực, cũng như
cuộc sống giàu sang của bà mẹ nuôi Doãn là một bức
tường ngăn Doãn với người bình dân "Doãn so
sánh túp nhà lụp xụp ở hai bên vệ đường với mái
nhà gạch cụ Thượng đỏ tươi lẩn sau chùm lá hoàng
lan".
Cho nên Doãn phải sống một cách khác! Phải sống
vì dân quê, để phục vụ dân quê. Thế là tâm hồn Doản
trở về với dân quê, tự nguyện xây dựng hạnh phúc
cho dân quê. Doãn tìm thấy bạn chí tình của mình
ở dân quê lầm than, khác nào Doãn tìm thấy nguồn
sống ở cái hình ảnh dịu dàng của người mẹ đau khổ.
Giữa hai vẻ đẹp, vẻ "đẹp vì đẹp" của
người họa sĩ không biết gì khác ngoài hội họa, với
vẻ đẹp của người đem tân trí hoạt động vì bình dân.
Doãn không do dự đã trả lời vẻ đẹp nào là đẹp hơn,
ít ra, Doãn cũng thấy vẻ đẹp sau quả là đáng quý
và có thể đem lại hạnh phúc cho mình.
Chủ đề tác phẩm tốt vì nó mượn ở cuộc đấu tranh
tư tưởng do Ðảng lảnh đạo. Ở đây vẫn là câu chuyện
cái "tôi", cái "tôi" đi tìm
hạnh phúc. Không tìm hạnh phúc được ở nghệ thuật
thuần túy thì tìm hạnh phúc ở con đường phục vụ
bình dân. Hiện thực khách quan miêu tả trong tác
phẩm chỉ là mấy cảnh nghèo thường thấy ở thôn quê.
Tất cả là những diển biến trong tâm hồn nhân vật.
Sự thay đổi chí hướng quá mau, phần nào gượng ép:
một số điều mắt thấy tai nghe, gợi lên những cảm
nghĩ cần thiết, dẫn đến sự đột biến trong tư tưởng!
Tâm lí của một thanh niên đi chệch hướng, nay chợt
tỉnh, ù té chạy theo phong trào! Doãn gần gũi người
nghèo, vì Doãn vốn là con nhà lao động. Nhưng Doản
đã sống xa nông thôn từ thuở bé, cần phải được tiếp
nhận cái sức nóng hổi của cuộc sống thực, cần được
rèn luyện trong thực tế đấu tranh mới có thể đi
tới một chí hướng sâu sắc được. Người ta thấy thiếu
cái sức nóng hổi ấy, thiếu cái cơ sở hiện thực quí
giá ấy. Hình tượng ở đây khuôn theo luận đề, mới
minh hoạ được mệnh đề, chứ chưa biến cái luận đề
thành một chất sống.
Hơn nữa, Doãn trở lại với nông dân, mà còn đứng
trên sẳn sàng ban ơn xuống, không để nông dân như
"xác còn vờ" chẳng ai chăm sóc tới. Hẳn
Doản nghĩ đó là nhiệm vụ của người tài trí và sẳn
tiềún !. Ðiều dự định của Doản gắn chặt với tình
thương mẹ, một người cố nông đau khổ, nó khiến ta
cảm động song nó không khỏi làm ta còn dè dặt.
Sau những suy nghĩ lao lung, Doản mới có một lời
tự hứa, chưa rõ Doản sẽ làm gì. Tác phẩm chấm hết,
để lại cho người đọc một mổi băn khoăn là bởi cái
hướng còn mơ hồ quá, chính tác giả cũng chẳng rõ
Doãn sẽ làm gì !.
Doản cũng đến như Duy trong "Con đường sáng"
như Hạc và Bảo trong "Gia đình"
"Con đường sáng" của Hoàng Ðạo viết năm
1938. Hoàng Ðạo quan niệm : thanh niên trụy lạc
thì đau khổ. Họ phải sống có lí tưởng. Họ phải thóat
con đường tối, con đường trụy lạc, đi tìm "Con
đường sáng" . Con đường sáng ấy là ở cuộc sống
phục vụ dân quê. Nó gập ghềnh khúc khuỷu. Phải kiên
trì đi tới mới thành công và có hạnh phúc. Ðó là
tư tưởng chủ đạo của Hoàng Ðạo, tác giả truyện "Con
đường sáng", người đã viết "mười điểu
tâm niệm"
Duy một thanh niên có học, con nhà giàu và đã lao
vào con đường trụy lạc. Nhưng Duy sớm nhận ra được
sự trống rổng trong cuộc đời. Có lúc Duy muốn quyên
sinh. Duy lo sợ những ngày sắp tới Duy mơ ước một
cuộc đời giản dị, trong sạch. Duy tha thiết sống
và tình yêu của thơ khiến cho Duy càng tha thiết
với sự sống hơn.
Gần thơ, gần cuộc sống nơi thôn dã, dần dần Duy
đã nhận thấy : " cái vui ở trong công việc
ngày mùa, cái vui trong sạch nó đợi chàng từ lâu
..." Duy thoáng nghĩ tới "Con đường sáng"
: "những người thợ mạnh khỏe kia đã vô tình
đem lại cho chàng một lối sống mới, một con đường
đi đến hạnh phúc".
Muốn rứt bỏ đời trụy lạc, Duy tưởng đến tìm hạnh
phúc ở thôn quê, ở "sự trong sạch ở linh hồn
và thể phách" , "Chốn thôn quê yên tĩnh
này sẽ làm cái tổ ấm áp của con chim bấy lâu bay
mỏi ở những rừng xa, xứ lạ, vẩn vơ tìm cái hạnh
phúc nó vẫn đợi sẵn ở đây"
Quan tâm đến đời sống của nông dân, Duy buồn rầu
nhận thấy những nổi khổ cực của họ. Cảnh "hai
đứa bé gầy gò như hai cái que, bụng ỏng chảy xuống,
thò tay vào rá bốc cơm, một thứ cơm bay lên một
mùi mốc như mùi của rơm rác", làm cho chàng
phải nghĩ ngợi.
Duy đi tìm lí tưởng, lí tưởng đó là :"làm
dịu nổi đau khổ của nông dân, đưa những người sống
tấm thảm kịch kia đến một đời êm đẹp"
Thế là Thơ và Duy bắt tay vào công việc. Nhưng
công việc to lớn, khó khăn quá :"xung quanh
thành kiến mạnh mẽ và kiên cố quá, sự ngu độn dày
đặc quá. Duy có cái cảm tưởng rằng mình chỉ là một
con ruồi mắc trong một cái mạng nhện, vùng vẫy mãi
không sao thoát ra được.
Duy thấy cái nguyên nhân của mọi sự đau khổ của
nông dân là ở sự ngu dốt, mà ngu dốt là tại không
được học :"Duy nghĩ đến dân quê, nhớ lại gian
phòng sách và vui mừng đã hiểu nguyên nhân giản
dị của sự ngu muội đè lên tâm trí người nghèo khổ....
và Duy đã nhận thấy : "nổi thống khổ của dân
quê chàng trông như một trái núi lớn, sừng sững,
bất di bất dịch và sự ngu muội của dân quê như mây
đen bao phủ lấy ngọn không biết tự bao giờ nhưng
dày đặc như đêm tối ... chàng cảm thấy cái yếu đuối,
cái hèn mọn của con người trước trái núi sừng sững
ấy...". chính bởi cái xu hướng "bình dân"
của tác phẩm không phải là xu hướng cách mạng, cho
nên :"sau một giây mộng tưởng ngắn ngủi. Duy
càng thấy vô vị chua cay của thực tế; ở đây chỉ
có chàng với cái yếu đuối cái hèn mòn ..."
"Con đường sáng" của Hoàng Ðạo viết vào
thời kỳ mặt trận dân chủ, giữa lúc quần chúng đấu
tranh đòi quyền lợi của mình, "Con đường sáng"
con đường cải lương tư sản - chỉ đem lại một ảo
tưởng nguy hiểm. Chúng ta mong thanh niên thoát
con đường tối nhưng cũng mong họ đi vào "con
đường sáng thực sự "
Cũng như Doãn trong "Hai vẻ đẹp", Duy
trong "Con đường sáng", Bảo, Hạc trong
"Gia đình" của Khải Hưng viết 1936. Khải
Hưng đã đối lập cuộc sống được miêu tả như là sự
thanh thản, đầy hạnh phúc của cặp vợ chồng Hạc,
Bảo "làm ruộng", với cuộc sống nhỏ nhen,
kình địch về địa vị xã hội của những anh chị em
trong một đại gia đình phong kiến. Hạc đang học
"Ðốc tờ", bỏ về ấp cùng với Bảo thực hiện
những công cuộc cải cách ở ấp mình để nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần dân quê. Họ tuy vẫn thu
tôì nhưng sau khi đã nạp đủ thuế còn lại bao nhiêu
đem dốc cả vào công việc cải thiện đời sống cho
tá điền như phát thuốc, đắp đường, xây trường học,
sân vận động và dựng cả một khu nhà nghỉ mát. Như
tất cả những nhân vật thơ mộng khác của Khái Hưng,
Bảo và Hạc đã thành công một cách dễ dàng. Khái
Hưng dựng lên một hình ảnh hạnh phúc của Bảo như
sau:
"Bảo ngước nhìn con chim chích chòe đương
phưỡn ngực cất đuôi hót từng nhịp dài. Bảo so sánh
cái sung sướng hồn nhiên của mình với tiếng hót
vui vẻ của con chim một buổi sáng xuân êm mát..."
Bảo và Hạc sống thỏa mãn, thanh thản trong công
cuộc từ thiện ấy :"Hạnh phúc của họ tức là
hạnh phúc của ta... còn gì sung sướng bằng trông
thấy ở trước mắt những người dân quê mặt mũi sạch
sẽ, nô đùa trò truyện thảnh thơi..."
Các nhân vật trong tiểu thuyết Tự Lực Văn Ðoàn
cũng có khi họ nhìn thấy đại gia đình phong kiến
đang bóc lột những người dân quê. Thu cảm thấy:
" cốc sâm banh ngon ngọt. Chiếc áo sa tanh
bóng nhoáng, chiếc nhẫn kim cương mà ta tặng cho
Liên, những thứ xa hoa ấy là do tá điền của ta,
do mồ hôi của bọn sống lam lũ cầm hơi ấy mà ra cả
..." (Mái nhà tranh) . Doãn nghĩ : " tiền
ăn học của mình, cuôc sống vật chất của ba cô em
là của nông dân súc tích lại" ( Hai vẻ đẹp).
Dũng ngậm ngùi nhận xét : "trong gia đình không
có một người làm một việc gì cả mà người nào cũng
sống phong lưu sang trọng" (Ðôi bạn).
Tóm lại trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam bấy giờ,
trước cảnh nông dân bị bóc lột tàn tệ, những suy
nghĩ nói trên là tiến bộ. Nhưng dù sao nó cũng chỉ
mới là những nhận thức của những trí thức bất tự
trọng. Những nhận thức ấy chưa thóat khỏi quĩ đạo
tư sản và những nhận thức ấy không ít những phức
tạp, chính đó là sự phức tạp của tiểu thuyết Tự
Lực Văn Ðoàn. Có lúc thì tỏ ra trân trọng quí mến
người nông dân, có lúc lại tỏ ra khinh bỉ miệt thị
người nông dân. Doãn cho rằng : "xã hội dân
quê bao giờ cũng nghèo xơ, nghèo xác như bây giờ.
Hai mươi năm trước đây cũng vậy. Hai mươi năm sau
nữa cũng thế này thôi. Không có chút hy vọng gì
về một sự đổi thay và kịch liệt như một trận gió
mạnh nổi lên thổi sạch hết bụi cát, rơm rác".
(Hai vẻ đẹp) đối với Dũng thì cho nông dân quen
sống với cảnh khổ :"không hề khao khát một
cuộc đời sáng sủa hơn, mong ước một ngày mai tươi
đẹp hơn ngày hôm nay". (Ðoạn tuyệt). Những
nông dân ấy còn là Hai Lẫm bị địa chủ đánh đau chết
cha chết mẹ, sưng bươu cả đầu lên mà vẫn đinh ninh
rằng "cụ lớn đánh con là cụ lớn thương...thế
mới biết cụ lớn còn khỏe" (Ðôi bạn). Ðó là
những người nông dân Nhiêu Tích (trong truyện ngắn
May quá) Sửu (trong truyện ngắn hai cảnh Ngoài phố)
khờ khạo đến ngớ ngẩn, thật thà đến dại dột. Ðó
còn là Bìm (trong truyện ngắn Hai chị em). "An
phận như một con lợn không tư tưởng... mà đời nàng
với những con lợn kia không biết đằng nào gía trị
hơn đằng nào đáng sống hơn"
3. Người "Chiến sĩ cách mạng" :
Tiểu thuyết Tự Lực Văn Ðoàn bao giờ cũng muốn thể
hiện vai trò lịch sử của mình. Vai trò của ý thức
hệ tư sản Việt nam bao gồm hai mặt: phản đế và phản
phong. Ðến thời kỳ này đối với đế quốc ý thức đó
hoặc tìm cách thỏa hiệp hoặc lẩn dài, chạy trốn.
Tính chất thoát li của văn học lãng mạn thì đã rõ,
đủ các nẻo đường như thoát ly vào tình yêu, vào
mộng ảo, tiên giới. Cuộc đấu tranh bằng văn hóa
chống lề giáo phong kiến hoặc ước mơ cải lương tư
sản đều mang tính chất thoát li ấy. Xu hướng ấy
Dũng và những người "đồng chí" của anh
hiện lên như Trúc, Thái, Tạo, Xuân, Cận... (Ðôi
bạn)
Dũng "Ðoạn tuyệt" được miêu tả như là
một thanh niên "có tâm trạng" sau khi
bải khóa bỏ học về nhà, Dũng đau khổ vì "phải
sống trong một cảnh giàu sang không đích đáng"
tự cho mình "không có quyền hưởng và không
muốn được hưởng", "Dũng thấy sự giàu sang
của bản thân và của cả nhà như là một cái nhục".
Dũng bất mãn vì mối quan hệ không hợp lý giữa cha
mình và những người tá điền. Với tâm trạng day dứt
ấy, Dũng đã ra đi, bỏ lại cuộc sống sung sướng đầy
đủ mà những kẻ tầm thường cho là hạnh phúc, bỏ lại
mối tình của Loan. Dũng cùng với Trúc vượt biên
giới sang trung Quốc và định sang cả Liên Xô.
Người cách mạng trong tiểu thuyết Tự Lực Văn Ðoàn
là tính chất lãng mạn. Ðộng cơ yếu ớt, cái nhìn
bi quan, tấm lòng phiền não như ta đã nhận xét.
Thái đi làm cách mạng vì "không biết làm gì
nữa thì liều lĩnh", vì "chán cả sự đời,
không tin ở sự việc của mình nhưng lúc nào cũng
hoạt động để cố vượt khỏi sự buồn nản bao phủ dày
đặc quanh mình"
Tạo bỏ nhà đi hoạt động vì ghét " các bà gì
quanh năm hạch sách, vì chê vợ mình vừa béo, vừa
rỗ, vừa đen" họ chạy theo một thứ hạnh phúc
đặc biệt khó kiếm. Ðể thoả mãn thất vọng, họ tìm,
tìm mãi. Tìm mãi chẳng được họ đành mưu cái quên
bằng con đường khác thường, cuộc sống mới lạ. Ðời
cách mạng là nơi trú ẩn cá nhân. Ðời cách mạng là
một ước mơ huyền ảo: đến khi thực hiện họ thấy đau
khổ và chán nản : "họ đối với nhau chỉ có một
giây liên lạc chung là tình bạn hữu, còn ngoài ra
mỗi người đi theo một ngã đường, sống theo một cảnh
đời riêng, yếu ớt, rời rạt. Thỉnh thoảng lại nghe
tin một người trong bọn chết đi hay bị tù tội, rồi
ai nấy trước số mệnh chỉ việc cúi đầu yên lặng nơm
nớp đến lượt mình". Vốn là sản phẩm của một
ý thức hệ tư sản và tiểu tư sản đương thời bạc nhược
đầu hàng, những hoạt động của Dũng và những đồng
chí của anh ta không hơn "một tiếng thở dài
chống chế độ thuộc địa" (Trường Chinh).
Một nước thuộc địa nửa phong kiến như Việt Nam
"muốn hành động để cho đời mình và đời những
kẻ khác có thể đẹp đẻ hơn , tươi sáng hơn"
(Ðôi bạn) thì chỉ có một con đường duy nhất là đánh
đổ đế quốc và phong kiến theo đường lối của Ðảng
thì mới hạnh phúc được.
Con đường cách mạng mà giai cấp tư sản đã tự gạt
bỏ mình từ sau khời nghĩa Yên Bái thất bại. Nhìn
vào thế giới quan và nhân sinh quan của các nhà
văn Tự Lực Văn Ðoàn thì làm sao làm được cách mạng.
Chính vì thế mà hành động của Dũng và các "đồng
chí" của Dũng khá mơ hồ. Họ cũng bí mật, cũng
xuất dương, cũng vuợt ngục. Nhưng mục đích cách
mạng thế nào, đối tượng cách mạng ra sao thì hoàn
toàn không biết: "...lần này nhảy ra cũng là
nhảy ra chổ mờ mờ không biết rỏ. Nhưng cần gì, đời
là thế, mình có khi cũng phải liều chơi..."
(Ðôi bạn)
Ðây là hành động của một kẻ liều lĩnh, không tin
vào mình không tin vào ngày mai. Họ hoàn toàn bi
quan luôn mang một tâm lí thất bại chán chường.
Họ khác xa những người cách mạng chân chính về tâm
tư, ý nghĩ và hành động. Người chiến sĩ cộng sản
trong "Từ ấy", trong "Nhật ký trong
tù" theo đuổi một đường lối cách mạng đúng
đắn, gắn mình với quần chúng, họ có một tư thế hiên
ngang, một niềm tin sắt đá, một thái độ tự hào,
một tinh thần lạc quan của những người chiến thắng.
Tóm lại, những nhân vật "cách mạng" là
những đứa con tinh thần của Tự Lực Văn Ðoàn. Họ
cũng là những con người khí khái, có lòng tự trọng
đã để lại trong lòng người đọc nỗi ngậm ngùi tủi
cực của những kẻ chiến bại. Những nhà văn Tự Lực
Văn Ðoàn mang ý thức hệ tư sản, vốn ốm yếu bạc nhược
làm sao tạo dựng được những nhân vật có sinh khí
để chống đế quốc. Ðiều đó là tất yếu.
IV. NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT TỰ LỰC VĂN ÐOÀN
Tiểu thuyết Tự Lực Văn Ðoàn là sản phẩm ý thức
hệ tư sản Việt Nam những năm 1930- 1945 văn học
của ý thức hệ tư sản do yêu cầu phải biểu hiện những
con người của giai cấp nó đòi hỏi phải có một sự
đổi mới cả về nội dung và hình thức nghệ thuật.
Trong Tự Lực Văn Ðoàn nghệ thuật của Nhất Linh
vững vàng nhất. Các nhà văn của nhóm này, học hỏi
nhiều ở văn học Tây phương, một trình độ tương tự
nhau, họ đã chịu ảnh hưởng sâu sắc chủ nghĩa lãng
mạn Tây phương.
Ðối với cái thực tại xã hội, thái độ của nhà văn
lãng mạn là thái độ chủ quan không phải cuộc sống
thế nào thì họ nhận thức thế ấy, trái lại tác giả
nhìn đời qua lăng kính của mình, qua những khát
vọng, những một tưởng của mình. Không lý giải được
hiện thực, không thấy rỏ con đường phát triển của
hiện thực, người cầm bút đưa ra những quan điểm
trừu tượng, những giải pháp không tưởng.
Khái Hưng thêu dệt "ái tình bất vong bất diệt",
nói đến "nhân loại" man mác, "vũ
trụ" bao la, hình dung những điền chủ "chỉ
sung sướng khi làm cho những người khác sung sướng".
Với Hoàng Ðạo cũng như với Nhất Linh muốn giải phóng
cho dân quê thì chủ yếu phải làm cho dân quê có
học. Hai truyện ngắn "Cái tẩy" và "Bóng
người trên sương mù" của Nhất Sinh gợi lòng
tin vào thuyết định mệnh. Ðó chính là những hạn
chế về tư tưởng triết học của tiểu thuyết Tự Lực
Văn Ðoàn.
Tiểu thuyết Tự Lực Văn Ðoàn đã có những đóng góp
nhất định về nghệ thuật: cách xây dựng tác phẩm,
sáng tạo nhân vật, phân tích tâm lí, hành văn.
Một đặc sắc của Nhất Linh là đã bằng một nghệ thuật
chắc chắn, hình tượng hóa những luận đề xã hội những
quan niệm trừu tượng. Truyện là truyện sống, ở đó
toát lên cái ý nghĩa xã hội, không phải là một cái
gì gó ép lên khuôn, để chứng minh cho một định đề.
Nhà văn đã quan sát một cách tỉ mỉ công phu nhân
vật trong tác phẩm "Hai vẻ đẹp" rất sống
với tâm hồn của họ , ngôn ngữ cử chỉ hành vi của
họ. Tâm sự của Dũng là tâm sự của Nhất Linh, vơ
chồng chị giáo Thảo, Trúc, Thái , Tạo... những bạn
thân của Nhất Linh. Khi đọc tác phẩm người ta ít
cảm thấy cái phần hư cấu, cái phần giả tạo. Cố nhiên
là cái hiện thực có mức độ, có giới hạn, qua con
mắt và tâm tưởng của người trí thức tư sản xuất
thân từ gia đình phong kiến. Về điểm này Nhất Linh
cũng giống như Khái Hưng nhưng Nhất Linh vận dụng
lý thú hơn, có những ý định táo bạo hơn. Cho nên
cùng với những ưu điểm của Khái Hưng, Nhất Linh
còn nâng cao ý nghĩa xã hội và tác dụng đả phá của
tác phẩm lên một mức. Luận đề ở đây thúc đẩy nghệ
thuật thêm sắc bén. Luận đề không gò ép hình tượng;
trái lại hình tượng làm nổi bật luận đề, làm cho
luận đề có máu thịt và sức sống.
Văn của Nhất Ling có nhiều tính chất lí trí nhưng
không khô khan. Ngọn bút vẫn được điều khiển chắc
tay; mỗi lời viết ra đều qua sự kiểm tra thận trọng.
Trên trang giấy, dòng tư tưởng chảy từ từ dưới một
hình thức bình dị mà điêu luyện. Không rườm rà chi
tiết, không ôm đồm tham lam, bao giờ cũng hợp lý
và sáng sủa. Nhà văn Vũ Ngọc Phan nhận xét: "văn
Nhất Linh nửa giản dị nửa đài điếm" (nhà văn
hiện đại) theo Trương Chính: "Lối hành văn
của Nhất Linh là lối hành văn thi vị, thi vị ở ý
mà ít ở lời" (lược thảo văn học lịch sử Việt
Nam ). Chúng ta hãy đọc một vài đoạn văn dưới đây
của Nhất Linh: "gió bỗng thổi mạnh hơn. Một
chiếc buồm hiện ra in lên nền trời như cánh một
con bướm nâu khổng lồ. Một ít nắng vàng nhạt rung
động trong nếp cánh buồm" (Ðôi bạn)
Ðã từng sống ở thôn quê, Nhất Linh tả tiếng động
như thế này: " ở ngoài vườn tiếng ếch, nhái
ran lên từng loạt, thỉnh thoảng có tiếng chẫu chuộc
nghe lõm bõm như tiếng chân rút mạnh của một người
lội trong bùn" (Bướm trắng)
Bày tỏ một cảm tưởng, một phán đoán, tác giả vận
dụng cả thị giác và vị giác, làm cho hình ảnh thêm
rõ nét và đậm đà: "nết mặt thiếu nữ, Trương
thấy kiêu hãnh một cách ngây thơ và vẻ kiêu hãnh
lại làm cho sắc đẹp của thiếu nữ có ý vị hơn lên
như chất chua của một quả mơ" (Bướm trắng)
Và đây là nét tinh vi của một tâm hồn lãng mạn,
diển tả bằng một hình ảnh thanh tao. Dũng có người
yêu nhưng dấu cả bạn thân : "Dũng thấy rằng
tấm tình yêu của chàng như một ngôi sao nhỏ ở một
góc trời chỉ riêng đẹp, riêng quí đối với chàng
và chính chàng đã chọn nó và không cho ai biết"
Nhất Linh ngó sâu vào mâu thuẫn trong tâm hồn,
trong tấn bi kịch âm ỉ, đôi lúc bùng ra, luôn luôn
có sức hấp dẫn mâu thuẫn giữa cá nhân và gia đình
như "Ðoạn tuyệt", "Ðôi bạn";
chí hướng và hoàn cảnh như "Ðôi bạn" lòng
ham sống và bệnh hoạn "Bướm trắng"; trụy
lạc và nhân phẩm như "Bướm trắng"; tinh
thần nghệ sĩ và đầu óc hoạt động "Hai vẻ đẹp".
Ðặc biệt cuộc xung đột giữa mới và cũ, sự đối lập
giữa cảnh giàu và cảnh nghèo được tác giả chú trọng
miêu tả với một giọng văn chua chát và ý nhị.
Tiểu thuyết Tự Lực Văn Ðoàn đã loại bỏ lối kết
cấu chương hồi tìm đến với lối kết cấu hiện đại.
Ðó là lối kết cấu không theo trật tự thời gian,
không lần lượt nối tiếp nhau. Câu chuyện có thể
men theo tâm lý nhân vật và cũng có thể đột ngột
chuyển từ nhân vật này qua nhân vật khác. Tiểu thuyết
Tự Lực Văn Ðoàn thường kết thúc một cách tự nhiên,
có khi ở chỗ đáng hết nhưng cũng có khi đột ngột
dở dang. Tác phẩm đã chấm hết mà hình như câu chuyện
vẫn còn. Kết thúc có thể vui cũng có thể buồn, có
khi cả vui lẫn buồn, có khi không vui không buồn.
Khuynh hướng chung của tiểu thuyết Tự Lực Văn Ðoàn
là lãng mạn tiêu cực về tư tưởng, cải lương thỏa
hiệp về chính trị. Do đó các kết cấu gần giống nhau
đơn điệu, gượng gạo.
Các nhà văn Tự Lực Văn Ðoàn đã thành công trong
kỹ thuật xây dựng nhân vật và có ý thức xem nhân
vật là trung tâm của tác phẩm. Họ đi sâu vào tâm
lý nhân vật, chú trọng đến cuộc sống nội tâm nên
nhân vật có hồn như nhân vật Doãn "Hai vẻ đẹp";
Duy "Con đường sáng"; Dũng "Ðôi bạn".
Các tác giả chú ý đến lớp người mới như ông Tham
tá; ông đốctờ; sinh viên cao đẳng; họa sỹ; thiếu
nữ đẹp thông minh duyên dáng...Các nhà văn đã miêu
tả lời nói, cử chỉ một cách tỷ mỷ và mô tả một cách
sinh động nên khắc họa được rõ nét từng mẫu người
nhất định. Viết về các cô gái, các nhà văn miêu
tả một cách đa dạng: Loan thông minh sắc sảo, Liên
dịu dàng nết na, Mai kính đáo thâm trầm, Tuyết thì
lả lơi, Nhung thì nhẩn nhục, chịu đựng.
Sự đóng góp của tiểu thuyết Tự Lực Văn Ðoàn là
ở chổ biết khám phá nội tâm nhân vật, đưa ngòi bút
đi sâu vào phanh phui mổ xẻ những khía cạnh tinh
vi sâu kín của tâm hồn và đã biểu hiện được một
cách sinh động ro îràng, gợi cảm trên mặt giấy những
tâm hồn lắc léo, phức tạp ấy.
Các nhân vật của Nhất Linh thường haybăn khoăn,
suy nghĩ, bị day dứt bởi nỗi buồn thầm kín, nội
tâm phong phú hơn và diễn biến cũng phức tạp hơn,
đây chính là thành công của nhà văn. Khái Hưng thì
lại thành công khi xây dựng những nhân vật phản
diện - đại diện cho lễ giáo phong kiến.
Nhưng các nhân vật của tiểu thuyết Tự Lực Văn Ðoàn
không phải là những nhân vật điển hình. Muốn xây
dựng nhân vật điển hình, tác giả phải tôn trọng
cuộc sống chân thực, phải nắm được quy luật cuộc
sống. Do thiên kiến giai cấp, do yêu cầu của tiểu
thuyết luận đề, do bút pháp lãng mạn tiêu cực, muốn
cuộc sống thế nào thì miêu tả cuộc sống thế ấy,
nên những nhân vật chính trong tiểu thuyết Tự Lực
Văn Ðoàn có ít nhiều máu thịt nhưng căn bản đều
là những nhân vật tưởng tượng được nhào nặn theo
ý muốn chủ quan nhà văn hơn là hành động theo lô
gích nội tại.
Tiểu thuyết Tự Lực Văn Ðoàn đã mở đầu việc đưa
thiên nhiên tươi mát của đất nước vào văn học. Lịch
sử văn học Việt Nam, nhiều nhà văn đưa thiên nhiên
vào văn học như trong truyện nôm, tiểu thuyết của
Hồ Biểu Chánh ... nhưng đó thường là một thứ thiên
nhiên ước lệ. Các nhà văn Tự Lực Văn Ðoàn miêu tả
thiên nhiên với tất cả chi tiết màu sắc, đường nét.
Thiên nhiên trong tiểu thuyết Tự Lực Văn Ðoàn có
hương vị. Chúng ta thường gặp đây đó những cảnh
vật quen thuộc của quê hương đất nước với hương
vị ngọt ngào, đậm đà, những đồi cọ thoai thoải miền
Trung du những cánh đồng lúa chín chạy dài đến tận
chân trời, những ngôi chùa, quán nước, bến đò, cây
đa, hoa cau, hoa khế... đây là sắc và hương nơi
thôn dã: "cao vút trên từng không, những cây
cau thân thẳng và mảnh toả từng buồng hoa vàng xuống
một mùi thơm đậm đà, mộc mạc xen lẫn trong mùi thơm
phản phất thanh thanh của hoa chè: hai hương vị
đặc biệt nơi thôn dã" (Gia đình)
Cái đẹp trong tác phẩm của họ thường gắn với tâm
hồn mơ mộng. Các nhà văn Tự Lực Văn Ðoàn thường
mượn ngoại cảnh để tả nội tâm nhân vật "tác
giả không tả cảnh rườm rà, chỉ vài nét chấm phá
thanh đạm như những bức tranh thủy họa... cảnh trong
truyện nhuộm vẻ nào là tùy theo tâm hồn của những
người trong truyện. Cảnh đối với người có liên tưởng
nhịp nhàng linh động..." (tựa "Hồn bướm
mơ tiên")
Tiểu thuyết Tự Lực Văn Ðoàn đã chịu ảnh hưởng của
văn chương Pháp, đó là loại văn ngắn gọn, trong
sáng, chính xác, nhẹ nhàng, mềm mại. Các nhà văn
vẫn giữ được lối suy nghĩ và diễn tả Việt Nam, đương
nhiên cũng còn những câu văn lai căng.
Câu văn trong tiểu thuyết Tự Lực Văn Ðoàn có âm
điệu, nhưng âm điệu ở đây không phải là thứ âm điệu
đẽo gọt của các câu văn biền ngẫu, mà là thứ âm
điệu tự nhiên vốn có của tiếng Việt. Tiếng Việt
trong tiểu thuyết Tự Lực Văn Ðoàn là tiếng Việt
hiện đại, ngày nay đọc chúng ta ít thấy vướng.
Ngôn ngữ trong tiểu thuyết Tự Lực Văn Ðoàn thiên
về diễn tả những cái gì bóng baøy, sang trọng, tế
nhị, đôi khi văn hoa, kiểu cách của những tầng lớp
trên, thiếu cái khỏe khoắn, chắc nịch của những
người lao động. Tuy ngôn ngữ thông dụng nhưng là
thứ ngôn ngữ của tầng lớp tư sản, tiểu tư sản thành
thị có học chứ không tìm trong tiếng nói, cách nói
vô cùng trong sáng của nhân dân lao động nên nó
mau chóng trở thành mòn, sáo, đơn điệu.
Mặc dầu có những hạn chế trên, tiểu thuyết Tự Lực
Văn Ðoàn đã góp phần đáng kể vào việc hiện đại hóa
nền văn xuôi của chúng ta. Trương Chính nhận định:
"Tự Lực Văn Ðoàn đã đẩy mạnh phong trào văn
nghệ nước ta tiến tới"
V. KẾT LUẬN
Trong cuốn "Phấn đấu cho một nền văn nghệ phong
phú, dưới ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước và chủ
nghĩa xã hội", đồng chí Trường Chinh nhận xét:
"các nhà phê bình của ta còn tránh nói đến
những tác phẩm lãng mạn, vì chưa biết đánh giá thế
nào cho đúng" ( trang 60)
Quả vậy, văn học lãng mạn của ta khá phức tạp.
Nhưng ta có nhiệm vụ cần phải phê bình, đó là những
thiện chí tốt đẹp.
Khuynh hướng tiêu cực trong tiểu thuyết Tự Lực
Văn Ðoàn, trước hết là cái nội dung cá nhân chủ
nghĩa, ở thời kỳ đầu nó tự khẳng định được mình,
rồi sau đó tự hủy diệt đi đến cực đoan. Nhà văn
lấy cái tôi" làm trung tâm, chỉ đào sâu vào
thế giới bên trong, "càng đi sâu càng lạnh".
Cái tôi ấy biết phủ nhận thực tại đen tối nhưng
lại xa rời quần chúng, nó thoát li nên càng bế tắc.
Một số tác phẩm miêu tả cảm giác, dục vọng xấu xa,
tình cảm ươn hèn và một chủ nghĩa cải lương hời
hợt.
Nhưng theo ý kiến của đồng chí Trường Chinh trong
bản báo cáo của đại hội văn nghệ giúp cho ta một
phương hướng : " ta cần tránh, xu hướng lãng
mạn ngày trước, coi tất cả đều là sa đọa thoát li
" (trang 60 )
Chúng ta đã tìm thấy nhân tố tích cực nằm trong
tiểu thuyết Tự Lực Văn Ðoàn. Sự giải phòng cá tính
và tình cảm khỏi những trói buộc phong kiến ngàn
đời; lòng khao khát tự do, độc lập ( tuy có ngậm
ngùi, ai oán ); sự tìm tòi một lý tưởng cao cả để
phụng sự ( tuy chẳng thấy ); sự theo đuổi một hạnh
phúc chân chính (dù có rên rỉ, đau thương); xu hướng
trở về bản sắc dân tộc, truyền thống dân tộc.
Các nhà văn đã miêu tả có phê phán những cảch sống
thực của phong kiến, tư sản, quan lại; sự phản ánh
nổi đau khổ của trí thức thất nghiệp, của thanh
niên mất phương hướng, sự phản ánh cuộc sống lầm
than của người nghèo thành thị và thôn quê.
Các nhà văn xây dựng thành công các nhân vật phản
diện : địa chủ, gian tham, cường hào, ác bá, tư
sản giảo quyệt, sư cụ hổ mang, nhà báo không tôn
chỉ, mẹ chồng ác độc, mẹ ghẻ tai quái...
Trong cái xã hội đảo điên, mà thực dân là "cứu
tinh", địa chủ là "ân nhân", quan
lại là "phụ mẫu", tình là tiền, danh là
sĩ, dân lành sống cay cực người tốt không chổ đứng,
thì một chút cương trực, một chút vị tha, một chút
thanh sạch, một giọt lệ chân tình cũng là quý. Nó
làm cho con người đỡ bơ vơ và còn hy vọng. Ðó là
những điều đáng quý, đáng trân trọng ở tiểu thuyết
Tự Lực Văn Ðoàn.
TOP

|