| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Trương
Vĩnh Ký (1837-1898)
Về
Trương Vĩnh Ký Và Một Số Vấn Đề Văn Bản, Lối Nhìn
...
Nguyễn Vy-Khanh
Những năm cuối thế kỷ XX có một hiện tượng tiêu
cực và đặc biệt ngày càng trầm trọng, đó là việc
các nhân vật lịch sử và văn hóa Việt Nam liên tục
bị hạ bệ, vẽ trấu: Nguyễn Huệ, Gia Long, Nguyễn
Du, Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký, ... cũng như
một số lãnh tụ, tướng lãnh bất kể phe phái nào.
Có khi là những nỗ lực đi tìm sự thực lịch sử, có
khi là những đánh giá lại, có khi gián tiếp chửi
bới một chế độ, phe nhóm, có khi vì kỳ thị tôn giáo
hay vì mặc cảm, dị ứng, biến ứng, có người riêng
rẻ, lại có những tổ chức qui mô. Sự kiện 30-4-1975
đã chứng minh vai trò của "hoả mù" tuyên
truyền, phản thông tin trong cuộc chiến tranh đó!
Trong một tình cảnh chung của người Việt lúc này
sống chết với ... lịch sử, với hiện tượng hồi ký
tạp loại, nhất là tiểu thuyết lịch sử, dã sử. Dĩ
nhiên đó cũng là lý do trong nước gần đây (4-2000),
tại đại hội Nhà văn lần thứ 6, việc sáng tác về
các đề tài lịch sử đã được Ban Chấp hành Hội Nhà
văn đề ra như là một phương hướng nhiệm vụ cần thiết
cho ngũ niên tới, 2000-2005 (1). "Hoả mù"
cứ thế mà tiếp tục thôi ! Dĩ nhiên, Trương Vĩnh
Ký không thoát những đòn hỏa mù đó! Từ ngày ông
qua đời đến nay và qua nhiều cuộc đổi đời, đã có
nhiều công trình biên khảo và nghiên cứu về ông,
khen có chê có. Trong bài này chúng tôi với chủ
ý đặt lại một số vấn đề nghiên cứu căn bản, do đó
chỉ xin nêu ra một số sai lầm và nghi vấn về con
người và sự nghiệp Trương Vĩnh Ký, một người Việt
Nam-kỳ, theo đạo Thiên chúa, làm việc cho Pháp và
là người mở đường báo chí và văn học chữ quốc ngữ
ở hậu bán thế kỷ XIX. Ông sống đồng thời với Phan
Thanh Giản, Nguyễn Đình Chiểu, Tôn Thọ Tường, Phan
Văn Trị, ... nhưng mỗi người một cuộc đời khác nhau,
đại diện cho các khuynh hướng người Việt lúc bấy
giờ đối với thực dân Pháp thôn tính Nam-kỳ.
1 - Người ta thường phê phán Trương Vĩnh Ký làm
việc với kẻ thù ngoại bang tức người Pháp. Bước
đầu là làm thông ngôn cho Hải quân Pháp là những
người sẽ đánh chiếm lục tỉnh. Phê phán dễ nếu không
đặt vào hoàn cảnh của đương sự. Sau khi đi tu đạo
Thiên-Chúa không thành và du học từ năm 14 tuổi
ở Poulo Penang, ông về thọ tang mẹ năm 1858 (2),
lúc đó 21 tuổi và nay mồ côi cả cha lẫn mẹ, cũng
là lúc triều đình vua Tự Đức gay gắt cấm đạo, từ
năm 1848 đến năm 1861 sáu lần ra chiếu cấm đạo,
như chỉ dụ 13 (1860) nói rõ không cho người theo
đạo làm quan chức và nếu đang làm quan phải bỏ đạo
nếu không sẽ bị hình phạt ("thắt cổ chết ngay").
Có đạo là một "tội hình", Trương Vĩnh
Ký sẽ làm nghề gì nếu không làm rẫy ruộng, nhưng
ông lại mồ côi, không thân thích! Năm 1860, sau
khi trốn khỏi trường Cái Nhum nơi ông tá túc và
dạy trẻ em, vì bắt đạo, ông phải trốn lên Sài-Gòn
ở và làm việc cho giám mục Lefèbvre, nên khi người
Pháp cần thông ngôn gấp vì không thể tiếp xúc với
dân chúng, chính giám mục này đã tiến cử Trương
Vĩnh Ký làm thông ngôn cho trung tá Hải quân Jauréguiberry,
tư lệnh Sài-Gòn. Lúc này thành Gia-Định đã thất
thủ, Trương Vĩnh Ký lập gia đình năm 1861 ở Chợ
Quán. Nhưng công việc này không được lâu vì Trương
Vĩnh Ký đã có thái độ và quyết tâm làm theo ý nguyện
của ông. Theo một tài liệu ông Nguyễn Đình Đầu mới
tìm thấy, Trương Vĩnh Ký từng tỏ ra dù hợp tác với
Pháp, vẫn cho họ biết ông có con đường của ông.
Một bức thư của chỉ huy trưởng D'Ariès gửi đô đốc
Charner đề ngày 21-5-1861 đề cử Trương Vĩnh Ký :
"trong số người Nam nói được ngôn ngữ của chúng
ta chỉ có một người tên là Petrus Ký là biết khá
rành rẽ có thể giữ các chức vụ Ngài muốn thiết lập
bên cạnh các thẩm quyền quân sự của chúng ta",
nhưng D'Ariès than phiền thái độ hợp tác lơ là của
người thanh niên 23 tuổi này: "từng là nhân
viên Sở Sự vụ bản xứ Sài-Gòn, ông ta đã bị sa thải
vì thiếu mẫn cán và tận tụy, rất thông minh, rất
có khả năng làm tốt công việc, nhưng ông ta dần
dà đánh mất sự tin tưởng tạo được. Tôi không muốn
chỉ định ông ta để ngài chọn làm thông dịch viên
cho các hội đồng chiến tranh của chúng ta".
Dù vậy vị tổng chỉ huy Charner nói trên vẫn chọn
Trương Vĩnh Ký và đưa ra các điều kiện để D'Ariès
chuyển lại họ Trương "40 đồng một tháng và
phải luôn có mặt tại Sài-Gòn". Nhưng Trương
Vĩnh Ký không chấp thuận điều kiện đó và nhân tiện
bộc lộ tư cách của ông khiến D'Ariès bực tức trong
thư sau đề ngày 28-5-1861: "Tính kiêu căng
và các yêu sách của ông ta hơn tất cả những gì chúng
ta có thể tưởng tượng về ông ta (...) đòi 110 đồng
với quyền làm công việc mà ông ta ưa thích và rút
lui khi nào không còn thích hợp..." (3). Léonard
Charnier là người đã đánh hạ đồn Chí Hòa ngày 24-2-1861.
14 tàu chiến của liên-quân Pháp và Tây-ban-nha
bắn vào cửa Hàn (Đà Nẵng) lần đầu ngày 1-9-1858,
và cũng như sau này tấn công Bắc-kỳ lần thứ nhất
(1873), người Pháp đều gặp nhiều khó khăn vì người
Việt theo đạo Thiên-Chúa đã không hưởng ứng nổi
dậy làm nội ứng như người Pháp tiên liệu. Ngày 17-2-1859,
hải quân Pháp và Tây-ban-nha đã chiếm thành Gia
Định, rồi đến tháng 12-1861 chiếm hết ba tỉnh miền
Đông Nam-kỳ, đưa đến hoà ước Nhâm Tuất (5-6-1862).
Trương Vĩnh Ký ra Đà Nẵng làm thông ngôn trong việc
ký hoà ước và đòi bồi thường chiến phí này, ông
đã tỏ ra có khả năng nghị luận và thẳng thắn khi
phải tế nhị giữa hai bên, đã được cả hai phe để
ý. Cho nên tháng 6-1863 cụ Phan Thanh Giản đã yêu
cầu Trương Vĩnh Ký làm thông ngôn cho phái đoàn
đi Paris và Madrid xin chuộc lại ba tỉnh miền Đông
- trong khi đó một số người như "sử gia"
Vũ Ngự Chiêu sai lầm khi nói ông làm cho Pháp, tức
theo phái đoàn Pháp. Không thành, và rồi ba tỉnh
miền Tây cũng bị Pháp chiếm nốt. Cụ Phan Thanh Giản
đã phải uống thuốc độc tự vận ngày 20-6-1867 sau
khi đành nộp thành Vĩnh Long cho Pháp để tránh chết
chóc cho người dân vì cụ đã thấy và hiểu ta không
thể chống cự lại khí giới tối tân của người Pháp.
Trương Vĩnh Ký lựa chọn con đường hợp tác sau mới
rõ ra là ảo tưởng vì người Pháp không thực tâm "khai
hóa", nhưng lúc đó, họ Trương không có lựa
chọn khác. Đó chỉ là bước đầu vì Trương Vĩnh Ký
đi xa hơn và để lại cho hậu thế một gia tài văn
hóa quan trọng mà chúng ta nên bình tâm luận xét.
Cụ Phan hiểu thế yếu đã tự xử cho trọn đạo quân-thần,
Hoàng Diệu và Nguyễn Tri Phương tự tìm cái chết
cũng cho phải đạo. Cụ Nguyễn Đình Chiểu ở hoàn cảnh
khác, cũng trốn tránh kẻ thù, không hợp tác. Tất
cả trung thành với đạo nho, hôm nay có người phê
bình là "hủ nho" (4). Trong bối cảnh lịch
sử đó, Trương Vĩnh Ký đã lựa chọn con đường hợp
tác với kẻ thù và mong chờ cơ hội để người Pháp
hiểu con người Việt Nam, cũng là cách để người công-giáo
trở về với dân tộc - như Nguyễn Trường Tộ sau này,
chứng minh với người Pháp là người Việt theo đạo
Thiên-Chúa không hẳn sẽ dễ bảo, dễ theo Pháp để
phản bội lại dân tộc! Hôm nay chúng ta phê bình
dễ dàng, vì không sống trong hoàn cảnh. Còn phê
bình hợp tác với kẻ thù, sau ông, "chúng ta"
cũng đã hợp tác với kẻ thù Trung-Hoa rồi Pháp và
Mỹ! Nếu suy luận từ những thư tín của các vị thừa
sai thì cũng nên xem lại những lá thư mà ông Nguyễn
Đình Đẩu đã khám phá như nói trên! Ngoài ra, cũng
nên ghi nhận Trương Vĩnh Ký từng làm thông ngôn
cho sứ thần Tây-ban-nha yết kiến vua Tự Đức năm
1870 và làm việc cho đại sứ nước này ở Trung-Hoa
năm 1874!
2 - Trương Vĩnh Ký làm báo cho Pháp: Gia Định Báo
lúc đầu là một thứ công báo của chính quyền thực
dân Pháp, nhưng từ 1869 (nghị định 189 ngày 16-9-1869),
Trương Vĩnh Ký, một cộng tác viên từ 1865, được
cử làm Chánh-tổng-tài và Huình Tịnh Paulus Của làm
chủ bút, Tôn Thọ Tường, Trương Minh Ký, v.v., trong
ban biên tập. Gia Định Báo được thêm phần truyền
bá chữ quốc ngữ, khuyến khích dùng thứ chữ này để
viết báo viết văn - báo khuyến khích độc giả viết
chuyện ở các địa phương họ ở bằng chữ quốc ngữ;
và cổ động cho lối học mới. Từ 4 trang lên 16 trang.
Vô tình, Gia Định Báo đã đóng vai trò tiền phong
truyền bá cái về sau gọi là văn học chữ quốc ngữ.
Đến năm 1874, J. Bonet được cử làm chánh tổng tài
thay Pétrus Ký, thì tờ Gia Định Báo trở lại với
vai trò thông tin tuyên truyền cho chính quyền thuộc
địa và rút lại 4 trang như trước. Trương Vĩnh Ký
chỉ làm báo cho Pháp một thời gian ngắn trong suốt
quá trình hoạt động văn hóa của ông. Ngoài ông ra,
làm báo theo lệnh Pháp hay nhận tiền của Pháp còn
có Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn
Bá Học, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Đức Quỳnh, ... Nếu
thêm danh tính các khuôn mặt lớn khác đã làm báo
cho Pháp, Trung-cộng, Liên Xô, cho Mỹ trước và sau
1975,... danh sách sẽ dài ra!
3 - Chữ quốc ngữ : Trương Vĩnh Ký thông thạo nhiều
thứ tiếng và cả chữ Nôm chữ Hán, nhưng ông đã có
cái nhìn thực tiễn khi cổ động việc xử dụng chữ
quốc ngữ để thay thế hai thứ chữ không đến được
dân gian. Ông viết, phiên âm và phiên dịch các tác
phẩm chữ Nôm, Hán qua chữ quốc ngữ, mà các bản dịch
Tứ Thư Ngũ Kinh đã là những công trình quí hiếm
vì trước đó chưa bậc tiền bối nào đã dịch ra chữ
Nôm! Ông lại soạn tự điển và viết sách văn phạm
tiếng Việt, làm chuyện đến lúc đó chưa ai làm qui
mô. Trong bộ Sơ Học Qui Chánh (Manuel des écoles
primaires) gồm 3 tập mà cuốn đầu Syllabaire Quốc
ngữ xuất bản năm 1876, Trương Vĩnh Ký đã cho biết
"Chữ quốc ngữ phải trở thành chữ viết của đất
nước. Phải như thế vì lợi ích và sự tiến hóa. Vậy,
người ta nên tìm cách phổ biến thứ chữ này bằng
mọi phương tiện ..." (5)
Cuốn Chuyện Đời Xưa (6) của Trương Vĩnh Ký in năm
1866 là ấn phẩm văn xuôi đầu tiên bằng chữ quốc
ngữ; chúng tôi nhấn mạnh ấn phẩm vì trước ông đã
có những bản viết tay bằng chữ quốc ngữ của các
vị thừa sai và tu sĩ người Việt, như Bento Thiện
đã viết về lịch sử Việt Nam năm 1659, và đã có những
cuốn tự điển của A. de Rhodes (Đắc Lộ), Tabert và
Phan Văn Minh, v.v. Tập từ điển của Tabert (1838)
có phụ lục chuyện Inê Tử Đạo Văn gồm 560 câu thơ
lục bát.
Người ta đã cho rằng vì ông làm tay sai cho thực
dân và vì là người theo đạo Thiên-Chúa nên cổ động
chữ quốc ngữ là chữ của thực dân và nhà Chung. Phạm
Long Điền mạnh ý này nhất. Ở đây cũng nên nêu một
hiểu lầm khác: trước nay dư luận vẫn cho rằng các
vị thừa sai người Bồ rồi Pháp đã buộc người Việt
theo đạo Thiên-Chúa phải dùng chữ quốc ngữ và có
người còn gán tội người Thiên-Chúa giáo đã đồng
hoá chữ Nôm và Hán là chữ của "ngoại đạo".
Đây chỉ là một thuần suy diễn thiếu căn bản lịch
sử. Những khám phá gần đây ở Việt Nam của nhóm các
linh mục Thanh Lãng và Nguyễn Hưng đã góp phần làm
sáng tỏ sự "mất gốc" của người Việt Nam
theo đạo Thiên-Chúa : chỉ riêng thế kỷ XVIII, các
nhà tu hành và giáo dân đạo Thiên-Chúa đã biên soạn
khoảng 14 tác phẩm chữ Nôm gồm khoảng 1 triệu hai
trăm ngàn chữ với bốn ngàn hai trăm trang hiện còn
tìm được, trong khi trong cùng thời gian, họ chỉ
biên soạn khoảng 700 trang chữ quốc ngữ, tức sáu
lần ít hơn (7)! Vậy đồng hoá người theo đạo Thiên-Chúa
với chữ quốc ngữ làm "mất nước" và mất
"hồn nước" tựu trung cũng chỉ một huyền
thoại, một suy diễn thiếu căn bản lịch sử! Ngoài
ra có những tu sĩ Việt Nam đã có cái nhìn nếu không
dân tộc thì cũng đi trước thời đại, như linh mục
Lữ-Y Đoan đã diễn dịch Kinh Thánh thành Sấm Truyền
Ca năm 1670. Ông đã dùng những ý niệm và ngôn ngữ
của tam giáo á-đông và văn hóa dân gian Việt Nam
để hiểu và diễn dịch Kinh Thánh và giới giáo quyền
từ thời đó đã không cho phổ biến vì "trái"
luật đạo - cho đến thời Vaticano thứ hai (1962-65)
(8). Một trí thức dù theo đạo vẫn không mất gốc,
Trương Vĩnh Ký sau này cũng đi theo con đường của
ông! Sự thực thì chữ quốc ngữ trước hết là một phương
tiện cho các nhà truyền giáo dùng trong nội bộ giúp
nhau ghi lại và hiểu tiếng Việt, rồi đến các cộng
đoàn đạo, đến giữa thế kỷ XVIII chữ quốc ngữ phát
triễn hơn vì lý do cấm đạo và việc xử dụng bắt đầu
tiện lợi. Theo nhà nghiên cứu Rolland Jacques, chữ
quốc ngữ lúc đầu chủ yếu mô tả phát âm nhằm giúp
người ngoại quốc mới học, nhưng về sau khi đã phổ
biến đối với người Việt thì khía cạnh âm-vị-học
được ưu tiên hơn, dấu vết hãy còn đó trong các tự
điển và tranh luận về các cách phiên âm Nôm ra quốc
ngữ (9)!
Thứ nữa là lý luận chữ quốc ngữ là chữ của thực
dân xâm lược. Đây là một suy diễn khác. Chữ quốc
ngữ nguyên do các thừa sai người Bồ-đào-nha và người
Nhật sang truyền đạo ở Việt Nam từ những năm 1620
lập ra để tiện lợi hoá việc biên chép và giao thiệp.
Linh mục Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) chỉ là người
đã phụ trách việc tu chính lại những tự điển đã
có lúc đó nhưng phổ biến hạn chế trong nội bộ, và
in ấn cuốn sách chữ quốc ngữ đầu tiên : Tự điển
Việt-Bồ-La / Dictionarivm annamiticvm, et tatinvm...
(xin chú ý: Việt-Bồ-La chứ không có chữ Pháp trong
cuốn tự điển này cũng như cuốn kể sau!), và Phép
Giảng Tám Ngày.../ Cathechismvs pro ìs.... Ông đã
tổng soạn lại những công trình trước đó của các
thừa sai người Bồ (10) và lúc linh mục Đắc Lộ người
Pháp in ấn cuốn tự điển nói trên năm 1651, Pháp
chưa đem hải thuyền chiếm Việt Nam vì lúc đó là
thời của Bồ-đào-nha và Tây-ban-nha làm chủ mặt biển,
và đến một thế kỷ rưỡi sau, khi giám mục Bá-Đa-Lộc
cầu cứu vua Pháp giúp chúa Nguyễn Ánh, vua Louis
XVI dù đã ký hiệp ước Versailles hứa giúp chúa Nguyễn
vẫn không hề nghe theo để lợi dụng cơ hội xâm chiếm
Việt Nam ! Thứ nữa, giáo sĩ Đắc-Lộ đi á-đông truyền
giáo đã thề phục vụ vua Bồ-đào-nha. Suy luận có
thể diễn dịch từ sinh quán Avignon của ngài ở Pháp.
Ngộ nhận thứ hai do câu văn A. de Rhodes viết tường
trình chuyến đi lần sau. Trong Divers voyages et
missions (Paris, 1653) đoạn cuối chương 19, phần
3, ông viết như sauÂ: "J'ai cru que la France,
étant le plus pieux royaume de monde, me fournirait
plusieurs soldats qui aillent à la conquête de tout
l'Orient, pour l'assujetter à Jésus Christ, et particulièrement
que j'y trouverais moyen d'avoir des Évêques, qui
fussent nos Pères et nos Maitres en ces Églises...".
Chữ "soldats" ở đây phải hiểu theo nghĩa
thứ nhì là "chiến sĩ" mà phải là "chiến
sĩ phúc-âm, nhà truyền giáo", thứ nữa không
nên quên sinh quán của ngài là đất của giáo hoàng!
Lính Pháp vào năm 1653 chưa lên đường đi chiếm thuộc
địa mà Hội Truyền giáo Paris cũng chỉ được lập sau
đó, năm 1661! Những người chỉ tra từ điển thường,
đã cố ý bới móc chi tiết với ý bôi xấu, bẻ quặt
lịch sử dễ rơi vào cái bẫy kiến thức chủ quan, thiên
kiến hoặc ám ảnh paranoiac! Cuốn A. de Rhodes Người
Đầu Tiên Vận Động Pháp Chiếm Việt Nam Và Chữ Quốc
Ngữ (11) là một thí dụ điển hình, một thủ thuật
khả nghi, vơ địch chính trị làm đồng minh để chống
địch tôn giáo, thu góp bài viết mù mờ lý luận, thường
đã cũ 30, 50 năm và cũng không cho biết diễn biến
tư tưởng các người viết, coi thường độc giả ! Trong
nước, sau nhiều "cơn bão", cái nhìn của
người nghiên cứu đã theo sự thật. Mới đây trong
Giao Lưu Văn Hóa Và Ngôn Ngữ Việt PhápÂcủa Viện
Ngôn ngữ học do Tòa đại sứ Pháp ở Hà-nội giúp xuất
bản, Lý Toàn Thắng đã đánh giá lại sự đóng góp của
Alexandre de Rhodes đối với sự thành hình chữ Quốc
ngữ kết luận de Rhodes chỉ là người đóng góp một
phần và chữ quốc ngữ của ông dù khá hoàn chỉnh vẫn
chưa có hình thức như nay, do đó "cũng không
thể nói là ông đã kiện toàn hay hoàn thành chữ quốc
ngữ" (12) mà nên dành công đó cho Pigneau de
Béhaine!
Thật ra chỉ là một tình cờ của lịch sử mà chữ quốc
ngữ đã trở thành công cụ cai trị của người Pháp.
Phải nói chính người Pháp đã "lợi dụng"
thứ chữ lúc đó đã thông dụng trong giới tu hành
đạo Thiên-Chúa để làm ngôn ngữ công văn và hành
chánh, sau đó người Pháp mới có ý muốn người Việt
quên đi văn hóa dân tộc để dễ đồng hoá khi cho dịch
Hán Nôm ra quốc ngữ. Và chính người Pháp đã đánh
sai dư luận, như Georges Taboulet trong La Geste
francaise en Indochine đã viết "Cha Alexandre
de Rhodes đưa Kitô giáo và nước Pháp vào Việt Nam"
(13). Một loại tuyên truyền chính trị ! Người Việt
thiển cận đã không tham chiếu và đã lập lại luận
điệu của ... thực dân! Dĩ nhiên có những vị thừa
sai thực dân như giám mục Puginier đã tiếp tay cho
nước Pháp của họ khi đánh Bắc-kỳ lần thứ nhất, nói
là để vinh danh "nước Chúa" thật ra chỉ
vì quyền lợi nước họ, hai thế kỷ sau câu viết gây
hiểu lầm (ngoan cố) của A. de Rhodes nói trên !
Ngoài ra lịch sử cũng ghi rằng các sĩ quan hải quân
Pháp đã ngần ngại dùng các giáo sĩ trong việc đánh
chiếm Nam-kỳ cũng như Bắc-kỳ! Pháp đến để bảo vệ
người theo đạo đã trở thành huyền thoại, vì đó chỉ
là cái cớ, phương tiện cho mưu đồ xâm lăng của thực
dân! Và chữ quốc ngữ đã là công cụ của Pháp, trong
thực tế lịch sử cũng không hẳn vậy vì sau vài bước
đầu, thực dân Pháp đã thay thế chữ quốc ngữ bằng
chữ Pháp trong chương trình giáo dục, chữ quốc ngữ
trở thành thứ yếu, "chỉ là ngôn ngữ thông dụng
chứ không phải là một ngôn ngữ văn hóa", nói
theo Bằng Giang (14). Trương Vĩnh Ký đóng góp cả
đời với tin tưởng ở chữ quốc ngữ, trong khi thực
dân chỉ lợi dụng chữ quốc ngữ khi cần đến; nhưng
cũng nhờ những tiền bối như ông, nếu không nước
ta đã rơi vào tình trạng của Phi-luật-tân!
Không những cổ động chữ quốc ngữ, Trương Vĩnh Ký
còn có một chủ trương rất dứt khoát về tiếng Việt.
Có hai khía cạnh: thứ nhất ông chủ trương dùng tiếng
Việt của tổ tiên khởi từ Bắc sau Nam tiến, thứ tiếng
tìm thấy trong văn chương truyền khẩu và một số
truyện Nôm như tuyện Kiều, Phan Trần,... Tức không
pha chữ Hán, như thầy giảng Lữ-Y Đoan đã làm với
Sấm-truyền ca trước thời Trương Vĩnh Ký. Câu văn
cũng được Trương Vĩnh Ký chăm sóc và nếu so sách
các văn bản lúc đầu như bài viết trên Gia-Định Báo
và Chuyện Đời Xưa (1866) với các bài viết cuối đời
ông sẽ thấy có sự "tiến bộ" tức hợp lý,
sáng sủa và dễ hiểu hơn. Chính Phạm Long Điền cũng
công nhận tiếng Việt của Trương Vĩnh Ký, Huình Tịnh
Paulus Của, .. không có nhiều lỗi chánh tả như tiếng
Việt trên sách báo trong Nam hồi đầu thế kỷ XX (15)!
Các nhà nghiên cứu văn học đã gọi đó là trường phái
Trương Vĩnh Ký, đồng thời và sau ông có Nguyễn Trọng
Quản, Trương Minh Ký, ... Nhưng bên cạnh có những
người Nam viết sai theo nói sai. Chính đó là lý
do văn viết trong Thầy Lazarô Phiền dễ hiểu hơn
nhưng đã bị trường phái "bình dân" lấn
lướt! Mà ngày nay hai khuynh hướng viết ngôn ngữ
miền Nam này vẫn còn thấy rõ ở Lê Xuyên, An Khê,
Ngọc Linh, Võ Kỳ Điền, Nguyễn Tấn Hưng, Phùng Nhân,
... hoặc Nguyễn Văn Sâm, Hồ Trường An, Kiệt Tấn.
4 - Ông đã viết rất nhiều sách báo giới thiệu đất
nước và con người Việt Nam, dĩ nhiên bằng tiếng
Pháp: Souvenirs historiques sur Saigon et ses environs,
Précis de géographie de l'Indochine, Produits de
l'Annam, Dictionnaire biographique Annamite,v.v.
Ngoài ra ông còn biên soạn nhiều bộ sách khảo cứu
bằng tiếng Việt như Đại Nam Tam Thập Nhứt Tỉnh Thành
Đô,... Ông là người đầu tiên làm cái việc mà ngày
nay người ta gọi là Việt-Nam-học, sau ông có G.
Dumoutier, L. Cadière, v.v. Vì là người đầu tiên
làm việc một cách khoa học nên đã bị nghi làm rapport
cho "Tây" chăng ? Những công trình này
đã được giải thưởng của Hội địa lý Pháp và được
"quốc tế" nhìn nhận như những tài liệu
căn bản. Tưởng cũng cần nhắc ở đây công dìu dắt
Trương Vĩnh Ký ở bước đầu của một nhà truyền giáo
người Pháp, Bovillevaux, người đã có công phát hiện
Đế Thiên Đế Thích, Trương Vĩnh Ký vẫn hay nhắc đến
với tên Việt "cố Long" (3), bạn của thân
sinh ông thuở sinh thời, trong thực tế là cố đạo
duy nhất đã ảnh hưởng lên Trương Vĩnh Ký nếu có!
Việc giới thiệu này của ông đã bị các ông Mẫn Quốc,
Phạm Long Điền, ... kết án là cung cấp tài liệu
cho thực dân dễ chiếm hữu lãnh thổ Việt Nam. Đây
là nói đến cuốn Chuyến Đi Bắc-kỳ năm Ất Hợi và bản
báo cáo đính kèm gửi đô đóc Duperré! Ông Mẫn Quốc
kết án ông có "nhiệm vụ đặc phái" làm
" gián điệp, tình báo, giòi trong xương giòi
ra"(16). Phạm Long Điền kếtÂ: "Chuyến
đi Bắc-kỳ của Trương Vĩnh Ký năm 1876 không ngoài
mục đích xem xét tình hình để báo cáo tường tận
cho Soái phủ Nam-kỳ và từ đó, Soái phủ Nam-kỳ chuẩn
bị tiến quân ra Bắc trong một cuộc xâm lăng đại
qui mô nhằm đặt toàn cõi Đông dương dưới quyền thống
trị của thực dân Pháp" (17). Có thể Trương
Vĩnh Ký ngây thơ vì quá thành thật và tự tin vào
vai trò trung gian của mình mà không thể ngờ là
người Pháp lợi dụng ông chăng?
5 - Phương pháp nghiên cứu của Trương Vĩnh Ký đã
khoa học, bằng giả thuyết và văn bản. Đến hậu bán
thế kỷ XX bên Âu tây mới có thuyết đề cao văn bản,
thế mà Trương Vĩnh Ký ở hậu bán thế kỷ XIX đã xử
dụng để nghiên cứu văn học ! Trương Vĩnh Ký đã xử
dụng phương pháp khoa học tiến bộ so với phương
pháp biên niên sử theo Trung Hoa của thời đó, ông
là người đầu tiên biên soạn lịch sử Việt Nam mà
lại bằng tiếng Pháp. Hai tập Petit cours d'histoire
annamite (Giáo Trình Lịch Sử An-Nam) xuất bản năm
1875 và 1877, cả hai tổng cộng khoảng 462 trang.
Tập 1 viết về thời lập quốc đến nhà hậu Lê (2874
AD - 1428), tập sau từ 1428 đến 1875. Ông là người
đầu tiên đã chứng minh lịch sử Việt Nam đã khởi
đầu từ hơn 4000 năm, theo ông thời xa xưa nhất của
lịch sử Việt Nam khởi từ năm 2874 trước Công-nguyên
với 20 đời vua Hồng Bàng, 18 đời vua Hùng Vương
và đời Thục An Dương Vương (tr. 7-17). Vận dụng,
khai thác nguồn văn thư tịch và truyền thuyết, truyện
cổ, ông đã dựng cơ sở lịch sử cho thời "huyền
sử", ông dựng lại đời sống, con người và xã
hội thời xa xưa đó . Theo ông, "các sử gia
biên niên xưa nhằm xu nịnh vua chúa, đã đặt ra những
huyền thoại để khẳng định thiên mệnh của nhà vua.
Còn dân gian thì trong các chuyện truyền khẩu, đã
biết ngược dòng thời gian xa xôi trong cái thời
điểm mà lịch sử không còn dấu vết, có chăng chỉ
còn dấu tích trong các ngọn nguồn thâm sâu huyền
hoặc của thần thoại. Người ta không thể coi thường
những chuyện kể ở những thời xa xưa, bởi vì mặc
dù chúng có khó hiểu, thậm xưng, hoặc không chặt
chẽ nhưng người ta vẫn có thể rút ra, từ sự tưởng
tượng và cả những nhận thức sai lầm trong đó, những
kiến thức về những cái có thể có thực, hoặc ít ra
là một phương hướng một dấu vết khả dĩ dùng được
để tìm ra sự thực" (18).
Thật vậy, ông đã vận dụng nhiều phương pháp khoa
học và là người đi đầu viết lịch sử dân gian thay
vì chỉ chú trọng giới vua chúa quan quyền, mà khi
viết về mỗi triều đại ông cũng cả viết về đời sống
xã hội cũng như các khía cạnh kinh tế, văn hóa,
ngoại giao, v.v.. Không bị ràng buộc như các quan
sử lịch triều, sống ở đất thuộc địa, lại có một
căn bản bác học, nhờ đó ông có cái nhìn tổng quát
và chứng tỏ cố gắng khách quan. Khi viết chuyện
vua Lê Chiêu Thống chết bên Tàu được liệm để đưa
về chôn ở quê nhà, khi liệm người ta đã tìm thấy
tim vua còn tươi đầy máu, ông bàn "Đó chỉ là
một chuyện bịa đặt không căn cứ, kết quả của những
trò phỉnh gạt thô bỉ và phạm thượng ("C'est
une invention fantaisiste, le résultat de quelque
grossière et profane mystification" (tr. 207).
Ông đã luận công tội các triều đại xưa và vinh danh
các anh hùng dân tộc. Ngòi bút trở nên đanh thép
khi viết về Hai Bà Trưng : "Suốt 149 năm (111
av CN đến 38 CN) nước An nam đã phải chịu đựng cái
ách của các viên quan cai trị Trung quốc. Nhưng
cuộc đô hộ rồi cũng phải bị tiêu diệt, như tất cả
những gì bắt nguồn từ những quá độ của bạo lực:
ách đô hộ đã bị bẻ gãy bởi bàn tay của một người
phụ nữ"(19). Hay khi xét mặt trái chuyện Sĩ
VươngÂ: "Sĩ Vương đã du nhập sang ta nền văn
học Trung quốc, cũng như đạo lý Khổng Tử, ép buộc
nhân dân An-nam phải tiếp nhận làm của mình, và
cấm dùng thứ chữ viết phiên âm đặc biệt riêng của
người An-nam. Vì biện pháp nghiệt ngã ấy mà người
An-nam đã hoàn toàn mất đi thứ chữ viết riêng của
mình". (20). Xét chuyện xưa đưa đến phê phán
nặng nề chuyện nayÂ: "Dù người An-nam là công
dân của nước Pháp hay của Bắc, Trung kỳ đều có chung
một nguồn gốc. Dù bị ngăn chia (với phần còn lại
nước Việt) vì vận mạng chính trị, chúng tôi vẫn
phải phản đối mạnh mẽ cái chế độ cai trị lầm lạc
đã biến dân chúng thành bầy thú của vua, và là một
sự bóc lột trầm trọng, có tội với xứ sở". Ông
liền ghi chú xin lỗiÂ:"Nhưng xin người đọc
đừng giận tôi vì trong tôi tràn ngập một nỗi buồn
cay đắng khi thấy đất nước phải ra nông nỗi này,
chuyện đáng ra không đáng phải xảy ra"(21).
Đây là lần hiếm hoi ông lộ rõ bất bình đói với vua
quan Tống-nho nhà Nguyễn. Bộ Đại Nam Việt Quấc Triều
Sử Ký xuất bản sau (1879) (8) cũng được viết ngoài
vòng cương tỏa của triều đình nhà Nguyễn, như bộ
của Trương Vĩnh Ký, nhưng bộ sử của họ Trương có
cái nhìn quán triệt và tổng quan hơn nhiều! Cụ Nguyễn
Văn Tố trong bài tiếng Pháp "Petrus Ký"
trên tập Kỷ yếu của Hội Trí tri Bắc-kỳ năm 1937
đã dành 10 trong 42 trang để phân tích và phê bình
cuốn sử này, đã đề cao phương pháp sử có cơ sởÂ:
".. Đã đến lúc tính uyên bác Nam kỳ thay thế
cho những quyển sách cũ kỹ ấy, đến lúc đó loại trừ,
một mặt, tất cả những thứ tạp nhạp gọi là thông
tin mượn ở sách vở Trung quốc và mặt khác dành một
vị trí xứng đáng cho những dữ kiện chính xác và
phong phú rất mực do sử ký ta cung cấp" (22).
Trương Vĩnh Ký cũng đã để lại một bản thảo Truyện
Đất Nam-kỳ lịch sử Đàng Trong bằng chữ quốc ngữ
viết năm 1864 "xưng tụng các chúa Nguyễn bằng
vua"(23). Ông còn tỏ ra là một nhà ngôn ngữ
học thông thái, với những công trình nghiên cứu
về ngôn ngữ Việt, á-đông và nhiều nước như Étude
comparée sur les langues, les écritures, les croyances
et les moeurs de l'Indochine, Analyse comparée des
principales langues du monde, v.v. Những công trình
được nhiều nhà nghiên cứu Việt và Âu-Mỹ đánh giá
cao như J. Thomson trong Dix ans de voyages dans
la Chine et l'Indochine (1873), J. Bouchot trong
Un savant et compatriote cochinchinoisÂ: Petrus
J.B. Trương Vĩnh Ký (1925), cả nhà ngữ học Cao Xuân
Hạo trong nước qua bài "Trương Vĩnh Ký trong
lịch sử ngôn ngữ học VN". (24).
6 - Nhưng trên hết, qua sự nghiệp để lại, Trương
Vĩnh Ký đã chứng tỏ có chủ trương làm công tác văn
hóa cho dân tộc. Nổi tiếng bác học quốc tế, tinh
thông hơn hai chục sinh và tử ngữ, ông lại cổ võ
luân lý Nho giáo, ông là người có nhiều ấn phẩm
về đạo lý hơn các nhà văn hoá tiền phong chữ quốc
ngữ khác như Huình Tịnh Paulus Của, Trương Minh
Ký. Hành trạng của Trương Vĩnh Ký là của một con
người trí thức, ngoài những chức chính thức khi
làm việc với Pháp, suốt đời cặm cụi vì văn hóa,
có khi trong những hoàn cảnh khó khắn về tài chính
và cô đơn không được người đồng thời thông hiểu
cho, còn người Pháp dĩ nhiên lợi dụng hơn là hợp
tác về văn hóa! Trong Sĩ-Viện Thư-Phổ tức Catalogue
sách xuất bản của ông in năm 1894, ông đã bày tỏ
tư duy của mình, một ý tưởng dẫn đạo công việc của
ông : "Vì cũng nghĩ thế cục ngày nay như những
lớp sóng xô tình người đến chỗ phụ nghĩa, chính
đạo mỗi ngày một suy đồi, thuần phong mỹ tục ngày
càng bị buông xuôi" (25). Trái với ngộ nhận
của nhiều người, ông không hề dịch sách Pháp ra
quốc ngữ và không hề giới thiệu văn hóa Pháp; có
chăng là ông giới thiệu văn hóa và đất nước Việt
Nam bằng tiếng Pháp. Ông cũng là soạn giả nhiều
cuốn tự điển đã xuất bản hoặc mới in thạch bản.
Ông giới thiệu địa lý, lịch sử văn hóa của Việt
Nam với hy vọng người Pháp hiểu dân tộc nhược tiểu
bị trị hơn. Ông không hề khuyến khích, cổ động đồng
bào ông học tiếng Pháp, theo văn hóa và phong tục
ngoại lai. Suốt đời dù làm với Pháp hay không, ông
chỉ mặc bộ áo dài thuần Việt! Thông hiểu chuyện
thế giới, nhìn thấy sự tiến bộ về khoa học và kỹ
thuật của người, ông đã có sẵn kết luận cho dân
tộc ông, con đường mà ông đã vạch và đi đến cuối
đời. Hợp tác với chính quyền thực dân nhưng con
người và tâm hồn ông vẫn gắn chặt với đất nước,
tổ tiên, ông vẫn coi mình là đồng bào với người
Trung Bắc. Ngược lại, Trương Vĩnh Ký luôn đề cao
và phổ biến đạo lý đậm truyền thống dân tộc. Khi
làm việc lãnh lương của chính quyền Pháp, như khi
làm Gia Định Báo, ông lợi dụng để phổ biến thơ văn
yêu nước, phiên âm ra quốc ngữ - nhờ đó mà thơ văn
này có thêm dịp may lưu lại cho hậu thế. Vào cuối
đời, hết được người Pháp trọng dụng, ông vẫn bền
chí biên soạn sách vở và trực tiếp lo việc xuất
bản. Năm 1888, Trương Vĩnh Ký xuất bản tạp chí Thông
Loại Khóa Trình (Miscellannées ou Lectures instructives
pour les élèves des écoles primaires, communales,
cantonales et les familles - bìa tiếng Pháp nhưng
ruột tựa và bài vở quốc ngữ, để dễ qua mắt thực
dân chăng?) với mục đích cổ động phong hóa cũ, phổ
biến văn hóa dân tộc kể cả văn thơ chống Pháp của
Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Tri Phương, Bùi Hữu Nghĩa,...
nhưng thiếu vốn, tạp chí chữ quốc ngữ tư nhân đầu
tiên đó chỉ ra được 18 số (tháng 5 đến 10-1889).
Từ số 4 tăng từ 12 lên 16 trang, ngoài TVK ra còn
có Huình Tịnh Paulus Của, Trương Minh Ký, Trần Chánh
Chiếu, Lương Khắc Ninh,... Mỗi số giá 60 xu thời
bấy giờ bằng giá một tạ lúa, bưu điện chưa có, người
mua phải đến tận Chợ Quán để mua!
Trương Vĩnh Ký dịch trọn bộ Tứ Thư, Ngũ Kinh nhưng
đến khi qua đời mới chỉ xuất bản được hai cuốn là
Đại Học và Trung Dung (1889) của bộ Tứ Thư. Còn
hai cuốn Luận Ngữ và Mạnh Tử chỉ mới in ở dạng thạch-bản.
Trong khi Võ Phiến đề cao Phạm Quỳnh trừu tượng
hóa tiếng Việt thì giáo sư Nguyễn Văn Trung đã thán
phục Trương Vĩnh Ký đã dịch cả phần siêu hình học
trong khi ngôn ngữ ta đó chưa có sẵn chữ (26)! Trương
Vĩnh Ký chăm sóc ra bộ học báo Thông-Loại Khoá-Trình
để phổ biến văn hóa và thơ văn dân tộc, cả thơ văn
yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu, Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn
Tri Phương, Phan Văn Trị,... Bằng Giang trong Sương
Mù Trên Tác Phẩm Trương Vĩnh Ký sau khi lược qua
cuốn Sơ Học Vấn Tân của Trương Vĩnh Ký đã thú nhận
: "Đọc hết tác phẩm, người ta tưởng tác giả
là một nhà Nho chính tông chớ không phải là một
người thuộc đạo dòng (Thiên-Chúa giáo)" (27).
Trương Vĩnh Ký có cái nhìn tổng hợp, ông muốn dung
hòa cũ mới . Theo ông, "học thì chẳng phải
là học cho biết chữ, cho thuộc tiếng mà thôi, mà
lại phải học nghĩa lý, phép tắc, lễ nghi, cang thường
luân lý là giềng mối mà xử trí trong việc ăn ở trong
đời với thiên hạ ấy là lịch là thanh. Nên phải do
cựu tùng tân mới là phải, chẳng nên mới chuộng cũ
vong mà mang tiếng yểm cựu nghinh tân..." (28).
Để nhấn mạnh cái nhìn tổng hợp cần thiết cho người
Việt Nam này mà khi xây trường trung học mang tên
ông ở Sài-Gòn đã có câu đối được khắc trước cổng
(nay đã bị Hà Nội đục bỏ)Â: "Khổng Mạnh cương
thường tu khắc cốt / Tây Âu khoa học yếu minh tâm".
Một lời nhắn nhủ khác, ghi lại ở đầu sách Petit
cours d'histoire annamite, nhắm kẻ hậu sinh : "Cho
học trò các trường đất Nam-kì. ớ các trò trai, ta
xin kiếng sách nầy cho các trò vì làm nó ra là làm
cho các trò coi (...). Đến sau, khi anh em học đã
thành tài, biết bắt, biết hạch được, thì xin hãy
dong thứ cho kẻ lớp trước anh em, vì những kẻ ấy
thuở trước chẳng có được những phương tiện mà học-hành
như anh em bây giờ nhờ..." (tr. 4).
Ông lại chứng tỏ tài cao về chữ Nôm lúc bấy giờ
chưa có tự điển và gần như ai viết sao thì viết.
Chính Nguyễn Văn Tố trong lời Tựa cuốn Trương Vĩnh
Ký của Lê Thanh đã ghi nhận: "Những truyện
nôm như truyện Kiều truyện Phan-Trần, mà ông dịch
ra quốc ngữ đầu tiên, tất cũng có chữ sai, nhưng
không nên vin vào đấy mà phê bình, vì chữ nôm của
ta là một thứ chữ không có tự điển, mỗi người viết
một cách, khó lòng đọc cho đúng ngay: thử lấy một
quyển nôm nào chưa ai dịch ra quốc ngữ mà đọc xem,
có lắm chữ không tài nào đọc nổi, thế mới biết cái
tài học của Trương Vĩnh Ký đáng tôn trọng, đáng
kính phục biết bao nhiêu". Cả về chữ Hán :
"Về Hán văn ông có dịch bộ Tứ thư và quyển
Minh Tâm bảo giám ra quốc ngữ, kể cũng có công với
Hán học khi gần tàn, và tỏ ra là một nhà nho gồm
cả văn học Âu Á, mà vẫn giữ được tính cách người
Đại Nam" (29). Cụ Nguyễn Văn Tố cũng như Lê
Thọ Xuân ở trong Nam vốn là những học giả uyên bác.
Riêng về cụ Nguyễn Văn Tố, nhà văn Võ Phiến xếp
vào lớp nhà phê bình "chỉ nói cái sai cái quấy"
(30) tức không bao giờ khen ai (!). Vậy mà cụ Nguyễn
Văn Tố đã khen Trương Vĩnh Ký đủ bề! Xin đừng suy
diễn rằng cụ Tố cũng lãnh lương Pháp vì làm việc
tại trường Viễn-đông bác-cổ (EFEO)!
7 - Trương Vĩnh Ký in thạch bản cuốn Vân Tiên Chú
Giải năm 1887 để dùng ở trường Thông ngôn, sau đó
cuốn Lục Vân Tiên Truyện phiên âm được xuất bản
năm 1889, với quảng cáo "bản nhỏ, bán rẻ tiền
cho người ta mua mà coi, chính chữ lại không sai
chạy nguyên bản" (31). Người nay nêu ba vấn
đềÂ: Trương Vĩnh Ký là người đầu tiên phiên âm Kim
Vân Kiều Truyện năm 1875, 14 năm trước cuốn Lục
Vân Tiên. Tại sao? Phạm Long Điền trong bài báo
trên Bách Khoa đã dẫn kết án Trương Vĩnh Ký "có
chủ đích chánh trị núp dưới chiêu bài văn hóa"
khi in cuốn Kim Vân Kiều Truyện diễn quốc ngữ năm
1875, 14 năm trước phiên âm cuốn Lục Vân Tiên (1887).
Theo ông Phạm Long Điền, Trương Vĩnh Ký đã không
nhìn thấy sự tiêu biểu văn hóa của truyện Lục Vân
Tiên trong Nam cũng như niềm hãnh diện người của
vùng đất quá mới với chốn "ngàn năm văn vật"
mà đã "lại tiếp nhận đứa con tinh thần của
đất Bắc để rồi Kim Vân Kiều Truyện diễn quốc ngữ
ra chào đời đúng một năm trước khi họ Trương lên
đường thăm sĩ phu đất Bắc trong một chuyến đi đầy
bí mật...". Thứ hai, Phạm Long Điền lại thêm
lý luận Trương Vĩnh Ký hay Tôn Thọ Tường muốn đề
cao Kiều vì thân thế "đáng thương hơn đáng
trách". Như lời Tôn Thọ Tường vịnh Kiều "Để
lòng thiên cổ thương rồi trách / Chẳng trách chi
Kiều, trách Hoá công" (32). Và sau cùng, theo
họ Phạm, Trương Vĩnh Ký xuất bản Kim Vân Kiều trước
để chuẩn bị chuyến đi Bắc Kỳ năm sau, 1876! Thuần
suy diễn ! Chúng tôi chỉ thấy qua toàn bộ sự nghiệp,
Trương Vĩnh Ký vẫn tự hào là người Việt, yêu văn
chương và văn hóa dân tộc, yêu tiếng Việt của Kim
Vân Kiều, đến cả quên phiên âm Lục Vân Tiên của
miền Nam yêu dấu của ông cho ... hậu sinh như ông
Điền hài lòng. Trương Vĩnh Ký xuất bản "trễ"
có thể vì đã có bản phiên âm năm 1873 của G. Janneau
(Paris) và bản dịch ra tiếng Pháp năm 1864 của Aubaret
! Tuy ra sau nhưng chính bản phiên âm của Trương
Vĩnh Ký mới là bản đã góp phần đáng kể trong việc
san định văn bản Lục Vân Tiên xuất bản hiện nay.
Họ Phạm quên giáo sư Nguyễn Văn Trung của ông, trong
Chữ Văn Quốc Ngữ Thời Kỳ Đầu Pháp Thuộc lúc đó (1974)
đã lý luận rằng thực dân Pháp dùng chữ quốc ngữ
có ích cho công việc cai trị hành chánh của họ mà
còn ích lợi cho việc phục vụ mục tiêu xâm lược tinh
thần người bản xứ (33). Trương Vĩnh Ký có thật đi
chung đường với thực dân đâu!
8 - Trương Vĩnh Ký còn có công đem hột giống những
cây ăn trái từ "Miền Dưới" tức Mã Lai,
Nam Dương và Java như chôm chôm, sầu riêng, măng
cụt mãng cầu, ... đem về trồng trước hết ở Cái Mơn
(Vĩnh Long) miền quê ông. Trong thời gian sáu năm
tu học ở Penang, mỗi lần hè về thăm mẹ, ông đã có
dịp đem trái cây "Miền Dưới" về, hột sanh
cây, một ươm hai, sau nhiều năm đã thành đặc sản
miền lục tỉnh. Đây là một việc có thể chính Trương
Vĩnh Ký cũng không ngờ đến. Ông Quán Phong trong
một bài báo (34) đã kể rõ công của họ Trương đói
với nhà nông nhà vườn Nam-kỳ lục tỉnh ! Trong khi
đó có những nhóm nói bâng quơ suy luận đã do các
nhà buôn Nam Dương, Mã Lai đem sang mà không hề
trích dẫn văn liệu! (35).
9 - Trương Vĩnh Ký đã là một "tay sai"
đắc lực cho Pháp ? Trên đã bàn qua, nay thêm vài
chi tiếtÂ: Khi Trương Vĩnh Ký ra Huế được vua Đồng
Khánh sắc phong chức Cơ Mật Viện Tham-tá ngày 12-4-1886,
sau thêm chức Hàn Lâm Thị Giảng Học Sĩ dạy vua tiếng
Pháp. Ông ra Huế vì tình bạn với Paul Bert tổng-trú-sứ
lưỡng kỳ (Bắc và Trung-kỳ) mới được bổ nhiệm lúc
bấy giờ (8-4-1886). Trước khi nhậm chức, Paul Bert
đã gặp Trương Vĩnh Ký, nhờ cả ông soạn giùm bài
hịch (thư 22-3-1886) mà cuối cùng chính họ Trương
đọc trước Vua, trình bày 7 điểm để cứu vãn tình
hình bất an gay cấn giữa Pháp-Việt và lương-giáo!
Nhưng vị toàn quyền muốn áp dụng chính sách trấn
an hơn là độc trị gây ra kháng chiến Hàm Nghi này
không tại vị lâu, ông mất mấy tháng sau đó, ngày
11-11-1886. Trương Vĩnh Ký nay như có vai trò dòm
ngó hành tung triều đình để báo cáo cho Pháp, nên
ông từ chức trở về quê nhà sống thanh bần ở Chợ
Quán, cho đến khi qua đời, 1-9-1898. Từ ngày 5-10-1886,
Trương Vĩnh Ký đã viết thư cho Paul Bert từ Sài-Gòn
và ông toàn quyền này hiểu con người họ Trương đã
phải mời ông trở ra Huế. Trương Vĩnh Ký chỉ thật
sự ở Huế sáu tháng. Huế, nơi lúc đó Tóng Nho cực
thịnh, quần thần bắt chước đàn anh Trung Hoa khinh
rẻ người theo Âu-tây (bạch quỉ) hoặc biết tiếng
lang-sa, nơi sẽ bỏ thi Hương sau cùng, hơn 20 năm
sau Nam-kỳ và 4 năm sau Bắc-kỳ Ông bỏ về Sài-Gòn
viết sách, do tự ý chứ không phải vì bị bó buộc
hay cách chức như nhiều người nghĩ (36). Có chăng
là Paulin Vial vốn là thượng cấp của Trương Vĩnh
Ký ở Nam-kỳ và không ưa ông, ngày 11-12-1886 đã
viết thư chỉ thị Trương Vĩnh Ký phải báo cáo về
6 tháng làm việc cạnh vua và nhắn đừng trở ra Huế
nữa :"... Tốt hơn là ông không nên trở ra Huế
nữa vì xét về mặt quyền lợi của đất nước thì thiết
yếu nước Pháp phải được thay mặt ở thủ phủ ấy bằng
một người duy nhất, đại diện chính thức, mà không
có nhân vật nào khác ỡ bên cạnh vị đại diện ấy để
hưởng một thế lực, có lúc sẽ ảnh hưởng trái ngược
trở lại trên người đại diện chính thức ấy".
Vua Đồng Khánh ban cho Trương Vĩnh Ký biệt hiệu
Nam Trung Ẩn Sĩ và vẫn trao đổi thư từ với ông đến
khi vua mất, 25-12-1888! Paul Bihourd và Noel Pardon
toàn quyền kế nghiệp Paul Bert cũng như xử lý Paulin
Vial đều không dùng Trương Vĩnh Ký, vì họ không
tin ông. Trương Vĩnh Ký thân thiết với Paul Bert
và theo thuyết ông này chủ trương hoà hoãn, bình
định, trong khi những người Pháp khác chỉ muốn áp
đặt guồng máy thống trị toàn cõi Việt Nam! Như vậy,
người Pháp dùng Trương Vĩnh Ký nhưng thường vẫn
ngại ông. Joseph Chailley-Bert trong cuốn Paul Bert
au Tonkin (37) viết về Trương Vĩnh Ký : "Để
thêm người làm việc cho vua, Paul Bert đã cho vào
Cơ Mật Viện một nhà trí thức nỗi tiếng của nước
Nam-kỳ thuộc địa tên Trương Vĩnh Ký. Đây là người
vẫn được người Pháp bàn tán tranh cãi đặc biệt và
có những ý kiến quá trớn" . Phải chăng quá
trớn cho quyền lợi Pháp? Trong một văn thư gửi toàn
quyền Noel Pardon, văn thư cuối cùng liên hệ với
cầm quyền Pháp, họ Trương trình bày những ưu tư
và giải pháp ông nghĩ để giải quyết những rối loạn
ở Đông dương! Nhiều lần Trương Vĩnh Ký đã tận dụng
chức vụ để bầy tỏ với người Pháp những ưu tư của
ông đói với người dân thường, như trong tường trình
ngày 28-4-1876 về Bắc kỳ, tường trình vốn bị nhiều
người lên án làm chỉ điểm cho Pháp chiếm Bắc-kỳ
sau đó. Ông ưu tư trước hiểm họa chiến tranh hao
người tốn của như cụ Phan Thanh Giản trước đó đã
bầy tỏ qua cử chỉ nộp thành và quyên sinh! Biết
thua thiệt, nên "bất cượng chớ cượng làm chi"
(tựa sách viết năm 1882), do đó ông muốn dựa vào
kẻ mạnh khoa học và giáo dục, hầu mong dân nước
mình tiến bộ theo! Hơn nữa, khác với Phạm Quỳnh,
Trương Vĩnh Ký không bao giờ kết án những người
Việt chọn con đường yêu nước võ trang chống Pháp
và cũng không hề nịnh hót chính phủ thuộc địa để
được quyền lợi vật chất.
Người Pháp đã không :"bằng lòng" về Trương
Vĩnh Ký nhiều lần khác. Như khi ông lo cho học sinh
được triều đình Huế gửi vào Sài-Gòn học trường thông
ngôn, có người đã nghi ông "phản" Pháp
và chăm lo cho triều đình Huế, viên thống đốc Nam-kỳ
lúc đó chỉ trả lương chức Đốc học cho ông và có
khi còn bày trò trả lương trễ cho ông! Chính những
trò đời này và ông dư sức đã hiểu tâm địa người
Pháp sau một thời gian "hợp tác", cho
nên sau đó cho đến chết ông sống thanh bần, lo viết
và in sách để phổ dương văn học và văn hóa Việt
Nam.
Ở đây xin ghi sai lầm, xuyên tạc của ông Đỗ Mậu
trong Tâm Thư khi ông này tố cáo "vai trò cố
vấn bí mật của ông ta (Trương Vĩnh Ký) do cha đỡ
đầu là Paul Bert trong cuộc "đánh lừa chiến
lược" với quan lại chóp bu của triều đình Tự
Đức trong chuyến công du Bắc-kỳ 1876, tạo điều kiện
cho bọn Pháp đánh chiếm Bắc-kỳ lần thứ hai..."(38).
Đỗ Mậu ghi là viết theo tài liệu của Đỗ Quang Hưng.
Ông Mậu xuyên tạc vì trong tài liệu của ông Đỗ Quang
Hưng (39), không thấy viết như thế. Sau nữa, ông
Mậu sai lầm lớn, vì năm 1876, Paul Bert còn ở Pháp,
đến 1886 mới qua Đông-dương và khi ở Pháp Paul Bert
làm hội viên viện Hàn Lâm và là nghị sĩ, không làm
linh mục và từng là người chống giáo-hội Thiên Chúa
Giáo vì ông theo phe Cách mạng Ố nên khi qua nhận
chức mới, ông chủ trương không thiên vị người theo
đạo Thiên Chúa vì phải bảo vệ tư do tôn giáo cho
mọi người! Và theo ông, nếu một số nước Âu châu
tiến chiếm thuộc địa các nước khác thì đó là những
quy luật tất yếu của lịch sử (40). Vả chăng Bắc-kỳ
đã bị Pháp chiếm năm 1885 sau khi đã ký hoà ước
Giáp Thân 1884! Có chăng là vua Đồng-Khánh du hành
ra các tỉnh Bắc Trung-kỷ và bị nghĩa quân nhiều
lần uy hiếp phải trở về sớm, Trương Vĩnh Ký có đi
theo hay không chưa thấy văn liệu xác nhận!
10 - Trương Vĩnh Ký tin đạo Thiên-Chúa nhưng không
hề theo đạo mù quáng, nhất là khi đụng đến quyền
lợi tổ quốc. Trước việc cấm đạo, ông đã lên tiếng
: "Người An-Nam đâu có thù ghét đạo Gia-Tô!
Họ chỉ bất bình và phản đối những hành vi quá mức
của một số linh mục dựa vào sự che chở của quân
đội và chánh quyền Pháp-lang-sa, để tiếp tục thi
hành những việc bạo ngược. Bởi vì, xét cho kỹ, Gia-Tô
giáo và Phật giáo chẳng khác nhau bao nhiêu"
(41).
Trương Vĩnh Ký cũng không xin theo quốc tịch Pháp
hay ân huệ như những người cộng tác lớn khác. Trong
một thư ông trả lời bạn: "Đại phàm văn minh
là ở tinh thần, chớ không ở vật chất. Ta muốn văn
minh như người Tây thì cố hết là phải luyện lấy
tinh tâm trí não để bổ lấy tinh thần văn minh, chớ
nếu tâm não ta vẫn hủ bại dã man, mà ta chỉ ghé
cái danh hiệu vào sổ văn minh, khoác cái y phục
của người văn minh, đó là giả dạng văn minh, thì
tôi e rằng không xứng đáng, và có điều bất lợi về
sau nữa (...) Vả chăng mỗi nước riêng một tộc loại
và để duy hệ tinh thần. Nước Nam ta tổ tiên Hồng
Lạc (...) gia phả truyền lại bốn ngàn năm nay, nhứt
đán ta dân tịch theo Tây, phục sắc theo Tây, biến
hết làm tây, không còn cái dấu tích chi là người
Nam nữa, đó ta là loài Tịch Đàm vong tổ, rồi tới
đời con cháu ta nó theo cái gia phả mới của ta mà
đốt quách cái gia phả cũ của tổ tiên đi, quên đứt
là người Nam, thì giống ta còn cũng như mất, mà
cái gương diệt chủng tự ta treo lên trước. (...)
Người ta sẽ cho tôi là nhu nhược, nhút nhát; tôi
đã làm như vậy vì tôi sợ muốn thoát thân ra khỏi
một hoàn cảnh khó khăn. Vào dân Tây tôi sẽ mất hết
uy tín, uy lực của tôi và đã mất hết tín nhiệm của
Vua, của triều đình và của đòng bào tôi. Không lý
trời sanh tôi ra là con quạ, bây giờ biểu tôi thì
một hai nói tôi là con cò sao đặng? Nên là điều
trái tự nhiên hết sức" (42). Trong một thư
trả lời Blamcsudé, Trương Vĩnh Ký còn viện dẫn lịch
sử. phong tục và luật pháp để giải thích thêm. Ông
Mẫn Quốc trong bài viết trên Nghiên-cứu Lịch-sử
(43) của Hà-nội thì cắt trích dẫn rồi suy diễn cho
là Trương Vĩnh Ký khôn ngoan không theo quốc tịch
Pháp vì sợ mất uy tín với vua quan ta và không phục
vụ được cho Pháp!
Trương Vĩnh Ký cả cuộc đời làm báo, soạn sách,
để lại khoảng hơn trăm tác phẩm lớn nhỏ. Ông làm
những việc đó toàn thời gian cả cuộc đời trong khi
ông lãnh lương của Pháp khoảng 20 năm. Về chính
trị ông đã cô đơn; nhưng ông đã làm với lòng yêu
nước, muốn nước được hùng mạnh, dân tộc được trường
tồn. Mặt khác, lúc bấy giờ thực dân Pháp muốn xử
dụng chữ quốc ngữ như là công cụ, phương tiện đô
hộ; nhưng ông cũng như Huình Tịnh Paulus Của và
các vị tiền bối khác lại tận dụng kẻ hở đó để gây
dựng một nền văn học hiện đại. Đi xa hơn trong thái
độ tìm hiểu tiền nhân đã làm gì trong những hoàn
cảnh đặc biệt thì tốt, nhưng nếu phê bình gay gắt
họ, thì ai sẽ phê phán những cá nhân và tập thể
đã nhận viện trợ hoặc chịu áp lực của Hoa Kỳ, Trung-quốc,
Liên Xô, Pháp để đè nén nhân dân, gây chiến tranh
chống những đế quốc nghịch thù qua anh em mình hoặc
để làm những việc gọi là "làm mới" văn
học? Và thế nào là yêu nước? Lịch sử sẽ luận xét
sự "yêu nước" của tất cả, từ những vị
Cần vương, Văn thân Tống Nho tổ chức chống Pháp,
chống chữ quốc ngữ, từ những Trương Vĩnh Ký, Nguyễn
Trường Tộ, ... tích cực xông xáo với khả năng và
cơ hội, Trần Chánh Chiếu, Phan Bội Châu, Phan Chu
Trinh,... chủ trương minh tân và duy tân, đến các
nhà cựu học Đông-Kinh nghĩa thục chủ trương dùng
chữ quốc ngữ, hoặc Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh,
v.v. !
11 - Hạ giá Trương Vĩnh Ký có Phạm Quỳnh. Cùng
não trạng với Phạm Duy Tốn kỳ thị và tự hào văn
hóa ngàn năm văn vật đối với người đất mới, vô Nam
làm báo viết bài trên Lục-tỉnh Tân-văn chê nhà văn
nhà báo trong Nam như Lê Hoằng Mưu, Tân Dân-Tử,..
đã bị họ phản đối. Riêng Phạm Quỳnh có thể vì ghen
tương hay nghe lời quan thầy người Pháp, trong bút
ký "Một Tháng Ở Nam-kỳ", đã viết về Trương
Vĩnh Ký : "Nay có một ông Nam-kỳ bàn về các
vấn đề ấy một cách rất kỳ khôi đọc đến không thể
nhịn cười được tuy lời lẽ có lắm chổ quá đáng "nôm
na là cha mách qué"... Ông Trương chẳng qua
là một nhà làm sách giáo khoa thường cho con nít
học mà thôi đã có công gì với Tổ quốc. Chẳng dám
khinh gì người trước nhưng những danh sĩ nước Nam
cứ như ông Trương cả thì cũng không lấy gì làm vẻ
vang cho nước lắm" (44). Ngài chủ bút Nam-Phong
tạp-chí cũng làm báo cho Pháp, hơn nữa lại làm cho
trùm mật thám Đông-dương là Louis Marty, ngài đã
tổng quát hóa cái viết của người Nam vốn có hai
trường phái một bình dân viết theo lối đang nói,
và một theo trường phái Trương Vĩnh Ký, viết đúng
tiếng Việt của ông bà từ Bắc theo nam-tiến (8).
Khoảng năm 1934, trên tờ Phụ-Nữ Tân-Văn có cuộc
tranh luận về chữ viết của người Nam, nhà văn Phan
Khôi đã tuyên dương lối viết tiếng Việt của trường
phái Trương Vĩnh Ký và chê lối viết Nam "bình
dân" kia sai lầm. Và không lẽ ngài họ Phạm
quên Trương Vĩnh Ký từng được quốc tế tuyên dương
là nhà bác-học từ năm 1874, chưa kể những huân chương
nhiều nước (khác ngoài Pháp) và là hội viên nhiều
hội chuyên gia quốc tế !
Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước
Tân Biên: Văn Học Hiện Đại 1862-1943 (1963) đề cập
một cách sơ sài về cái mà ông gọi là "sự manh
nha văn quốc ngữ ở Nam-kỳ". Theo giáo sư Phạm,
hai ông Pétrus Ký và Paulus Của là những "vì
sao mọc quá sớm... dóng lên những tiếng chuông có
giá trị song "điệu cao họa quả", họ đã
"làm tài liệu cho một nền học Việt Nam, nhưng
nền học này đã không được thiết lập nên công việc
ấy bị bỏ rơi". Lý do vẫn theo ông, "vì
Nam-kỳ không hiến hoàn cảnh thuận lợi cho sự phát
triển của văn học, nhất là văn học quốc gia".
Giai đoạn "manh nha" này đã chỉ "đề
xướng lên những công việc mà rồi nhóm Nam Phong
ngoài Bắc tiếp tục" nhưng đã "làm được
mt việc mà nhóm Nam-phong không dám làm, ấy là cuốn
tự vị Việt Nam", rằng "quốc văn do đó
trong nhiều năm về sau ở Nam Kỳ chỉ bày tỏ trong
hình thức báo chí phổ thông, với trình độ trí thức
khá ấu trĩ hoặc ở tác phẩm tiểu thuyết cho một công
chúng hạ lưu dễ dãi" (45). Cái "manh nha"
đó thật sự đã gây thành nếp, thành phong trào mà
chúng tôi đã có lần chứng minh trong bài "Miền
Nam khai phóng" (46). Và hoàn cảnh mà giáo
sư Phạm nói đó, thật ra một phần do người Pháp khi
họ chuyển nền cai trị thực dân ra Hà Nội, lập phủ
Toàn quyền, trường Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) và viện
đại học, vì người Pháp đã hiểu người Nam-kỳ tuy
học tiếng Pháp và có vẻ chịu đồng hóa nhưng trong
thực tế người Nam-kỳ rất thủ cựu dân tộc chủ nghĩa.
Theo thiển ý giáo sư họ Phạm đã tỏ ra khá chủ quan
và hẹp hòi địa phương khi cho rằng "Nam-kỳ
không hiến hoàn cảnh thuận lợi cho sự phát triển
của văn học, nhất là văn học quốc gia"!
Giáo sư Nguyễn Văn Trung thời trước 1975 cũng theo
quan niệm chung đó, đã nghiêm khắc phê phán tác
phẩm văn học thời Pétrus Ký là "nghèo nàn",
ngưng đọng, vì các Pétrus Ký, Paulus Của chỉ là
những viên chức ăn lương của thực dân để thực hiện
chính sách "văn hóa, báo chí, giáo dục của
thực dân", lợi dụng chữ quốc ngữ và văn học
chữ quốc ngữ cho việc "trực trị và đồng hóa".
Dù vậy ông cũng đã nhìn nhận Pétrus Ký "có
tư cách hơn ... vì làm chính trị thì làm một cách
kín đáo, còn làm văn hóa thì chỉ làm văn hóa thuần
túy trong chính sách của thực dân, không như Phạm
Quỳnh hay Tôn Thọ Tường" (47). Trong khi việc
người Pháp cưỡng bách dùng chữ quốc ngữ chỉ vì người
Pháp muốn tiêu diệt truyền thống đạo lý, luân thường
xuất phát từ sách vở Nho học, người Pháp sợ những
sách này nhắc nhở ý thức về đạo lý dân tộc trong
đó có lòng ái-quốc! Trong Nam, người Pháp dùng báo
chí chữ quốc ngữ để thông tin, cai trị, nhưng những
người cộng tác như Trương Vĩnh Ký có đầu óc khai-phóng,
thức thời, đã lợi dụng để đặt nền móng cho văn học
chữ quốc ngữ. Các nhà nghiên cứu văn học của Hà
Nội như Mẫn Quốc, Tô Minh Trung, Hồ Song, Nguyễn
Anh, Hoàng Văn Lân, Trần Huy Liệu,... ở trong quỹ
đạo "yêu nước", chống "đế quốc"
và vinh quang thắng Pháp thời trước 1975, thắng
Mỹ trước Đổi Mới 1986, không thể có lời lẽ tốt và
công bằng hơn với Trương Vĩnh Ký ngoài luận điệu
xem Trương Vĩnh Ký là "tên tay sai đắc lực",
là "một nhân vật phản diện điển hình của nhân
dân ta" (36) hay "phản quốc, làm đặc vụ,
tay sai, tình báo cho địch" "giòi trong
xương giòi ra" (16)! Trong cùng chiều hướng
tố cáo và xóa bỏ, Phạm Long Điền và Nguyễn Sinh
Duy (48) sau mấy bài báo trên Bách Khoa đã xuất
bản Cuốn Sổ Bình Sanh Của Trương Vĩnh Ký đầu năm
1975. Hai ông xóa toàn bộ sự nghiệp văn hóa của
Trương Vĩnh Ký vì theo hai ông các tác phẩm của
Trương Vĩnh Ký phục vụ cho quyền lợi của Pháp. Một
trong những lý luận là sách Trương Vĩnh Ký được
người Pháp mua cho, bình tâm mà xét thì cũng thường,
vả lại hai ông quên bộ Thông-Loại Khoá-Trình mà
Trương Vĩnh Ký chăm chút đã phải đình bản vì thiếu
nợ nhà in. Sau 1975 không thấy hai ông lên tiếng,
chỉ biết hai ông là sinh viên của giáo sư Nguyễn
Văn Trung và nhà xuất bản Nam Sơn đã in sách hai
ông. Hai bài báo nói trên khiến ông Vương Hồng Sển
đau lòng, "lấy làm tội nghiệp cho nhà học giả
tiền bối miền Nam, chết được dựng tượng, mà nay
có trẻ nhỏ dám đến đái dưới gốc chân tượng"
(49) (Có người trích lại câu này và cắt nghĩa theo
nghĩa đen mà không hiểu trẻ nhỏ là họ Vương ám chỉ
hai ông họ Phạm và Nguyễn kia !). Cùng chiều hướng
này nhưng động cơ có thể "đa diện" hơn,
có ông Đỗ Mậu từng làm ủy viên (bộ trưởng) và phó
thủ tướng "văn hóa" của đệ nhị cộng hòa,
gần đây về nước lên đài truyền hình, đã gọi Trương
Vĩnh Ký là "tên đại phản quốc, một tên Việt
gian dùng văn hóa, báo chí giúp thực dân Pháp thống
trị Việt Nam" (50). Ở hải ngoại còn có các
nhà khoa bảng nhóm Giao Điểm, "sử gia"
Vũ Ngự Chiêu và "tác giả" Lê Trọng Văn!
Trong nước, người cộng sản vốn chỉ có một thái độ
hạ bệ Trương Vĩnh Ký vì mặc cảm (!) với dân Nam-bộ,
vì dị ứng với chuyện "yêu nước" theo chủ
trương của họ, nên đã hạ tượng, xóa tên trường,
nhưng nay đã có những tiếng nói tuy rời rạc nhưng
đã có, của Sơn Nam, Nguyễn Văn Trấn, Nguyễn Đình
Đầu hay của Nguyễn Văn Hoàn của Viện văn học là
người đã phát biểu rằng Trương Vĩnh Ký là "một
nhà văn hóa lớn không chỉ riêng của Nam-kỳ"
và đã nhìn nhận rằng "bộ phận văn học quốc
ngữ đã phát sinh và phát triển trong một không gian
chính trị - xã hội phức tạp... "!
Trần Chánh Chiếu chủ báo Lục-Tỉnh Tân-văn và là
người từng vận động phong trào Minh Tân sau lại
hổ trợ cụ Phan Bội Châu đã viết về Trương Vĩnh Ký
khi hô hào dựng tượng - về sau bị Pháp can thiệp
"lấy lại" chủ động: "Ông nầy khi
sanh tiền tuy là nhà nước tin cậy mặc dầu chớ chẳng
hề ỷ thế mà hại quê hương, chỉ vẽ cho các quan Lang-Sa
biết phong tục lễ nghĩa của con nhà Annam cho khỏi
chỗ xích mích nhau, làm cho mẹ gà phải thương con
vịt. Đêm ngày lo nghĩ đặt sách này dịch sách kia
cho kẻ hậu sanh dễ học. Thật(!) là quan thầy của
cả Nam-kỳ" (51). Học giả Nguyễn Văn Tố trong
bài viết bằng tiếng Pháp đã nói ở trên đã tóm lược
thân thế Trương Vĩnh Ký vào ba tiếng "Science,
Conscience et Modestie" (bác-học, tâm thuật
và khiêm tốn) (22)!
Nhà phê bình văn học Lê Thanh từ Bắc vào Sài-Gòn
nghiên cứu tác phẩm và văn khố ở nhà thờ Trương
Vĩnh Ký ở Chợ Quán đã viết lại cảm tưởngÂnăm 1943:
"Hơn một lần, nghiêng mình trên di cảo vàng
úa, tôi cảm thấy tâm hồn tôi săn lại, khi thấy,
bằng những dòng chữ rời rạc, tiên sinh ghi những
nỗi lo phiền, buồn tủi, tôi đã cảm thấy lạnh trong
tâm hồn khi đọc mấy chữ mà trên ấy tôi nhận thấy
sự đau đớn nhiều hơn sức mạnh, tôi được biết rằng,
vì quá tận tụy cho nhà, cho nước, cho văn chương,
tư tưởng mà tiên sinh đã phải trả cái giá đắt bằng
cả cái sức khoẻ và sau cùng, cả cái đời tiên sinh"
(52).
Thuần Phong thì khen Trương Vĩnh Ký khi so sánh
với Phạm Quỳnh : "Trương Vĩnh Ký là người học
trò thứ nhứt của chữ tây và đã cộng tác với Pháp
trong cuộc định đoạt vận mệnh quốc gia ta, đáng
lẽ ra tạp chí ấy ông phải làm tay sai cho Pháp để
đàn áp dư luận, thâu phục nhân tâm cho Pháp và để
tận diệt dấu tích chữ Nho và tinh thần ái quốc trong
tâm hồn nhân dân ta, như về sau này (1917) Phạm
Quỳnh đã ra làm tạp chí Nam-Phong cho Louis Marty
một cách khôn khéo. Song trong tạp chí đó, người
ta không thấy manh tâm ẩn ý nào theo Pháp phản dân,
không tìm được sự có mặt của Pháp, ngoại trừ mươi
hàng dạy tiếng Pháp ở cuối mỗi số..." (53)
. (Mà phần này chưa chắc đã do Trương Vĩnh Ký soạn
dù ông là Chánh tổng tài tờ báo!).
Bằng Giang trong Sương Mù Trên Tác Phẩm Trương
Vĩnh Ký trình bày Trương Vĩnh Ký có "giải pháp
phi truyền thống, mặc dầu có đối kháng nhưng không
có một lần nào Trương Vĩnh Ký công khai xúc phạm
đến danh dự của nghĩa quân là những người yêu nước
kháng chiến, vì chứng tỏ họ Trương cũng nhìn nhận
tinh thần đó ở những người (qua bức thư gửi cho
Paul Bert ngày 5-10-1886) hay những phong trào nghĩa
quân cần vương hoặc Văn thân" (54).
12 - Vấn-đề diễn tiến tư tưởng của tác giả : Nhiều
nhà biên soạn sách hay rơi vào sai lầm hay thiếu
sót khi trích dẫn các tác giả mà cuộc đời đã thay
đổi tư tưởng nhiều lần, thay đổi vì đổi đời, vì
chính kiến, ý thức hệ, hoặc tiến bộ, chính xác và
qui mô hơn. Các sách và bài báo của các giáo sư
Lý Chánh Trung, Nguyễn Văn Trung, các linh mục Chân
Tín, Nguyễn Ngọc Lan trước 1975 được viết trong
hoàn cảnh chiến tranh ý thức hệ tư bản-cộng sản,
thiên tả vì họ chủ trương một xã hội không tư bản;
sau 1975, tư tưởng và lý tưởng của họ đã đổi khác
trong một xã hội độc tài, chuyên chính, sau một
thời gian ngắn hồ hỡi vui chiến thắng và thống nhất,
họ đã có những sách báo không còn chung chiều hướng.
Lữ Phương, linh mục Trần Tam Tĩnh, có những sách
báo nặng nề phê phán ngay sau "chiến thắng"
30-4-1975 nhưng sau thời Đổi mới, họ có còn nghĩ
như vậy không? Giáo sư Nguyễn Văn Trung trước 1975
phê phán nặng nề Trương Vĩnh Ký và "bất công"
với văn học miền Nam như chính ông thú nhận (26)
nhưng sau 1987 ông đã có những bài viết "công
bằng" hơn nhưng đôi khi gây nghi ngờ thêm (55)!
Trích dẫn Phạm Long Điền hay Nguyễn Sinh Duy nên
hiểu hai ông đều là sinh viên chịu ảnh hưởng của
giáo sư Nguyễn Văn Trung trước 1975 (56). Hơn nữa
phải hiểu mục đích chống TVK thời bấy giờ như Phạm
Long Điền lộ cho thấyÂ"cho nên bài học TVK
còn là bài học lớn, súc tích, đầy ý nghĩa cho người
trí thức cũng như người cầm bút hôm nay suy gẫm
chọn một thế đùng trên con đường đi tới của lịch
sử dân tộc" (57).
Luận án của Cao Huy Thuần tựa đề Christianisme
et colonialisme au Vietnam, 1857-1914 (Université
de Paris, 1968) trước 1975 đã bị một nhóm người
có mưu đồ tiêu cực dịch ra tiếng Việt, năm 1988
ở hải ngoại "nhà xuất bản" Hương Quê ở
California in lại (Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực
Dân Tại Việt Nam 1857-1914), tác giả không hề hay
biết, do đó không thể xem bản dịch tiếng Việt là
của ông Thuần. Chính ông Thuần đã đính chính việc
này trên tờ Thời Luận ở Los Angeles số ra ngày 1-7-1988,
trong đó tác giả còn cho biết luận án của ông chỉ
có một "mục đích khoa học"! Vậy mà nhiều
người đã xem con thuyền phương tiện đưa người sang
sông là mục đích, rồi tôn thờ con thuyền! Hơn nữa,
trong bản in năm 1990, Les Missionnaires et la politique
coloniale française au Vietnam 1857-1914 (58),
tác giả đã lược bớt nhiều trang, nên có thể xem
như ông cập nhật hóa luận án hơn 20 năm trước. Để
chứng tỏ lương thiện trí thức ("honnêteté intellectuelle"),
người viết ít ra phải nói rõ đó là những gì tác
giả trích dẫn đã viết vào giai đoạn nào. Xin nhắc
ở đây là các cây viết thuộc hệ cộng sản như Phan
Cự Đệ, Vương Trí Nhàn, Hoàng Ngọc Hiến, Chương Thâu,
Trần Văn Giàu, ... đã "tiến hóa" tư tưởng
nếu không muốn nói là "mâu thuẫn" từ thời
1954 đến nay, về văn học tiền chiến, phong trào
Thơ Mới, Tự Lực văn-đoàn, Phạm Quỳnh, Nam-Phong
tạp-chí, v.v. Chế Lan Viên khi chết đã để lại Di
Thảo như để nói thật lòng tức phủ nhận hết những
lách, né trong quá khứ! Như vậy nay đã đầu một thế
kỷ và thiên niên mới, đất nước lòng người đã trãi
qua nhiều chuộc chiến tranh chống thực dân và nội
bộ, sao lại phải khơi những tro tàn 30, 50 năm trước
mà chính người liên hệ đã thay đổi, mở mắt và hoàn
cảnh đã khác? Với hậu ý gì ?
13 - Vấn đề thư tịch: Mất nước, mất tất cả, do
đó thư tịch và văn hóa cũng không tránh bi trạng
đó! Những ngưởi có chút bận tâm cho lịch sử, văn
học sử và thư tịch học không thể không bất bình
trước hiện tượng có những ấn phẩm không tôn trọng
văn bản và bản quyền tác giả; hơn thế nữa còn cắt
xén tác phẩm của người khác, thu góp bài làm một
tuyển tập (anthology) rồi ghi tên người thu lượm
là "tác giả", hay trích dẫn sai nguyên
văn dĩ nhiên vì có dụng ý, hoặc thu góp bài và thư
tín riêng tư mà không hề xin phép các tác giả. Ngoài
cuốn Pétrus Trương Vĩnh Ký Tuyển Tập (35), còn có
các ấn phẩm kể sau xin nêu tượng trưngÂ: A. de Rhodes
Người Đầu Tiên Vận Động Pháp Chiếm Việt Nam Và Chữ
Quốc Ngữ (11), Thiên Hồ! Đế Hồ! (của Chương Thâu
bị Mr Le ở hải ngoại thêm bớt bài, từ bài gốc cuả
cụ Phan Bội Châu), Ki Tô Giáo Từ Thực Chất Đến Huyền-Thoại
(có một số bài hoặc phát biểu riêng, in không xin
phép tác giả). Có hiện tượng "cầm nhần"
cố tình lẫn lộn tác giả (author / auteur) với người
chủ biên hoặc chủ trương (editeur intellectuel /
éditor) ở Âu Mỹ là người đứng ra mời hoặc chủ trương
dĩ nhiên xuất bản với sự thỏa thuận của các các
tác giả. Nhiều tuyển tập in ở hải ngoại rất mập
mờ điểm này, thường để tên người sưu tập và đánh
máy (chứ không hẳn đã là chủ biên) vào chỗ của tác
giả , như cuốn Việt Nam Những Sự Kiện Lịch Sử Trong
Thế Kỷ 20, ... Trong nước dù sao vẫn ghi rõ tên
người sưu tầm giới thiệu và ở chỗ khiêm tốn hơn!
Tưởng tượng nếu là người Hoa kỳ hay Pháp, Anh...
thì đây là những vi phạm luật pháp! Mà "honnêteté
intellectuelle" bị "quí vị" này hiếp
đáp hơi kỹ ! Cùng những "quí vị" này lại
hay nói đến lòng "yêu nước". Thiển nghĩ
chỉ có một tình yêu nước khi thành thật, không mưu
đồ, điều kiện, tình đó không thể có ở những trò
lộng giả thành chân, ăn cháo đái bát và vô ơn với
tiền nhân !
14 - Người Việt Nam có truyền thống trọng chữ tín,
sĩ diện và danh dự nhưng không có những hành động
ngoạn mục như người Nhật (có nhưng hiếm hoi Phan
Thanh Giản, Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương, một số
sĩ quan Việt Nam Cộng hòa,..), thành ra mới có chuyện
người sống viết hồi ký để tự đề cao, tự đính chính
đồng thời bôi xấu người chết hoặc đối nghịch và
bôi nhọ nhau trên báo chí, đối xử tàn tệ với bạn
hơn cả với kẻ thù. Có người dựa trên kẻ chết để
tự dánh bóng, để làm chính trị, ... Trương Vĩnh
Ký, "toàn-cầu bác-học danh-gia" được quốc
tế công nhận từ năm 1874, thông thạo trên 20 thứ
tiếng, mà sống khiêm tốn, sống theo lễ nghĩa căn
bản có thể lỗi thời, vác ngà voi cho tập thể và
hậu thế...! Quí học giả, nhân sĩ Nguyễn Văn Tố (22,
29) , Đào Duy Anh (59) , Hồ Hữu Tường (41), Vương
Hồng Sển đã có những nhận xét đáng kể. Cụ Vương
cụ thể trong cuốn Nửa Đời Còn Lại (1996), cuốn in
những bài viết cuối đời , đã kết luận về những "cái
gương sáng suốt": "Trương Vĩnh Ký đứng
đầu, chí khí như họ Từ đời Tam quốc, sống đất Tây
mà lòng vẫn hiên ngang, không theo phò tá mà vẫn
một lòng vì cố quốc, nước nhà, tuy tượng đòng bị
hạ bệ mà nghe đâu sẽ có ngày xây dựng lại như cũ..."
(60). Cả Nguyễn Đình Đầu (3), Nguyễn Văn Trấn, Đỗ
Quang Hưng (39) xuất thân từ đảng cộng sản Việt
Nam, các ông đều tôn vinh công trạng của Trương
Vĩnh Ký đối với văn học và văn hóa nước nhà. Nguyễn
Văn Trấn cho rằng TVK không sợ phỏng tay khi "thành
thật đưa tay ra nắm lấy tay người Pháp, ông muốn
nhờ ở sự gần gũi với châu âu, đem lại văn minh tiến
bộ. Mà văn minh tiến bộ chỉ tồn tại trong sự đồng
song phát triển của trí tuệ, đạo đức và hạnh phúc"
vì "TVK bản thân không để mất gì hết, từ quốc
tịch đến quốc hồn, bộ khăn đóng áo dài..."
(61). Tiếng nói những "hậu sinh" vì tị
hiềm tôn giáo, địa phương hoặc mưu đồ chính trị
hoặc cá nhân có thể sẽ bay mất, ấn phẩm của họ sẽ
bị đào thải, nhưng hiểm nguy đánh giá sai lịch sử
còn đó, vì nói như một nhà tuyên truyền giỏi, cứ
nói cứ nói dù sai, sẽ có cái gì đó lưu lại ! Hôm
nay với tài liệu thư tịch dù thất lạc nhưng vẫn
còn, mà con người đã xuyên tạc như thế, người ở
các thế hệ sau sẽ hiểu thế nào !
Hồ Hữu Tường từng xét trường hợp Trương Vĩnh Ký
là "cái quá trình cái hoá trình từ một nhà
trí thức hợp tác với ngoại bang đế đến một bậc sĩ
phu đối với thời đại của mình" (62). Thiển
nghĩ hơn thế nữa, Trương Vĩnh Ký là hành trình rất
trí thức của một con người "mất gốc" (theo
đạo, làm việc cho Pháp, sống ở đất thuộc địa) lúc
đầu đời, đi đến một con người thuần thục yêu nước
và văn hóa dân tộc ! Xin mở một dấu ngoặc rằng sách
sử từng ghi lại rằng gia đình Nguyễn Nhạc vốn theo
đạo Thiên-Chúa nhưng khi anh em Tây Sơn nổi dậy
thắng thế đã bỏ đạo. Tuy nhiên Nguyễn Lữ , một người
anh khác của vua Quang Trung sống thời thế kỷ XVIII
mà đã có cái nhìn tổng hợp về tôn giáo, đã chấp
nhận hành lễ theo nghi thức đạo Thiên-Chúa (63)
và cũng không cấm những tín ngưỡng khác bắt đầu
phát triển ở Nam-hà.
Vì nguồn gốc, quá khứ, tín ngưỡng, chiến tranh
và chính trị, v.v., người Việt đến nay vẫn đối đầu
nhau trong nhiều vấn đề liên hệ đến dân tộc và đất
nước. Thiển nghĩ chúng ta sẽ mất hết, mất cả cái
"nhau" chúng ta vẫn nghĩ còn ("Chúng
ta mất hết chỉ còn nhau"). Có những cái mất
mát mà chúng ta coi như định mệnh hoặc bất khả kháng
vì người sống không thể làm được gì để níu kéo ngoài
việc tưởng nhớ, như những chiến sĩ đã nằm xuống
vì lý tưởng, những nạn nhân chiến tranh, những đồng
bào chết dưới lòng biển, ... Nhưng đối với người
chết và nhất là các tiền nhân, tổ tiên, thiển nghĩ
chúng ta khó có thể chấp nhận thái độ phỉ báng một
cách hàm hồ, ác ý. Dù gì thì Trương Vĩnh Ký vẫn
là người có liên hệ đến lịch sử thời người Pháp
đến thôn tính Việt Nam, đã năng nổ ra tay, với lập
trường phục vụ tổ quốc và dân tộc, đã tích cực đương
đầu với "ngoại lai", tiếp nhận và thu
thập tinh hoa của "người", giúp người
Việt đến với khoa học, tiến bộ, làm giàu học thuật,
đồng thời đã giúp đồng bào của ông làm người Việt
về mặt đạo đức, văn hóa! Ngay sau "chiến thắng"
30-4-1975, Hà Nội liền phá bức tượng Trương Vĩnh
Ký ở công viên gần dinh Độc Lập (64), đổi tên trường
Petrus Trương Vĩnh Ký và phá bức ttượng bán thân
trong khuôn viên trường dựng từ 9-1928 (65); đến
nay dù Đổi Mới và sau nhiều thay đổi, tượng A. de
Rhodes được dựng lại, Trương Vĩnh Ký vẫn bị xóa,
không phục hồi. Vì lý do chính trị chăng? Tượng
A. de Rhodes được dựng lại, "tuyên truyền"
rằng ông là ông tổ chữ quốc ngữ chỉ gây thêm ngộ
nhận, "mây mù", vì muốn làm vui lòng người
Pháp chăng? Để trường Viễn-đông bác-cổ mở lại ở
Hà-nội, để người Pháp nghiên cứu và in sách Hán-Nôm
- việc Trương Vĩnh Ký đã từng làm! Một trí thức
Nam-kỳ, theo đạo Thiên-Chúa,.. hình như vẫn là ám
ảnh chính trị của guồng máy độc tài cộng sản? Mới
hiểu tại sao hơn thế kỷ trước, Trương Vĩnh Ký đến
chết vẫn ôm một tâm sự buồn, ghi lại rõ nhất ở hai
câu kết "bài thơ tuyệt vọng"Â:
"Cuốn sổ bình sanh công với tội,
Tìm nơi thẩm phán để thừa khơi"! (66)
Nguyễn Vy Khanh
5-2000
Chú:
(1) Phương hướng nhiệm vụ thứ nămÂ: "Tiếp
tục dòng chảy không đứt đoạn của ký ức văn hóa,
Hội Nhà Văn tạo mọi điều kiện đãy mạnh sáng tác
về đề tài lịch sử và chiến tranh cách mạng..."
(Hữu Thỉnh. "Báo Cáo của Ban chấp hành Hội
nhà văn khóa V... "Văn Nghệ, 17, 22-4-2000,
tr. 6). Ngoài ra, Nguyễn Hữu Sơn (Viện văn-học)
trong bài "Sáng tác về đề tài lịch sử"
(Văn-Nghệ 24, 16-9-1999, tr. 6)Âđã ghi nhận: "...
bởi tâm lý tự cường mong muốn khẳng định bản lĩnh
văn hóa dân tộc trong bước chuyển gia tốc giao lưu
và hội nhập quốc tế; hơn nữa được kích thích bởi
những định hướng lớn của Đảng và Nhà Nước trong
việc bảo tồn, phát huy bản sắc truyền thống dân
tộc khiến cho tâm thế sáng tác 'hướng về cội nguồn'
ở các nhà văn càng có dịp nảy nở và phát triển...".
(2) "Sử gia" Nguyên Vũ (Vũ Ngự Chiêu)
đã cho rằng Trương Vĩnh Ký bị thân mẫu "bán"
cho cha cố người Pháp (Paris Xuân 1996. HoustonÂ:
Văn Hóa, 1997, tr. 68). Đã bị bán mà TVK vẫn về
thăm mẹ mỗi hè và khi mẹ mất đã về thọ tang! Thật
ra cậu bé TVK 3 tuổi mồ côi cha được cố đạo Tám
(người từng được ba cậu là lãnh binh Trương Chánh
Thi che chở khỏi bị sát hại vì cấm đạo) và sau là
cố Long nuôi cho ăn học chữ Hán trước chữ quốc ngữ
và latinh. Riêng TVK đã có lần tự nhận là "con
nuôi" của nước Pháp cộng hòa!
(3) Bài nói chuyện tại Nhà văn hóa lao động thành
phố Hồ Chí Minh ngày 11-10-1998 và tường thuật lại
trên báo Thanh Niên số ra ngày 21-10-1998. Không
thấy sử gia Vũ Ngự Chiêu nhắc đến mấy lá thư này!
(4) Xem tranh luận về thơ Lục Vân Tiên trên tạp
chí Văn Học (CA) các số 141, 142, 148, 149 (1-9,
1998).
(5) Trích lại từ Bằng Giang. Sương Mù Trên Tác
Phẩm Trương Vĩnh Ký. (TpHCM)Â: Văn Học, 1993, tr.
41.
(6) Nguyên tựaÂlà : Chuyện Đời Xưa Lựa Nhón Lấy
Những Chuyện Hay Và Có Ích. Sài-Gòn. 1866. 74 tr.
(7) Thanh Lãng. "Thử thiết lập hồ sơ về hai
người con gái : một con của Phật, một con của Chúa",
tr. 14 in Về Sách Báo Của Tác Giả Công Giáo (Thế
Kỷ XVII-XIX): Tài Liệu Tham Khảo. (TpHCM: Trường
Đại học tổng hợp Tp HCM, Khoa Ngữ Văn, 1993), và
"Tiếng và chữ người Sài-Gòn" (di cảo).
Dòng Việt, 6, 1999, tr. 158-179.
(8) Xem Nguyễn Vy-Khanh. "Tiếng Việt qua một
số tác phẩm" tr. 63-91In Văn Học Và Thời Gian.
(Westminter, CÂ: Văn-Nghệ, 2000), và tập Sấm Truyền
Ca (MontréalÂ:Tạp chí Y Sĩ , 2000. 186 tr.).
(9) Rolland Jacques. "Bồ Đào Nha và công trình
sáng chế chữ quốc ngữ : phải chăng cần viết lại
lịch sử?" Định Hướng, 17, mùa thu 1998, tr.
18-62, tr. 40.
(10) Theo linh mục Đỗ Quang Chính, linh mục Dòng
Tên Francisco de Pina người đã dạy tiếng Việt cho
linh mục Đắc-Lộ, sau chết đuối ở cửa biển Đà Nẵng,
mới chính là "một trong những người đầu tiên
đem mẫu tự abc vào tiếng Việt" (Lịch Sử Chữ
Quốc Ngữ 1620-1659. Sài-Gòn : Ra-Khơi, 1972, tr.
89). Chính A. de Rhodes trong lời Tựa cũng ghi thừa
hưởng công của Jaspar d'Amaral và Barbosa. Về dấu
vết chữ quốc ngữ, xem R. Jacques. "Un document
de linguistique comparée, japonais-chinois-vietnamien,
rédigé à Macao en 1632". Định Hướng, 19, mùa
hè 1999, tr. 141-157; 21, mùa đông 1999, tr. 86-106,
và Nguyễn Khắc Xuyên. Ngữ pháp tiếng Việt của Đắc
Lộ 1651 . Garden Grove, CÂ: Thời Điểm, 1993; Giáo
Sĩ Đắc Lộ. http://vietcatholic.net/
(11) Garden Grove, CÂ: Giao Điểm, 1998. 299 tr.
(12) "Về vai trò của Alexandre de Rhodes đối
với sự chế tác và hoàn chỉnh chữ quốc ngữ"
in Giao Lưu Văn Hóa Và Ngôn Ngữ Việt Pháp (TpHCMÂ:
NXB TpHCM, 1999), tr. 236.
(13) Paris: Maisonneuve, 1955-56, tome 1, quyển
1, chương 1, trang 9-22. Hà Nội cũng theo lý luận
này để kết án A. de Rhodes có mưu đồ xui người Pháp
xâm chiếm nước Việt Nam.
(14) Văn-Học Chữ Quốc Ngữ ở Nam kỳ 1865-1930. TpHCMÂ:
Trẻ, 1992. Tr. 295.
(15) Phạm Long Điền, " Trương Vĩnh Ký trong
quĩ đạo xâm lăng văn hóa của thực dân Pháp"
Bách-Khoa, 408, 11-1974, tr. 40.
(16) Mẫn Quốc. "Trương Vĩnh Ký, một nhà bác
học trứ danh đã ngang nhiên đóng vai đặc vụ tình
báo, làm tay sai đắc lực cho giặc Pháp". Nghiên-Cứu
Lịch Sử , 60, 3-1964, tr. 40.
(17) Phạm Long Điền. Bđd, tr. 37.
(18)"Les monuments littéraires étant rares
dans le pays des ... qu'elles prennent naissance
aux sources obscures de la mythologie" (v.
1, p. 5-6) Avant-propos. Petit cours d'histoire
annamite à l'usage des écoles de la Basse-Cochinchine.
SaigonÂ: Impr. du Gouvernement, 1875-1877.
(19) "Pendant 149 ans, l'Annam eut à subir
des gouverneurs chinois. Mais cette domination périt,
comme tout ce qui tient de la violence, par ses
excès: Le joug fut brisé par les mains d'une femme".
Op. cit., p. 23.
(20 ) "Il introduisit la littérature chinoise
en entier, (...). Les Annamites perdirent complètement
leur propre écriture par suite de cette mesure rigoureusement
employée". Op. cit., v. 2, p. 27.
(21) "Nous n'oublierons point qu'Annamites
de la France, ou Annamites de la Cochinchine et
du Tonquin, nous avons des origines communes. Bien
que séparés par les destinés politiques, nous nous
élèverons de toutes nos forces contre ce système
erroné d'administration, contraire à la saine économie
politique, qui fait du peuple le bétail des rois;
qui n'est que l'exploitation maladroite et criminelle
d'une nation par la caste des fonctionnaires avides
et ambitieux". (Op. cit., v. 2, p. 251); "Je
demande pardon de cette digression, que la centemplation
des faits historiques m'a arrachée. On ne m'en voudra
point, si un sentiment de tristesse amère me domine,
lorsque je considère ce que sont devenus ces pays
et ce qu'ils auraient pu être" (p. 252).
(22) "Petrus Ký". Bulletin de l'enseignement
mutuel du Tonkin, t. XVII, nos 1-2, janv-juin 1937,
p. 25-67. Trích theo Bằng Giang, Sđd tr. 39.
(23) Vân-Đằng Trần Văn Rạng. " Trương Vĩnh
Ký với Truyện Đất Nam-kỳ". Văn (TpHCM), 11-1990,
tr. 102.
(24) Phụ lục, tr. 160-168 In Trương Vĩnh Ký, Nhà
Văn Hóa. Sđd; và Về Sách Báo... (chú 7).
(25) Trích theo Bằng Giang, Sđd tr. 132.
(26) Giáo sư Nguyễn Văn Trung đã nhiều lần cho
biết: : "Có thể chúng tôi cũng có trách nhiệm
phần nào trong việc dẹp bỏ tượng Trương Vĩnh Ký
vì nhiều năm trước 1975, chúng tôi đã đề ra một
cuộc vận động phê phán Phạm Quỳnh, Trương Vĩnh Ký
về phương diện chính trị và văn hóa" (Trương
Vĩnh Ký, Nhà Văn Hóa . Sđd, tr. 44); "Trước
1975 tôi đã viết nhiều bài, sách phê phán nghiêm
khắc Trương Vĩnh Ký đặc biệt về chính trị, hơn nữa
tôi còn gợi ý khuyến khích một vài bạn trẻ đi vào
con đường đó như Phạm Long Điền, Nguyễn Sinh Duy.
Những loạt bài phê phán của chúng tôi đã gây phiền
muộn bất mãn trong giới văn hóa miền Nam lúc đó
đặc biệt hai người Hồ Hữu Tường và Vương Hồng Sển..."
("RFI phỏng vấn nhân dịp 100 năm ngày giỗ Trương
Vĩnh Ký", Đi Tới, 13, 9-1998, tr. 22. In lại
trong Nhận-Định X (MontréalÂ: Tác giả xb, 1999),
tr. 151).
(27) Trích theo Bằng Giang, Sđd, tr. 56.
(28) Trích theo Bằng Giang. Sđd, tr. 134.
(29) "Tựa". Lê Thanh. Trương Vĩnh Ký
Biên-Khảo. Hà NộiÂ: Tân Dân, 1943 (Phổ Thông bán
nguyệt san, 9-1943), tr. 4.
(30) "Phỏng vấn nhà văn Võ Phiến về bộ sách
"Văn Học Miền Nam"". Văn Học (CA)
169, 5-2000, tr. 10.
(31) Bằng Giang. Sđd, tr. 65.
(32) Phạm Long Điền. Bđd, tr. 35.
(33) Nguyễn Văn Trung. Chữ, Văn Quốc Ngữ Thời Kỳ
Đầu Pháp Thuộc. (Sài Gòn : Nam Sơn, 1974), Xuân
Thu tb, 1989, tr. 42.
(34) Quán Phong. "Trương Vĩnh Ký". Nắng
Mới (Montréal), 21, 6-1993, tr. 20-24.
(35) Pétrus Trương Vĩnh Ký Tuyển Tập. (San Diego:
Việt Nam/Mr Le, 1996), tr. 89. (Ngoài bìa ghi "tác
giả" là Cửu Long Lê Trọng Văn, trang trong
ghi "tác giả giữ bản quyền" và ghi thêm
"mọi trích dịch, in hay sao ... phải có sự
đồng ý của tác giả" - Người đọc tự hỏi ai là
"tác giả" và không biết ông "tác
giả mới" này đã xin phép các tác giả nguyên
bản chính chưa!).
(36) Như Tô Minh Trung. "Trương Vĩnh Ký tên
tay sai đắc lực đầu tiên của chủ nghĩa thực dân
Pháp trong lịch sử nước ta". Nghiên Cứu Lịch
Sử , 59, 2-1964, tr. 45 (Lập lại ý bài của H.H.
"Giới thiệu TVK" đã đăng trước đó (NCLS,
56, 11-1963, tr. 13-23) là loạt bài mở đầu "cuộc
bình luận về TVK" kết thúc với Trần Huy Liệu
("Nhận định về TVK". 63,6-1964, tr. 29-31)).
(37) Paul Bert Au Tonkin. ParisÂ: G. Charpentier,
1887.
(38) Tâm Thư. Houston, TXÂ: Văn-hóa, 1995, tr.
99-100.
(39) Đỗ Quang Hưng. Một Số Vấn Đề Lịch Sử Thiên-Chúa
Giáo Ở Việt Nam. Hà NộiÂ: Trường đại-học tổng hợp,
khoa lịch sử, 1990. Ông Hưng tường trình và có kể
công của Trương Vĩnh Ký, lời phê duy nhất, nếu có
thể xem đó là lời phê, là khi ông gọi Trương Vĩnh
Ký là "trí thức nửa dân tộc" (tr. 68).
(40) Thư in lại trong Jean Bouchot. Un savant et
un patriote CochinchinoisÂ: Pétrus J.B. Trương Vĩnh
Ký. Sài Gòn : Nguyễn Văn Của, 1927, tr. 65.
(41) Trích theo Hồ Hữu Tường. "Hiện tượng
Trương Vĩnh Ký hay hóa trình từ người trí thức đến
kẻ sĩ phu". Bách-Khoa, 404, 5-9-1974, tr. 22.
(42) Dương Mạnh Huy, "Một người tốt của nước
Việt Nam", Lục Tỉnh Tân Văn 1927 (Trích theo
Bằng Giang. Sđd, tr. 94-95).
(43) Mẫn Quốc. Bđd, tr. 43.
(44) "Một tháng ở Nam-kỳ". Nam-Phong
tạp-chí 17 (1919), Trích từ Nguyễn Văn Trung. Nhận
Định X. Sđd, tr. 150, chúng tôi trích lại với dè
dặt vì chúng tôi không tìm thấy câu trích trong
bản in lại trong Hành Trình Nhật Ký (YerresÂ: Y
Việt, 1997).
(45) Tập 3. Sài Gòn : Tác giả xuất bản, 1965, tr.
84-85.(46) "Miền Nam khai phóng", tr.
15-61 In Văn-Học Và Thời Gian. Sđd.(47) Chữ, Văn
Quốc Ngữ Thời Kỳ Đầu Pháp Thuộc. Sđd, tr. 44, 86
và 112-115.
(48) Nguyễn Sinh Duy. "Thương xác cùng học
giả Hồ Hữu Tường về hiện tượng Trương Vĩnh Ký",
Bách Khoa, 406, 10-1974, tr. 15-25.
(49) Vương Hồng Sển. Hơn Nửa Đời Hư . Tp Hồ Chí
MinhÂ: NXB Tổng hợp, 1992, tr. 232.
(50) Tâm Thư. Sđd, tr. 83.
(51) "Ông Đốc Ký". Lục-Tỉnh tân-văn số
29, 4-6-1908. Trích lại theo Nguyễn Văn Trung (Trương
Vĩnh Ký, Nhà Văn Hóa, Sđd, tr. 34) . Câu này được
nhiều sách báo trích dẫn lại nhưng sai, hoặc thành
"ông thầy của cả nước và của cả Nam-kỳ",
hoặc "ông thầy đạo lý của Nam-kỳ"! Những
chữ in nghiêng không có ở nguyên bản đăng lại!
(52) Lê Thanh. Sđd, tr. 10-11.
(53) Đồng-Nai Văn-tập, 3, 1966, tr. 43-44, trích
lại theo Bằng Giang. Sđd, tr 63.
(54) Bằng Giang. Sđd, tr. 187.
(55) Như bài viết "Nghi vấn về tác giả Lục
Vân Tiên". Khởi Hành (CA), 45, 7-2000, tr.
7-10Â: ông chủ trì ông là người đầu tiên lập lại
nghi vấn của M.E. Villard trong một bài báo xa xưa
tháng 8-1880 nghi rằng Lục Vân Tiên xuất phát từ
Bắc từ ... thời thượng cổ, và vô danh!
(56) "RFI phỏng vấn nhân dịp 100 năm ngày
giỗ Trương Vĩnh Ký". Bđd, chú 25.
(57) New Haven, CT : Council on Southeast Asia
Studies, Yale Center for International and Area
Studies ; Amiens, France : Centre de relations internationales
et de science politique, Université d'Amiens, 1990.
420 p.
(58) Phạm Long Điền. Bđd, tr. 41.
(59)"Người đầu tiên có công khiến văn học
ta thành sinh-diện mới ấy là Trương Vĩnh Ký (...),
một nhà học giả trứ danh ở Nam-Việt ngay từ khi
Nam Việt mới thành thuộc địa đã dùng chữ quốc ngữ
để chuyển tả những văn Nôm hay (...) rồi lại dùng
Việt ngữ để phiên dịch sách Tàu (...), sách Tây
(...) và trứ thuật các sách chuyện đời xưa, phép
lịch sự an nam, cờ bạc nha phiến, bằng một trhứ
văn rất giản dị". (Việt Nam Văn Hóa Sử CươngÂ.
Sài-GònÂ: Bốn Phương, sd, tr. 276).
(60) Nửa Đời Còn Lại (Westminster, CÂ: Văn nghệ,
1996), tr. 369.
(61) Nguyễn Văn Trấn. Trương Vĩnh Ký, Con Người
Và Sự Thật. TpHCMÂ: Ban Khoa-học xã hội thành ủy,
1993, tr. 210. Sách bị tịch thu sau khi in, nhưng
hiện có ở nhiều thư viện Mỹ.
(62) Hồ Hữu Tường. Bđd, tr. 19.
(63) Lê Thành Khôi. Le Viêt NamÂ: histoire et civilisations,
le milieu et l'histoire. ParisÂ: Minuit, 1955, tr.
310-311.
(64) Bức tượng nhà bác học Trương Vĩnh Ký được
dựng từ năm 1927 ở công viên gần nhà thờ chánh toà
Sài-Gòn lúc đầu do dân chúng và nhà báo hô hào thu
góp đúc tượng từ năm 1908, sau nhà cầm quyền người
Pháp muốn "lôi kéo" về cùng phe đã hoàn
thành đúc tượng và khánh thành, khi kháng chiến
chống Pháp nổi dậy ở Sài-Gòn năm 1945 vẫn được tôn
trọng không bị phá đổ như tất cả các tượng hình
dấu vết của thực dân khác. Nhưng đến 30-4-1975 thì
bức tượng bị giật đổ vì bị kẻ "chiến thắng"
xem như là tàn tích của ... quá khứ ! Giáo sư Nguyễn
Văn Trung cũng đã thú nhận đã hiểu sai việc dựng
tượng nên đã mạnh tay với Trương Vĩnh Ký trước 1975
(Trương Vĩnh Ký, Nhà Văn Hóa. Sđd, tr 46).
(65) Với thiên kiến, "sử gia" Nguyên
Vũ VNC đã sai lầm gán cho "chính phủ Nam-kỳ
tự trị của y sĩ Nguyễn Văn Thinh lấy tên Petrus
Ký đặt cho trường học bản xứ lớn nhất SG" từ
năm 1946 (Sđd, chú 2, tr. 70). Trong thực tế lịch
sử, trường khai giảng khoảng tháng 9 năm 1927 với
tên Collège de Cochinchine, đến ngày 18-12-1927,
thống đóc Blanchard de la Brosse ra quyết định đổi
tên thành Petrus Trương Vĩnh Ký và năm sau khánh
thành tượng đồng TVK bán thân và trường trở thành
Lycée Petrus Trương Vĩnh Ký.
(66) Đào Văn Hội. Danh Nhân Nước Nhà. Sài-Gòn:
Tác giả tái bản, 1948, tr. 223.

|