TRANH
HOA ĐIỂU
TRONG HỘI HOẠ
TRUNG QUỐC
*
LÊ ANH MINH
₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪
Tranh hoa điểu ngư
trùng (hoa cỏ, chim chóc, cá, côn trùng) có nguồn
gốc lâu đời. Kể từ đời Đường và đời Tống trở về
sau, loại tranh này kết hợp giữa hội họa và văn
học. Ở Âu Châu, từ thời Phục Hưng cho tới nay loại
tranh đề tài bướm, thảo trùng, hoa cỏ không phải
là hiếm. Nhưng những đề tài này trong lối họa sơn
dầu Tây phương không hàm ý nghĩa tượng trưng văn
học. Đó là nét đặc trưng của hội họa truyền thống
Trung Quốc, khác biệt với lối họa sơn dầu Tây phương.
Đã bao triều đại qua, các họa gia cũng rất thường
là thi nhân, văn sĩ, dùng hội họa để tải đi những
thi tứ của mình. Khuynh hướng này đặc biệt hiện
rõ trong loại tranh hoa điểu.

Hoa cúc – tranh của Bát Đại Sơn Nhân
Văn nhân Trung Quốc thường gán cho từng loại hoa
một đức tính, một ý nghĩa tượng trưng văn học nào
đó, và các họa gia đã tiếp thu toàn bộ những quan
niệm này. Chẳng hạn Chu Đôn Di 周惇頤, một đại nho
đời Tống, từng nói: «Trong các loài hoa, cúc là
kẻ ẩn dật, mẫu đơn là kẻ phú quý và sen là bậc quân
tử vậy.» (Cúc, hoa chi ẩn dật giả dã; mẫu đơn, hoa
chi phú quý giả dã; liên, hoa chi quân tử giả dã.
菊花之隱逸者也牡丹花之富貴者也蓮花之君子者也). Quan niệm cúc là kẻ ẩn
dật có lẽ phát xuất từ Đào Tiềm 陶潛 tức Đào Uyên
Minh 陶淵明 đời Tấn, một thi sĩ vĩ đại, chán cảnh làm
quan luồn cúi, treo áo từ quan, hưởng thú điền viên,
vui cảnh nghèo, thích uống rượu chơi cúc và nhàn
du.
Người đời khen ông
là bậc ẩn dật cao khiết. Trong bài Ẩm Tửu 飲酒 của
ông có nhắc đến hoa cúc: «Hái cúc dưới giậu đông,
thơ thới nhìn núi Nam.» (Thái cúc đông ly hạ, du
nhiên kiến Nam Sơn. 採菊東籬下悠然見南山.) Người ẩn sĩ này
uống rượu ngắm cúc để quên cảnh náo nhiệt, trầm
luân trong đời, cho nên hoa cúc cũng là biểu tượng
của kẻ ẩn dật lánh đời vậy.

Hoa lan – tranh Kim Nông (1687-1764)
Người giàu có ưa
chuộng màu sắc lộng lẫy rực rỡ của mẫu đơn. Mẫu
đơn là loài hoa quý hiếm, chỉ có bậc quyền quý đài
các mới chơi hoa. Cho nên mẫu đơn là biểu tượng
của sự giàu sang phú quý. Hoa sen là cốt cách của
bậc quân tử. Đẹp và ngát hương, gần bùn mà chẳng
tanh bùn. Dù cuộc đời ô trọc, nhân tình ấm lạnh,
bậc quân tử vẫn giữ được tiết tháo của mình, thơm
tho và tinh khiết như đóa sen kia.

Mẫu đơn
Hoa kết hợp với điểu,
thảo trùng, cá, đá và các khí vật khác cũng tăng
thêm thi ý cho tranh, tạo cho tranh có chủ đề mới.
Thường đó là lời chúc nguyện cát tường. Chẳng hạn:
«Tùng hạc diên niên» 松鶴延年 (tùng và hạc sống lâu)
là chủ đề tranh dùng chúc thọ, bởi vì theo truyền
thuyết, người Trung Quốc tin rằng hạc sống đến ngàn
năm (Hạc thọ thiên tuế 鶴壽千歲). Người Trung Quốc có
thói quen tặng tranh tùng hạc mừng lễ thượng thọ
của các bậc trưởng thượng.

Tranh Tề Bạch Thạch
Thi nhân cho rằng chim én là loài chim nhỏ có cảm
tình, mùa thu và mùa đông bay đi tìm cái ấm áp của
miền nhiệt đới và mùa xuân quay về tổ cũ. «Xuân
phong yến hỉ» 春風燕喜 (chim yến vui trong gió xuân)
mô tả một đôi én về tổ trong cành liễu xanh phất
phơ hay cành đào hồng thắm. Một bức tranh với đôi
én hoặc một bức tranh với cặp hồng nhạn 鴻雁 (vịt
trời) hay đôi uyên ương bơi lội trong ao sen chính
là biểu tượng tình nghĩa vợ chồng, gia đình khang
lạc. Dưới cội mai vàng (biểu tượng của Phúc) là
đôi chim cun cút hoặc một đàn gà con cùng gà trống
gà mái cũng là biểu tượng của ân nghĩa tào khang,
quan hệ nhân luân. Tranh phụ đề «ân nghĩa tại sinh
tiền» 恩義在生前 (ân nghĩa đối với nhau lúc còn sống)
thật là cảm động và thâm trầm biết bao!
Tranh «Thập toàn
báo hỉ» 十全報喜 vẽ mười con chim khách đậu trên phiến
đá và trên cây tùng hót líu lo báo tin mừng (chim
khách được tin tưởng là báo điềm lành nên tục gọi
nó là «hỉ thước» 喜鵲), tranh để chúc sự nghiệp thành
công.
Mẫu đơn phối hợp
với cá lội là biểu tượng: «Phú quý hữu dư» 富貴有餘
(phú quý dư dật) là lời chúc nguyện tốt đẹp vào
ngày đầu năm. Mẫu đơn vẽ chung với khổng tước (chim
se sẻ) mang tên «Khổng tước khai bình» 孔雀開屏 là tranh
chúc mừng khai trương cửa tiệm. Hoa xuân điểm thêm
vài cánh bướm, tạo sinh động cho tranh. Bướm là
điệp 蝴 (hay hồ điệp 蝴蝶) đồng âm /dié/ với điệp 疊
(trùng điệp 重疊). Tranh mẫu đơn điểm thêm cánh bướm
ngụ ý phú quý trùng điệp 富貴重疊. Hoặc trên cánh hoa
vẽ con dế, cho ta hình dung tiếng thu đang về rồi
với tiếng nhạc để râm ran đâu đây.
Từ đời Đường (618-907)
trở về trước, hoa điểu được vẽ chỉ để trang sức
cho khí cụ đồ vật, hoặc để điểm xuyết thêm cho nhân
vật. Bắt đầu từ đời Đường là thời kỳ phồn thịnh
phú cường trong lịch sử Trung Quốc. Giao thông phát
triển, giao lưu văn hóa với các dân tộc, kinh tế
xã hội phồn vinh, văn học nghệ thuật được đề cao.
Đến nỗi mãi đến những thế kỷ gần đây mà người Trung
Quốc vẫn quen xưng là «Đường nhân» 唐人 một cách tự
hào. Cho nên trong bối cảnh học thuật văn nghệ rực
rỡ như vậy, không riêng gì tranh hoa điểu mà tranh
nhân vật, tranh sơn thủy cũng phát dương, tài bồi
có qui củ và hệ thống hơn.
Quyển Đường Triều
Danh Họa Lục 唐朝名畫錄 có kể ra trên hai mươi họa gia
chuyên về hoa điểu. Trong đó nổi bật nhất là Biên
Loan 邊鸞, Điêu Quang Dẫn 刁光引, và Đằng Xương Hựu 滕昌祐.
Điêu Quang Dẫn là thầy của Hoàng Thuyên 黃筌 và Từ
Hi 徐熙. Điêu Quang Dẫn được mệnh danh là tổ sư về
tranh hoa điểu cho đời sau. Thời Ngũ Đại (907-960)
trong cục diện thập quốc phân loạn, tranh hoa điểu
vẫn phồn thịnh; đương thời có «Từ Hoàng nhị thể»
徐黃二体 nghĩa là hai lối vẽ, một của Từ Hi và một của
Hoàng Thuyên. Họa pháp Từ và Hoàng bất đồng. Hoàng
là họa gia chốn cung đình, chủ trương tả chân. Từ
là dân áo vải đất Giang Nam, bút pháp khoáng đạt
nghiêng về tả ý. Hoàng thiện nghệ về chim tước,
Từ sở trường về ve sầu, bướm và thảo trùng khác.
Quách Nhược Hư 郭若虛 trong quyển Đồ Họa Kiến Văn Chí
圖畫見聞志 đã nói: «Hoàng gia phú quý, Từ Hi dã dật.»
黃家富貴徐熙野逸 (Họ Hoàng mô tả cảnh phú quý, Từ Hi mô
tả cảnh điền dã an nhàn.) Điều đó thật dễ hiểu.
Hoàng là họa sĩ nơi đế đô chuyên vẽ những trân cầm
thụy điểu trong cung đình, còn Từ là Giang Nam xử
sĩ quen vẽ dã trúc uyên ngư chốn giang hồ. Như vậy
thời Ngũ Đại họa pháp hoa điểu đã thể hiện rõ hai
phái: tả thực 寫實 (realistic style) và tả ý 寫意 (impressionistic
style). Hai phong cách này càng được phát dương
vào đời Tống (960-1276).
Tranh Tề Bạch Thạch
Tranh hoa điểu
đời Tống phát triển trên cơ sở «Từ Hoàng nhị thể»
của thời Ngũ Đại. Con trai của Hoàng Thuyên là Hoàng
Cư Thái 黃居寀 rất nổi tiếng, được vời vào Hoàng Gia
Hàn Lâm Họa Viện, rất được sủng ái chốn hoàng cung.
Thanh thế gia đình họ Hoàng càng lớn mạnh, người
ái mộ Hoàng thế cũng lắm mà kẻ a dua thì cũng nhiều.
Ảnh hưởng họa pháp của hai họ Hoàng và Từ không
những trong cung đình mà còn lan khắp ra ngoài nữa.
Từ các đời vua Tống về sau, phong cách dã dật của
họ Từ cũng được hâm mộ. Con cháu của Từ Hi là Sùng
Tự 崇嗣, Sùng Huân 崇勳 và Sùng Củ 崇矩 nổi tiếng từ đó.
Phong cách thịnh hành bấy giờ là phối hợp Từ Hoàng
nhị thể với nhau. Tiêu biểu phong cách phối hợp
này là anh em Thôi Bạch 崔白 và Thôi Khác 崔愨 cùng
với Ngô Nguyên Du 吳元渝. Người đời khen phong cách
của anh em Thôi và họ Ngô là thanh đạm nhã dật.
Bên cạnh họ, Triệu Xương 趙昌 và Dịch Nguyên Cát 易元吉
cũng rất nổi tiếng. Các danh thủ về hoa điểu có
thể kể thêm như Ngải Tuyên 艾宣, Vương Hiểu 王曉, Triệu
Cát 趙佶, Mã Bôn 馬賁, Đái Uyển 戴琬, Hàn Nhược Chuyết
韓若拙, v.v... Triệu Cát tức là vua Huy Tông 徽宗 cuối
đời Bắc Tống. Ông vua nghệ sĩ này rất tài hoa về
thư pháp, sơn thủy, và nhân vật, đặc biệt là hoa
điểu. Hiện nay tranh hoa điểu của ông vua này là
cao giá nhất trong các tranh điểu đời Tống. Tống
Huy Tông được khen ngợi về nghệ thuật bao nhiêu
thì càng bị chê về chính trị bấy nhiêu. Thời ông,
triều đình mục nát, xã hội nhiễu nhương, triều đình
chỉ trông cậy đám phường thị thái giám, để giặc
Kim tràn lấn cõi bờ.

Tranh Tống Huy Tông (Triệu Cát)
Đời Tống phát triển
một họa pháp gọi là Văn nhân họa pháp 文人畫法 (literati
style) do Tô Thức 蘇軾 (Tô Đông Pha 蘇東坡) và Mễ Phế
(Mễ Phất) 米芾 khai sinh ra. Lúc bấy giờ các văn nhân
rất sính hội họa và thư pháp. Quan niệm Tô Thức
và Mễ Phế cũng như các họa gia tài tử khác cho rằng
hội họa bất tất phải sao chép thiên nhiên, mục đích
của hội họa là gia tăng thi hứng, không cần phải
mô tả sự vật. Bút và mực du hí trên trang giấy,
những nét bút tiêu sái của nghệ sĩ cốt là bày tỏ
được ý tình mà thôi. Tô Thức nói: «Luận họa dĩ hình
tự, kiến dữ nhi đồng lân.» 論畫以硎似見與兒同鄰 (Luận về tranh
mà căn cứ trên hình thể giống như thật thì đó là
tiêu chuẩn của trẻ con). Còn Mễ Phế thì bảo: «Hào
phóng bất câu thằng kiểm.» 毫放不拘繩檢 (Nét bút phóng
khoáng không câu chấp vào khuôn mẫu có sẵn.) Đối
chiếu với hội họa Âu Châu, mãi đến thế kỷ XIX vẫn
còn thiên về tả thực, thì quan niệm nghệ thuật của
Tô-Mễ (thế kỷ XII) nói trên quả là phóng khoáng,
đi trước Tây phương tới sáu bảy trăm năm vậy. Nhưng
cuối đời Tống, quan niệm về văn nhân họa pháp chỉ
mới ở giai đoạn phôi thai, mãi đến đời Nguyên-Minh
và Thanh quan niệm này mới phát triển sâu rộng.
Lan và cúc – tranh Kim Nông (1687-1764)
Đời Nguyên (1234-1368)
dân Mông Cổ thống trị Trung Quốc, tôn trọng võ công,
khinh miệt văn học nghệ thuật. Nguyên Thái Tông
(1229-1245) chia dân làm 10 giai cấp: quan (người
Mông Cổ), lại, sư sãi, đạo sĩ, thầy thuốc, dân công
nghệ, thợ thuyền, đào kép hát, nho sĩ, và ăn mày.
Kẻ sĩ bị khinh bỉ, chỉ hơn lũ ăn mày; khoa cử bị
bãi bỏ trong một thời gian lâu. Trong bối cảnh đó,
dĩ nhiên hội họa cũng không thể nào phát triển được.
Các họa gia về hoa điểu phân làm hai phái: phái
phục cổ và phái tự do. Phái phục cổ gồm có Tiền
Tuyển 錢選, Vương Uyên 王淵, Trần Trọng Nhân 陳仲仁, v.v...
Họ chủ trương mô phỏng họa pháp họa gia đời trước
như Hoàng Thuyên, Triệu Xương, tức là lối công bút
mỹ lệ. Phái tự do thì tuân thủ quan niệm văn họa
pháp của Tô Thức và Mễ Phế đời Tống, nhưng không
có ai nổi bật.
Đời Minh (1368-1644),
kể từ Chu Nguyên Chương (một anh hùng áo vải phất
cờ khởi nghĩa lật đổ nhà Nguyên) lên ngôi, nền học
vấn nghệ thuật được phục hưng, khoa cử được coi
trọng. Tuy nhiên dẫu Hàn Lâm Họa Viện đã khôi phục
lại, người tài được chiêu vời đến, nhưng các vua
đời Minh chuyên chế, quen nghiêm hình tuấn phạt,
cho nên các họa gia không dám thoát ra khuôn phép
cũ: sáng tác phải phụng thừa thánh chỉ, phần lớn
mô phỏng ý tứ của cổ nhân, nhất nhất đều chỉ nhằm
tránh được lỗi lầm. Hiện tượng sao chép cổ nhân
không chỉ trong họa giới mà còn trong văn giới nữa.
Tiêu biểu cho phái phục cổ tranh hoa điểu là Biên
Văn Tiến 邊文進 và Lã Kỷ 呂紀. Về sau có cha con Lâm
Lương 林良 mới nổi tiếng về thủy mặc hoa điểu theo
lối tả ý. Giữa đời Minh về sau, lối tả ý mới thịnh
hành. Các cao thủ về hoa điểu tả ý có Trần Thuần
陳淳 và Từ Vị 徐渭. Chu Chi Miện 周之冕 nổi tiếng về sáng
kiến vẽ hoa rất tỉ mỉ còn vẽ lá thì theo lối tả
ý, tức là kết hợp công bút với ý bút. Trong khi
đó Trần Hồng Thụ 陳洪綬 nổi bật với tranh hoa điểu
theo lối công bút cố hữu của ông.

Chim ưng – tranh Từ Bi Hồng
Đến đời Mãn Thanh
(1644-1911) dân tộc Mãn thống nhất Trung Quốc. Nhiều
phong trào phản Thanh phục Minh nổi dậy. Tướng Trịnh
Thành Công khởi nghĩa vùng Giang Nam, Chiết Giang,
sau lập căn cứ ở đảo Đài Loan, mộng không thành,
ôm hận mà chết. Còn Mạc Cửu thì sang Hà Tiên (Việt
Nam) lập nghiệp, không chịu khuất thân với Thanh
triều. Nhà Thanh một mặt thẳng tay đàn áp người
khởi nghĩa phục Minh, một mặt biết chiêu dụ nhân
tài, thu dùng kẻ sĩ. Các vua Khang Hi và Càn Long
vừa giỏi võ nghệ vừa trọng văn hóa, cho nên văn
học nghệ thuật cũng rất thịnh. Về phương diện hội
họa, các họa gia vẫn tuân thủ quy phạm điển chương
họa pháp đời Minh, nghĩa là vẫn mô phỏng cổ nhân,
không có gì đặc sắc về mặt sáng tác. Tuy nhiên riêng
về hoa điểu có nhiều phát triển. Uấn Nam Điền 惲南田
nổi tiếng về lối vẽ không viền nét (một cốt họa
pháp) được coi là phương cách thể hiện màu hoa tươi
tắn và mềm mại. Ngoài ra còn có Hoa Nham 華嵒, Lý
Thiện 李鱓, Kim Nông 金農 đều sở trường về hoa điểu,
bút pháp giản dị độc đáo. Bút pháp tân kỳ nhất là
của hai di thần nhà Minh: Thạch Đào Hòa Thượng 石濤和尚
và Bát Đại Sơn Nhân 八大山人 mang tâm trạng bi thống
của kẻ vong quốc, khí bút hào phóng dị kỳ.

Tranh Ngô Xương Thạc
Vào cuối đời Thanh, giao thông giữa Đông và Tây
thường xuyên hơn. Tất nhiên lối họa truyền thống
Trung Quốc và lối họa Tây phương cũng có ảnh hưởng
hỗ tương nhất định. Tuy vậy đa số họa gia Trung
Quốc vẫn duy trì phong cách hội họa truyền thống
của họ. Về hoa điểu, công bút có Nhiệm Bá Niên 任伯年,
ý bút có Tề Bạch Thạch 齊白石, Ngô Xương Thạc 吳昌碩,
Cao Kỳ Phong 高奇峰, Cao Kiếm Phụ 高劍父, Trần Thụ Nhân
陳樹人, Vu Phi Ám 于非闇, Từ Bi Hồng 徐悲鴻...
Cao Kỳ Phong, Cao
Kiếm Phụ, Trần Thụ Nhân, Triệu Thiếu Ngang 趙少昂,
Lê Cát Dân 黎葛民 được coi là những người khai sáng
họa phái Lĩnh Nam 嶺南, một họa phái kết hợp sáng
tạo lối vẽ cổ truyền Trung Quốc và lối vẽ Tây phương
cận đại. Chi phái Lĩnh Nam tại Việt Nam do ông Lương
Thiếu Hàng 梁少航 sáng lập (môn đệ của Triệu Thiếu
Ngang). Ông Lương tạ thế, môn đệ là Lý Tùng Niên
李松年 kế tục, lập nên nhóm Nam Tú Nghệ Uyển 南秀藝苑 tại
Chợ Lớn ngày nay.●

|