|  

Dương
thu Hương
Những
thiên đường mù
Chương 1
Chín giờ sáng, bà Vêra đưa cho tôi bức điện: “Cậu
ốm nặng, Hằng tới ngay.”
Sau khi quan sát gương mặt tôi, bà bảo:
- Tội nghiệp cho mày. Mày là 1 con bé thiếu may
mắn.
Nói xong, lắc mái đầu đồ sộ, bà quay đi. Mùi nước
hoa rẻ tiền tạt lại, vương trong không gian, như
1 thứ nhựa loãng dính vào các bức tường vôi đã tróc
lở. Tôi mặc đồ ngủ, đứng co ro nhìn tấm thân phì
nhiêu của người đàn bà gác dan, đầu óc rối tung.
Chính tôi, tôi cũng đang ốm. Những trận viêm phế
quản liên miên vừa qua khiến 2 vai tôi còng xuống
như lão già nghiện nặng. Ngực lép dẹt, không chiếc
áo lót nào còn mặc vừa. Khu cư xá chỉ có vài mống
đàn ông, toàn thứ đồ cổ. Vậy mà đi qua mặt tôi,
họ cũng không buồn đưa mắt liếc qua. Trong số 800
rúp dành dụm được, tôi đã tiêu hết 450 tiền thuốc
men và thứ ăn bồi dưỡng. Tôi dự định tiêu thêm 50
rúp nữa khoản đó, cho đủ sức đi làm. Vậy mà, đúng
lúc bức điện trời đánh kia giáng xuống.
- Con điên, mới bảnh mắt đã ra đứng ngoài ấy làm
gì? Vào phòng ngay không cảm lại 1 trận nữa thì
đời ra tương.
Cô bạn cùng phòng hét to. Tôi quay vào, chui trong
tấm chăn nồng sực hơi ấm. Hạnh phúc quá. Hôm nay
chủ nhật, tất cả đều nghỉ việc. Cả bọn dự định làm
bún kiểu Việt Nam ăn bữa trưa. Còn lúc này, tất
cả rúc trong chăn nghe nhạc. Tiếng nhạc từ căn phòng
nào đó từ tầng trên vẳng xuống. Vừa nghe, vừa thả
lỏng tấm thân mệt mỏi, vừa gặm nhấm nỗi nhớ nhà.
Khung cửa sổ căn phòng của chúng tôi mở rộng. Không
ngọn cây nào vươn được tới đó. Nhưng bù lại, là
trời xanh ngăn ngắt, màu xanh trong và lạnh, thăm
thẳm đơn côi.
- Điện gì thế Hằng?
Cô bạn tôi hỏi.
- Ông cậu ốm.
Tôi đáp lời.
- Cái ông ở Matxcơva chứ gì?
- Ừ.
- Nhưng mày cũng vừa ốm dậy.
- ...
- Chì còn được nghỉ 4 hôm nữa thôi. Hôm qua, mụ
Tanhia vừa nhắc đấy
- ...
- Từ đây tới Matxcơva có ít đường đất đâu? Những
đi về đã đủ ốm rồi.
- ...
- Mà mày xanh bủng ra như đàn bà hậu sản. Không
chịu phấn son vào, nhìn pháp khiếp.
Tôi lặng im, không đáp. Nhưng dường như, cùng lúc
với tiếng nói của cô bạn, trong tôi thầm vang lên
lời phản bác:
- Không đi, không đi! Mặc kệ, mặc kệ.
Con đường hun hút lướt qua. Những cột cây số chạy
lùi. Các cánh rừng và những đồng lúa mì ngút ngát.
Các tỉnh lỵ với chóp nhà thờ và những khuôn viên.
Tiếng bánh xe lăn trên đường ray buồn tẻ. Cac sân
ga trong ánh điện hoặc trong lớp sương mù.
Đang nằm, chợt cô bạn tôi vùng lên, vẫn tay áo
lê thê như thế, cô tới giá sách, chọn 1 chiếc đĩa
hát. Rôù cô mở chiếc máy quay đĩa mới vừa mua, giá
120 rúp. Bỏ tấm vải phủ, bật nắp máy, cô đặt chiếc
đĩa hát và cho máy chạy. Tiếng kim chạy xè xè qua
những vòng rãnh câm, Cô bạn lại nhảy lên giường,
trùm chăn. Lúc ấy, tiếng hát bỗng cất lên, đột ngột:
Ở tận sông Hồng em có biết?
Quê hương anh cũng có dòng sông
Anh mãi gọi với lòng tha thiết
Vàm Cỏ Đông! Ơi Vàm Cỏ...
Giọng hát bay chói vói trong không gian. Xanh và
lạnh. Trời đang nắng rỡ ngoài kia, nhưng cái lạnh
ly hương thấm vào da thịt. Bài ca, như sợi chỉ bạc
mong manh, lạc lõng giữa khung trời. Nó khiến tôi
có cảm giác bị xô đẩy tới tận cùng trái đất. Rồi
nó lại kéo tôi về với 1 triền sông quen, bờ cát
nóng bỏng ánh trời, cánh buồm tả tơi chòng chành
trên sóng nước, tiếng kêu khắc khoải của lũ chim
di trú bay.
Trời ơi, mái nhà đã sụp lở của mẹ tôi. Một bên
mái ghép bởi tấm tôn và mảnh giấy tẩm nhựa đường.
Ngày mưa, tiếng mưa gõ trên mái tôn rổn rảng. Trưa
hè, mùa nhựa đường khét lẹt bốc lên khiến ta muốn
buồn nôn. Những rãng nước bẩn chảy từ nhà nọ sang
nhà kia, dưới các phiến gạch xi măng ghép. Lũ trẻ
trong ngõ thường khuấy dòng nước đen nhơ bẩn đó
lên chơi. Chúng thả xuống cống những con thuyền
gập bằng giấy trắng. Ngay bên rãnh nước, bụi nhài
tỏa hương ngây ngất. Con đường phố quen, những bụi
cỏ leo cớm nắng dưới chân tường, nơi lúc nào cũng
khai nồng nặc vì dòng nước tiểu của đám người say
bia vô sỉ rót xuống.
- Hằng ơi! nghĩ gì thế?
- Không
- Nhớ nhà quá mày. Đau quặn ruột.
- ...
Cô bạn tôi cất tiếng rên rỉ. Nó quấn chăn lăn giẫy
ầm ầm trên giường, rồi đột ngột bật kêu to:
- Ối giời ơi, thế này thì chết mẹ nó đi cho xong.
Tôi im lặng, không đáp. Vì chính tôi cũng đã khóc
tự lúc nào chẳng rõ. Nước mắt nóng và mặn khiến
tôi nghẹn họng. Trong làn sóng nước mắt, gương mặt
u uất của mẹ tôi hiện lên. Mắt bà rất đen, lút dưới
2 hố sâu, chiếu ra những tia sáng buồn. Trong cái
nhìn của bà găm giữ nỗi thống khổ và sức chịu đựng
không thể đo đếm. Hồi trước, mỗi lần gia đình chúng
tôi gặp tai biến, là 1 lần mẹ nhắc nhở:
- Làm người cốt nhất là không được thối chí. Chỉ
1 phút xuôi tay, mọi sự sẽ đổ nát. Gừng già gừng
rụng, gừng cay, anh hùng càng cực càng dày nghĩa
nhân.
Mẹ đã sống theo châm ngôn ấy suốt đời. Mẹ muốn
tôi cũng sống được như mẹ. Vậy mà tôi đã làm gì
cơ chứ? Ông cậu ruột, người em duy nhất của mẹ bị
ốm, điện cầu cứu tôi, và tôi đã định làm ngơ.
Ở phòng gác dan, bà Vêra đang đan 1 tấm khăn len
bằng rất nhiều thứ ken tháo từ các tấm áo cũ ra.
Tấm khăn ấy có thể choàng kín cả tấm lưng đồ sộ
của bà viø nó xấp xỉ 1 tấm khăn trải bàn. Đôi tay
nhỏ, trắng trẻo, trẻ hơn mặt bà 10 tuổi, luồn lách
mũi kim 1 cách khéo léo. Không ai đoán được 1 người
vóc dáng thô tháp, mông vại, lưng gấu gù gù như
bà lại có thể đan nổi chiếc khăn đẹp thế. Bà đang
chăm chú đan nốt những dòng cuối cùng. Thấy tôi,
bà ngẩng mặt lên nhìn, cặp kính lão tụt xuống chóp
mũi:
- Mày nhất quyết đi Matxcơva?
- Cháu phải đi, bà Vêra ạ.
- Tao trông mày xanh lắm.
- Vâng, nhưng ông ấy là cậu ruột cháu.
Bà Vêra cúi xuống:
- Chờ tao 1 lát.
Tôi đứng chờ, hơi sốt ruột vì sợ trễ tàu. Nhưng
nể bà nên không dám giục. Bà Vêra kiên trì chiết
nốt dòng cuối, rồi vuốt ve tấm khăn 1 cách trìu
mến, bà bảo tôi:
- Mày thấy đẹp không?
- Rất đẹp.
- Toàn len cũ giặt lại đấy.
Bà nói, giọng đầu tự hào. Xong xuôi, bà ghi tên
tôi vào cuốn sổ trực to tướng. Chỉ đợi có thế, tôi
vội vã chào:
- Cháu đi đây.
Nhưng bà gác dan đã thò cánh tay hộ pháp qua cửa
nắm tay tôi:
- Chờ đã. Tao cho mày mượn tấm khăn len này. Đêm
nay sẽ phải dùng tới nó đấy, chuột nhắt ạ.
Tôi cúi chào, cảm ơn người gác dan nặng 92 kilô,
tốt bụng nhưng cũng nghiệt ngã và hay nổi nóng 1
cách bất ngờ, như hầu hết những người đàn bà góa
bụa sau chiến tranh ở nước Nga. Tôi đi ôtôbuýt ra
ga. May mắn sao, tôi đã tới kịp chuyến tàu tốc hành
duy nhất trong ngày. Tàu khởi hành lúc 5 giờ chiều.
Khoảng khắc ấy, tất cả các ngôi nhà trong thành
phố, những rặng cây bên vỉa hè, và các mảnh rừng
nhỏ nằm xiêu xiêu nơi ngoại ô đều đẹp lên rực rỡ
vì tẩm nhiễm làn ánh sáng nhấp nhoáng của vàng tan
loãng. Váy các cô gái bay tung, mỏng hơn, gọi mời
hơn trong thứ ánh sáng ấy. Tôi ngắm các cô không
chán mắt, với tâm trạng đã trở lại thơ thới. Khi
vào cửa ga, tôi bỗng chạm phải 1 người đàn bà tóc
hoe vàng, quấn thành từng lọn trên mái đầu tròn
trĩnh. Bà ta khẽ nhăn đôi mày lại, không nói gì.
Tôi lí nhí cất tiếng xin lỗi, nhưng có lẽ giọng
tôi quá nhỏ, hoặc người đàn bà quýphái đó không
muốn nghe, nên bà ta đã đi lướt qua rất nhanh. Tấm
áo nhung đỏ và chiếc váy nhung đen bó sát tấm thân
óng ả. Cặp mắt kiêu hãnh nhìn thẳng. Mùi phấn bay
như 1 loài hoa... Rồi tôi thấy mình trong gương:
Một con bé da xanh tái, nét mặt ngơ ngác và âu lo,
vai lép dẹt, mặc bộ đồ nâu lợt, dáng vẻ thiếu tự
tin, cân nặng 42 kilô.
- Đừng cả nghĩ... Đừng mặc cảm... Mình là 1 con
bé đa sự, vớ vẩn...
Tôi tự lẩm bẩm mắng mình. nhưng dẫu sao, cảm giác
tủi hổ vẫn bám trên 2 gò má nóng rực của tôi, như
lớp son dính. Tôi bỗng thấy oán ghét ông cậu tôi.
Lên tàu, chui vào góc toa của mình, tôi nhắm mắt
lại. Và như 1 cuốn phim sử thuật, cuộc sống quá
vãng lần mở ra...

|