|  VƯỜN
HỒNG

Nhân
ngày mất của nhà thơ, văn Thế Lữ ( 3-5-1989 )
Thế
Lữ “Kẻ bộ hành phiêu lãng”
Nhớ
Rừng
Thế
Lữ đã sửa lại bài thơ Nhớ rừng như thế nào?
Thế
Lữ: Thơ ca và Sự nghiệp
Hồ
Xuân Và Thiếu Nữ
Vẻ
Đẹp Thoáng Qua
Yêu
Ý
Thơ
Tự
Trào
Trụy
Lạc
Một
số chuyện ngắn của Thế Lữ ( web Chim Việt Cành Nam)
Thế
Lữ
Thế Lữ (1907-1989)
tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, sinh tại Hà Nội, quê
gốc Bắc Ninh. Bút danh là tên thật đọc lái đi mà
thành và có nghĩa cái quán trọ của đời, coi đời
như quán trọ. Ông viết truyện và làm thơ. Truyện
của ông hấp dẫn vì tính chất bí ẩn và trinh thám.
Thơ của ông, chỉ có hai tập, sáng tác trong vòng
bảy năm, nhưng lại có ý nghĩa khai sinh một chặng
phát triển mới cho thơ: phong trào Thơ Mới. Đầu
những năm 30, thơ cũ theo luật Đường không còn đủ
sức phô diễn những tình cảm mới. Tản Đà đã phải
có những yếu tố cách tân. Đến năm 1932 thì một loạt
thi sĩ mang vào thơ những thay đổi cả về nội dung
lẫn hình thức. Những cuộc tranh luận giữa mới cũ
diễn ra sôi nổi. Thế Lữ không tham gia tranh luận
mà lặng lẽ làm thơ theo lối mới. Khi tập Mấy vần
thơ của ông ra mắt, 1935, thì phái thơ cũ không
còn lý lẽ để công kích thơ mới nữa. Với Thế Lữ lần
đầu công chúng thơ được nếm một thi vị hoàn toàn
mới mẻ, mà lại như được gặp chính tâm hồn mình trên
trang giấy.
Thế Lữ có cách lắng nghe kỳ diệu những tiếng vọng
mơ hồ đầy gợi cảm trong tâm hồn lớp trẻ hình thành
từ những đổi thay của lối sống, của lối nghĩ, cách
vui buồn. Thế Lữ đã phát hiện và diễn tả được cái
tâm trạng bâng khuâng man mác (cụm từ này xuất hiện
trong nhiều câu thơ Thế Lữ và Xuân Diệu đã tách
ra để chỉ thuộc tính thơ Thế Lữ)của những người
vừa tách ra khỏi cái tập thể chung chung mù mờ cảm
giác của chế độ phong kiến già nua, để tìm lại cá
tính, tìm lại cảm xúc riêng tư. Tâm trạng phổ biến
của những con người ấy là nỗi bâng khuâng mơ hồ
khi đối diện mình với khoảng xa rộng của không gian,
của đời người, của hạnh phúc lứa đôi. Thế Lữ thường
ký thác niềm bâng khuâng mơ hồ ấy vào cô gái mới
lớn, lần đầu biết yêu, lần đầu nghe lòng mình xao
động. Sự lắng nghe những gợn nhẹ nhỏ bé của lòng
mình ấy chính là dấu hiệu to lớn của một thời đại
mới.
Thế Lữ đắm say trong những cảm xúc lãng mạn, ông
tạo dựng bồng lai và tự kinh ngạc trước vẻ đẹp thần
thoại:
Trời xanh xanh ngắt.
Ô kìa! Hai con hạc trắng bay về bồng lai Và:
Ái ân bờ cỏ ôm chân trúc
Sau trúc, ô kìa! Xiêm áo ai? Bài Nhớ rừng thực
chất là một tuyên ngôn của chủ nghĩa lãng mạn, không
chấp nhận cái tầm thường Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng,
cây trồng/ Dải nước đen giả suối, chẳng thông dòng/
Lẩn lút bên những mô gò thấp kém... để đòi hỏi cái
phi thường Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn
hét núi hoặc với những đêm vàng bên bờ suối/ Ta
say mồi đứng uống ánh trăng tan và những ngày mưa
chuyển động bốn phương ngàn/ Ta lặng ngắm cảnh giang
san ta đổi mới... Thế giới lãng mạng của Thế Lữ
gần với tiên cảnh, gần với thiên thai, với Tiên
nga xõa tóc bên nguồn, với Ngọc nữ uốn mình trong
không. Thế giới này, ở Xuân Diệu, mấy năm sau đó,
gắn với mặt đất hơn. Đó là một bước tiến.
Nghệ thuật ngôn ngữ, âm điệu, hình ảnh... ở Thế
Lữ đã đạt tới độ tinh xảo, hai phần ba thế kỷ đi
qua, nay đọc lại vẫn kinh ngạc vì sự mới mẻ. Tả
âm thanh:
Êm như hơi gió thoảng cung tiên
Cao như thông vút, buồn như liễu
Nước lặng, mây ngừng, ta đứng yên.
Tả khoảnh khắc:
Mây hồng ngừng lại sau đèo
Mình cây nắng nhuộm, bóng chiều không đi.
Thế Lữ không đi tận cùng với thơ. Từ năm 1937,
ông chuyển sang kịch và cũng có nhiều thành tựu
ở lĩnh vực này. Nhưng Thế Lữ đã được coi là người
cách tân số một của thơ Việt Nam thế kỷ 20, mở đường
cho một loạt thi sĩ tài năng xuất hiện trong thời
gian 1932-1945.
Hà Nội 28-8-2000
VŨ QUẦN PHƯƠNG

|