| TẠP
VĂN
Tạp văn
NGÂM
THƠ 
VỀ
THĂM VƯỜN CŨ
Trang
Học Làm Thơ
TRÁI TIM HỒNG
Làng
quê yêu dấu
(Bút ký)
Tôi
theo cha mẹ đi xa làng từ nhỏ. Lâu lâu mới có dịp
về thăm quê, lần nào về, tôi cũng có cảm giác không
muốn rời xa nơi ấy nữa…Nơi ấy có bến sông lũ trẻ
tắm, những đêm trăng mùa hè sáng trưng như ban ngày.
Nơi ấy có mùa kéo mật, tiếng che gỗ nghiến mía râm
ran lũy tre già, vòng tròn con trâu quay xung quanh
tưởng chừng như bất tận. Nơi ấy có tiếng rao của
chị hàng nước hến ngọt lịm từ tuổi thơ đến mãi bây
giờ. Nơi ấy có mùi rươi thơm nức mũi, và tôi đã
từng hào hứng mang theo những chai mắm rươi lên
tàu hỏa, lên máy bay ra Bắc vào Nam làm quà biếu
cho bạn bè. Chút quà quê, Khi họ ăn ngon miệng,
khen nức nở, không hiểu sao lòng dạ cứ sướng rân:
"Đặc sản làng tôi đấy, ngày xưa bà nội tôi
muối rươi còn ngon hơn thế nhiều… Tiếc rằng bà tôi
đã mất rồi…"Con sông Lam mùa lụt mỗi năm lại
vặn mình, tự ý làm những cuộc sắp đặt "thương
hải biến nhi tang điền" như người xưa vẫn nói.
Bến sông đã lở, chợ Tràng đã lở, mái đình cây đa
giếng nước cũng đã lở xuống sông, làng tôi dời vào
trong đê. Bãi bồi mênh mông, tuổi thơ tôi chạy chơi
mỏi cẳng, giờ đây chỉ còn là những luống cà, luống
đậu mọc loe hoe ven mép nước sóng vỗ ì oạp… Có thể
nói dòng sông đã cuốn làng trôi vào dĩ vãng nhưng
người đi xa vẫn còn nguyên vẹn một làng quê yêu
dấu trong tâm tưởng. Biết làm thế nào, con sông
bên lở bên bồi… làng tôi không may ở vào bên lở!ở
làng tôi còn một người bác ruột đã ngoài tám mươi.
ông là người kiên trì bám quê nhất dòng họ. Chỉ
bằng nghề thuốc Đông y gia truyền mà ông nuôi đủ
chín người con phương trưởng. Các anh chị sống ở
Thủ đô cũng có ở Vinh cũng có nhưng ông chỉ muốn
ở làng không muốn theo người con nào cả. Thời trai
trẻ, ông đã có những chuyến tha phương tìm kế sinh
nhai khắp xứ Đông Dương nhưng rồi lại vội trở về
làng. Chúng tôi đùa ông là người có nhiều cơ hội
trở thành Việt kiều nhưng không đủ dũng khí xa rời
cây đa bến nước sân đình. ông chỉ cười khẩy, nụ
cười thường thấy trên môi những vị túc nho. Giữa
thời đại điện tử này, lời ông nói vẫn chen câu chữ
Thánh hiền:
-
Không có cái chữ Nho là không thành nhân tính. Các
anh xem ông cha ta bao đời vẫn trọng cái đạo Nho.
Để mất chữ Nho coi chừng mất hết lẽ đời.
Lúc
trà dư tửu hậu, ông phản ứng chúng tôi bằng thái
độ coi thường những kẻ vọng ngoại. Theo ông người
Việt có đầy đủ phẩm chất cao quí mà tạo hóa ban
phát, người nào cũng có thể làm nên danh phận nếu
biết chăm lo học hành làm ăn. Nhất nghệ tinh nhất
thân vinh, một đời bác tôi vẫn cắt thuốc bằng chiếc
dao cầu rèn đầu thế kỷ XIX do ông nội để lại, lưỡi
dao đã mòn vẹt như một vành trăng khuyết, vẫn chiếc
mai rùa đã ngã màu thời gian trắng bạc. Và trên
tủ thuốc các ô thảo dược vẫn được ghi chú bằng thứ
chữ Nho chân phương viết bằng bút lông với thứ mực
mài cẩn thận trong nghiên đá. ông có thể làm giàu,
rất giàu bằng tài năng và uy tín nghề nghiệp nhưng
ông không dám. Vì giống như con chim bị đạn sợ làn
cây cong, trong đời có ba lần đổi tiền thì ba lần
gặp rắc rối, bị tạm giữ, bị khám nhà, bị nghi ngờ
là thành phần có khả năng trở thành tư sản. Khổ
vậy, ở một làng quê nghèo khó, có khả năng làm giàu
cũng là một cái tội. ông cứ dạy con cháu nhất nghệ
tinh nhất thân vinh… nhưng tôi biết không ít lần
ông từng nuốt âm thầm cái nhục vào trong dạ.Tôi
về quê, ông thường dành thì giờ không tiếp bệnh
nhân đưa đi chơi khắp làng. Càng đi càng thấy mừng
cho ông, người làng gặp trên đường đều chào bác
tôi rất cung kính. Bao nhiêu năm làm thuốc dù đời
chìm khuất trong góc làng hẻo lánh nhưng tiếng tăm
nghề nghiệp của ông đã bay xa khắp nơi. Bệnh nhân
của ông có người là quan chức cao cấp từ Hà Nội
đưa xe con về tận nơi đón ông đi bắt mạch bốc thuốc,
có cả ông Tây bà đầm tìm đến mang theo phiên dịch,
có cả diễn viên điện ảnh nổi tiếng… dĩ nhiên ở cái
làng quê này còn ai chưa một lần uống thuốc của
ông. Tiếng lành đồn xa, mỗi khi ông ra Bắc vào Nam
thăm con cháu, ghé qua nhà ai là trong chốc lát
đã có người chìa tay xin nhờ ông bắt mạch kê đơn…
Thật đáng tiếc con cháu thế hệ chúng tôi chẳng ai
có thiên hướng nối nghiệp. Tất cả sau bao năm lo
ăn học xong, lao ra chốn thị thành, tất cả cố tìm
cách chui vào biên chế Nhà nước để thành công chức
hưởng lương ba cọc ba đồng. Một thế hệ coi như không
hề biết đến nhữ Nho và những bài thuốc gia truyền
có thể cứu nhân độ thế… Chao ôi, nếu cho tôi làm
lại cuộc đời, có lẽ tôi sẽ học chữ Nho và làm một
ông lang vườn. Chắc chắn cuộc sống sẽ an nhiên và
tự tại hơn là làm một nhà văn bất tài như hiện tại,
luôn bị ám ảnh về một thiên chức quá xa vời, luôn
bị dằn vặt bởi những điều mình viết ra không thấu
đáo bằng những điều mình nghĩ, luôn bị mặc cảm muốn
tồn tại thì viết còn phải biết lách. Cứ lách, lách
mãi thành quen, thành tật, thành bệnh khi nào không
biết nữa. Có gì buồn hơn khi mình đọc lại mình,
đọc lại những trang văn chẳng thể tất nhân tình
mà luôn làm ra vẻ cao đạo ưu thời mẫn thế!!!*
Có một dịp ông bác đưa tôi ghé vào thăm nhà thờ
họ Trần mới được trùng tu lại năm 1973, ngay khi
vừa ký kết Hiệp định Paris. Đây là ngôi nhà thờ
đầu tiên ở làng tôi được trùng tu sau chiến tranh
nhưng được bảo vệ cẩn mật vì từ sau năm 1985, trong
nhà thờ này có lưu giữ pho tượng quý Ngài Lê khôi,
vị danh tướng thời Hậu Lê, chú ruột Vua Lê Thái
tổ (Lê Lợi). Lê Khôi là một võ tướng lừng danh,
từng bắt sống tướng giặc nhà Minh Thôi Tụ ở trận
Xương Giang năm 1427, từng diệt thổ tù châu Thạch
Lâm Bế Khắc Thiệu tạo phản năm 1430, từng bắt sống
vua Chiêm Thành Bi – cai năm 1444. Ngài là một trong
những bậc khai quốc công thần từ thuở Lam Sơn dựng
cờ khởi nghĩa, tam triều tam trấn (ba triều vua
trấn giữ ba miền biên ải), được phong chức Thái
uý, tước Tán Quận công, gia phong Chiêu Trưng đại
vương và xếp vào hàng điển lễ quốc tế. Ngài mất
trên đường chinh phạt phương Nam trở về, hiện còn
lăng miếu ở cửa biển Nam Giới thuộc tỉnh Hà Tĩnh.
Nhà Lê cũng lập đền thờ Ngài tại làng tôi. Sách
Lịch triều hiến chương loại chí của nhà sử học Phan
Huy Chú có ghi rõ: "Đền Vũ Mục (tên thuỵ của
Lê Khôi) ở xã Trào Khẩu, huyện Hưng Nguyên, phủ
Nghệ An." Về sau do lũ lụt sông Lam đổi dòng,
đền bị sạt lở, dân làng rước tượng Ngài về thờ ở
đền Voi Đá dưới chân núi Khánh Sơn, hàng năm vẫn
cúng bái rất trọng vọng vì Ngài còn là vị Thành
hoàng của làng tôi. Năm 1470, vua Lê Thánh Tông
đi kinh lý phương Nam ghé thăm đền có làm bài thơ
chữ Nôm điếu Lê Khôi, ý lời cực kỳ thống thiết:
"Tể
tướng bếp tàn mai lạnh vạc
Tướng quân doanh vắng liễu chau mày"
(Hồng Đức quốc âm thi tập)
Và
trong bài thơ Minh Lương viết bằng chữ Hán, nhà
vua cũng đã không tiếc lời ca ngợi hai vị đại thần
văn võ Nguyễn Trãi và Lê Khôi:
"Ức
Trai tâm thượng quang khuê tảo
Vũ Mục hung trung liệt giáp binh"
(Tâm hồn ức Trai sáng tựa sao Khuê
Bụng dạ Lê Khôi sắp đặt sẵn giáp binh thế trận)
(Quỳnh uyển cửu ca thi tập)
Chính
nhà bác học Lê Quí Đôn trong sách Kiên văn tiểu
lục phần Tài phẩm, đã phải thốt lên rằng: "Câu
thơ không xưng tụng tướng khác mà chỉ xưng tụng
Lê Khôi thì công lao danh tướng có thể nào tưởng
tượng được!"
Nhưng
đau lòng thay, pho tượng vị danh tướng Lê Khôi lại
đang cởi trần và ở trọ trong nhà thờ họ Trần làng
tôi. Đúng hơn là Ngài đang lánh nạn, trốn tránh
con mắt tham lam của bọn người xấu. Thời gian đó
cơn sốt xuất khẩu trầm hương bỗng ập tới. Có tin
đồn pho tượng Ngài được người xưa tạc bằng gỗ trầm
hương, mấy vị quan xã bàn nhau đem Ngài bán cho
ông ngoại thương, ngã giá tương đương hai tấn lạc.
Thế là bắt đầu có người lén lút đến đền thờ Voi
Đá viếng thăm Ngài, họ dùng đục khoét luôn một ngón
bàn tay phải và đem cái ngón tay ấy đi thử chất
lượng trầm. Và may mắn thay chẳng thấy ông ngoại
thương nào trở lại cho nên Ngài chưa bị qui đổi
thành lạc xuất khẩu. Sau đó là chuỗi ngày Ngài ở
không yên ổn vì đám con buôn đồ cổ dòm ngó liên
tục. ông tộc trưởng họ Trần nóng ruột bàn với người
cháu làm phó chủ tịch xã đem quang thúng xin thỉnh
Ngài về trú tạm trong nhà thờ họ để tiện bảo vệ
cẩn mật.
Thật
đáng buồn, pho tượng quý tạc Ngài Lê Khôi có gương
mặt quắc thước uy nghi nhưng phải chịu cởi trần
vì đã bị lột mất lớp áo. Tôi lấy làm thắc mắc ông
bác lắc đầu nói chỉ vừa đủ nghe:
-
Hơn ba mươi năm nay, đình chùa miếu mạo quê ta có
ai chăm sóc cúng tế đâu. Lớp chúng tôi đã già cả,
lớp sau hình như không ai biết cách phải làm gì
để giữ gìn di sản của cha ông. Có thể nói cán bộ
ở làng ở xã chỉ biết nghe theo trên rồi bắt dân
làm hoặc ngăn cản không cho dân làm mà thôi. Họ
sợ cấp trên hơn cả sợ thần thánh…
Dù
sao pho tượng Ngài Chiêu trưng Lê Khôi còn may mắn
có ông tộc trưởng họ Trần cất giấu, ngôi đền Vua
Lê nơi thờ cúng chín đời vua nhà Hậu Lê đã bị huỷ
hoại hoàn toàn. Đây là di tích văn hoá được xếp
hạng từ năm 1954. Trận lụt năm Giáp Ngọ khủng khiếp
khiến đê 42 bị vỡ ngay bên hữu khuôn viên khu đền
nhưng với lối kiến trúc chắc chắn ngôi đền hầu như
vẫn đứng trụ vững trước thiên tai. Đến thời chiến
tranh phá hoại miền Bắc của không quân Mỹ thì bom
đã làm ngôi đền sụp xuống. Dân làng không ai dám
tơ hào một viên gạch, một viên ngói của đền. Ai
cũng nghĩ hết chiến tranh Nhà nước sẽ có cách khôi
phục lại. Thời gian trôi… xã cho xây Trạm xá, xây
trụ sở, xây hội trường ngay trên nền cũ đền xưa.
Cột kèo gạch ngói bắt đầu mất hết. Bao thứ vật liệu
từ ngôi đền cổ được tận dụng để làm các công trình
khác, thậm chí những cột đền rỗng ruột bị đem ra
đồng làm cống thoát nước. Bao nhiêu tượng quý văn
võ bá quan và tượng Phật từ những ngôi chùa quanh
vùng được quy tập vào ngôi chùa Mụ ở cánh đồng Dăm
Hào cạnh nghĩa trang của làng. Mỗi lần về quê tảo
mộ, tôi đều vào chùa Mụ thắp hương trước một kho
tượng mà không khỏi đau lòng vì cảnh tang thương.
Nhiều pho tượng bị cụt đầu cụt tay, bị cháy nham
nhở…
Sự
linh thiêng vẫn ám ảnh tôi, chụp ảnh mấy lần nhưng
về rửa để viết một bài báo kêu cứu nhưng vẫn không
có hình. Nghe nói hồi trước có người còn cả gan
chẻ tượng ra làm củi đốt lửa ngồi sưởi mùa đông.
Bác tôi bảo dân làng tìm được một viên ngói có in
dấu một bàn tay khổng lồ. Chao ôi, có thể lắm, ngôi
đền Vua Lê đã được những con người phi thường tạo
dựng nên. Trong các cuốn sử của các học giả thời
phong kiến, không có cuốn nào không nhắc tới ngôi
đền này… Các đời vua nhà Nguyễn đi tuần giá ra Bắc,
khi qua đò chợ Tràng, việc đầu tiên là vua phải
xuống kiệu vào đền Vua Lê dâng hương, ngôi đền còn
gắn với lịch sử từ ngày có Đảng, nhiều cuộc họp
quan trọng của lãnh đạo phong trào Xô viết Nghệ
Tĩnh đã được tổ chức ở đây, thời chống Pháp chống
Mỹ mỗi khi thanh niên lên đường tòng quân giết giặc
đều tập trung ở sân đền và xuất phát ra chiến trường…
Còn với riêng tôi lúc lên năm tuổi, tôi níu váy
bà nội, theo bà băng qua Dăm Phủ, đi ngang qua mộ
ông nội, nghe bà khấn xin ông phù hộ con cháu, rồi
trèo qua đê rụt rè bước vào sân đền Vua Lê. Đó là
ngày đầu tiên tôi đi học, ngày tựu trường của đời
tôi bắt đầu ở nơi thiêng liêng nhất của làng tôi.
Thế mà dấu tích bây giờ chỉ còn hai cột quyết cổng
bị ngập vào trong thân đê, hai mỏm hoa văn đang
cố ngoi lên minh chứng một thời hào hùng oanh liệt
của lịch sử nhà Lê…Theo đường đê tôi lần lên núi
Nghĩa Liệt người làng tôi vẫn quen gọi là núi Thành
vì trên núi có một khu thành cổ rất rộng lớn. Đây
là di tích nổi bật nhất ở Nghệ An. Núi nằm sát bên
sông, soi bóng xuống ngã ba Tam Soa nơi sông La
đổ vào sông Lam. Thời nhà Trần, tướng giặc nhà Minh
Trương Phụ cho xây thành này thật kiên cố nhằm chống
chọi với vua Trùng Quang lúc ấy đã rút lui về bên
kia sông. Sách Đại Việt sử ký toàn thư – bản Kỷ
– Quyển IX – Kỷ Hậu Trần của Ngô Sỹ Liên ghi: "Năm
Quý Tỵ, Trùng Quang thứ V (1413), mùa Hạ, tháng
Tư, bọn Trương Phụ nhà Minh đánh vào Nghệ An, vua
chạy vào châu Hoá, sai Đài quan Nguyễn Biểu làm
sứ cầu phong, mang sản vật địa phương đến ra mắt.
Trương Phụ giữ lại không cho về, Biểu tức giận mắng
Phụ rằng; "Trong bụng thì mưu đánh lấy nước,
bên ngoài giả làm quân nhân nghĩa. Đã hứa lập con
cháu nhà Trần, lại đặt quận huyện để cai trị. Không
chỉ cướp vàng bạc châu báu lại còn giết hại dân
lành. Thật là quân giặc tàn ngược!" Phụ giận
lắm, bèn đem giết đi." Người làng tôi ai cũng
biết giai thoại ăn cỗ đầu người của vị đại sứ Nguyễn
Biểu, ông bị giặc đem trói dưới chân cầu để nước
thuỷ triều lên dìm chết. Trước khi chết vẫn còn
cố kẹp hòn đá vào chân viết vào cột cầu ngày giờ
mình tuẫn tiết. Tôi nghĩ nếu có cuốn lịch sử ngoại
giao Việt Nam thì nên đưa tên vị đại sứ Nguyễn Biểu
vào những trang đầu. Phải chăng chính cái chết của
ông đã gợi cho người đời sau đặt tên núi là Nghĩa
Liệt sơn.Mười hai năm sau, Lê Lợi đem quân thuỷ
bộ vây thành Nghệ An (1425), đây là trận đánh quyết
định đưa cuộc khởi nghĩa chống quân Minh tới thành
công. Phải nói Trương Phụ đã huy động sức người
xây thành rất kiên cố, phía Tây Bắc quay mặt vào
núi hiểm trở, phía Đông Nam xây bằng gạch ống. Trên
đỉnh là đại bản doanh hãy còn dấu tích bệ đất cắm
cờ… Bằng hai mũi giáp công đánh thành và đánh vào
lòng người, vây chặt kết hợp gửi thư dụ hàng sau
hơn một năm trời quân ta đã chiếm được thành Nghệ
An (1426).Sau gần sáu trăm năm trôi qua khu di tích
thành cổ trên núi đã bị hủy hoại nghiêm trọng. Năm
1941, người Nhật cho khai thác quặng Măng-gan lộ
thiên ở ngay cửa Nam. Hoà bình lập lại cuối những
năm năm mươi, ta san ủi mặt bằng xây dựng nhà máy
đường Sông Lam rồi nhà máy giấy. Toàn bộ dấu vết
khu vực này bị xoá hoàn toàn. Hiện chỉ còn hai lũy
đất chạy ngược lên đỉnh núi, đứng xa hàng chục cây
số vẫn có thể nhìn rõ nhưng cũng bị đe doạ vì lâu
lâu lại rộ lên việc khai thác quặng lộ thiên, hoặc
đổ xô kéo nhau lên núi đào bới tìm cổ vật bởi những
tin đồn mơ hồ có người mới tìm được một hũ đầy vàng
nén…*Tôi đứng lặng trên núi Thành nhìn xuống dòng
sông Lam đang uốn lượn như một dải lụa bạc. Làng
quê yêu dấu của tôi có thay nhiều mái ngói hơn xưa
nhưng cái nghèo hình như vẫn còn đó. Chuyện của
làng quê vẫn là chuyện của muôn đời, chuyện làm
ăn, chuyện lo cho con cháu học hành để ra đi muôn
nơi kiếm sống, trốn tránh cái đói cái khổ. ở Biên
Hòa hàng năm tôi vẫn làm phụ tá cho các cụ xa quê
tổ chức họp hương làng mình. Thương lắm… người làng
tôi hăm hở tụ tập và ăn nói ồn ào, cái ồn ào cố
hữu của bến chợ Tràng xưa vẫn còn trong âm sắc giọng
nói làng tôi, khỏi cần dùng tới micro hay loa điện
tử. Đi xa kẻ thành đạt nhờ học hành cũng có nhưng
đa phần đám thanh niên đến họp làng đều là công
nhân các khu công nghiệp. Các cháu lớn lên không
có điều kiện học hành tới nơi tới chốn, ở nhà ruộng
ít nghề phụ không có thế là rủ nhau vào Nam làm
công nhân hoặc làm hợp đồng thời vụ cho các chủ
trang trại. Ngày xưa đó là một làng quê hiếu học
là đất văn vật thế mà nay di tích thì thành phế
tích, con người thì thiếu thốn đủ thứ nên có ai
nghĩ tới cái học nữa đâu…
"…
Ai biết nước sông Lam răng là trong là đục
Thì biết sống cuộc đời răng là nhục là vinh
Thuyền em lên thác xuống ghềnh
Nước non là nghĩa là tình ai ơi…"
Câu
hò của người lái đò sao bây giờ nghe thấy lòng mình
cảm nhận khác ngày xưa, ngày xưa nghe thấy tình
tứ thiết tha, còn nay nghe thấy như quặn đau từng
khúc ruột.
Bao
giờ trước lúc chia tay, tôi cũng thường ngồi lặng
bên ông bác ruột và kín đáo ngắm ông ta đang đọc
cuốn sách thuốc viết bằng chữ Nho. Hình như thế
hệ chúng tôi không có được vẻ an nhiên tự tại ấy.
Tôi thấy buồn cho mình, học Đại học chỉ tham khảo
vài chục tiết Cổ văn, rồi Nga văn, rồi Pháp văn…
mỗi thứ một tý, học mà chẳng biết lúc đó học để
làm gì, gần đây thì theo lớp Anh Văn ban đêm và
mơ hồ nghĩ như thế mới hợp với cơ chế thị trường…Không.
Tôi chỉ là một con người của làng quê, nhưng không
phải là người hoài cổ, vì tôi có thể hoà nhịp vào
đời sống hiện tại. Nhưng mỗi khi nghĩ về làng quê
của mình lại thấy xốn xang một nỗi buồn và tôi nghĩ
đây cũng là nỗi buồn của thời hiện tại khi đất nước
đang chuyển mình đi vào công nghiệp hóa – hiện đại
hóa. Bao giờ thì làng quê yêu dấu của tôi mới hết
đói nghèo và lũ trẻ đừng thất học ?
Nguyễn
Đức Thọ

Làng
quê yêu dấu
Linh
Nghiệm
Mùa
táo chín
Mái đình - nét đẹp trong
hồn quê Việt Nam
Những con đường Huế
Mùa
thu Canada
Truyện
ngắn "Hoa ti gôn" của nhà văn Thanh Châu
đăng trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy
Cửa
biển chiều hôm
Viết
trong cơn mưa
Thu
về đâu đó
Một
Ngày Chớm Thu - Mộng Thường
Giáo sư Bùi Đình Tấn, cựu
hiệu trưởng Chu Văn An không còn nữa!
Ký
ức từ ánh mắt - Trần Thúc Vũ.
Tương
phản... Huế thương
Về
Ruộng Vườn Ven Sông
Tiếng
Ðàn Trong Bức Tranh Tố Nữ
Trăng muộn
Nhớ Huế
Từ ngày mẹ chết
Trọn
vẹn đức tin
Giăng sáng
Quán Nhớ, Pleiku.
HUẾ: MƯA VÀ KỶ NIỆM
Hạt nắng cuối ngày
Vàng xưa hoa cải
Mùa hè săn đuổi
Một
ngày vui trên ngọn... sầu...đông!
Hư
ảo rồi tan...
Tản
Mạn Sài Gòn
Cà
kê chuyện Gà năm Dậu
Sơn
nữ Sa Pa
Chơ
quê nghìn năm trước nghìn năm sau
Gĩa
biệt chiếc cầu tre
Ngày
xưa trong đám xuân xanh ấy
Gạo tám
Sàigòn,
ngày lạ mặt
Thả
thơ
Một cõi
HỘI
AN - TRONG BÓNG RÂM THỜI GIAN
Những
gánh hàng rong ở Huế
Dòng
người bất tận
Phố
huyện
Huế
ngày đông
Lên
Sa Pa mùa lạnh
Huế
Hôm Nay (1968)
Cơm
nắm
Trước
nhà là sông
Hà
Nội lập đông
Mưa
Tiếp
Mái
chùa xưa
AO
TRONG LÀNG
Cổng
làng
Diêu
bông mùa cưới
"Chúng
ta sống được bao nhiêu phần người?"
Thoạt
tiên là nỗi đau
Chút
lòng thương nhớ
Mùa
roi đến
Tiếng
nẫu dấu yêu
Tiếng
chuông chùa
Thái
Thanh : Tiếng hát tuyệt vời
Mảnh
Trăng Thiên Cổ
Thư
cho các em sống sót ở Beslan
Ở
Một Góc Trời Riêng…
Mầu
Thủy Chung
Mắt
cậu hề có cười?
Người
chuyên môn cười.
Trời
mưa có hai người che chung một chiếc dù
Mùa
hè đi qua, có một nỗi buồn đọng lại
Nắng lạnh và
dã quỳ
Vị
của cà phê
Hai
cành hoa huệ
Bãi
biển
Mưa
Hồng - Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ !!!
Mùa
cày
Cánh
diều mùa gặt
Xốn
xang hè về
Đà
Lạt, cà phê hoài niệm Ngõ
vắng
Hoa
lục bình
Tiếng
rao
Mưa
Ðà Lạt
DẠ
KHÚC THÁNG BA
Tản
Mạn Về Hai Hình Ảnh Trong Ca Dao
Nắng
trảng tháng 5
Nhắn gió
Cám ơn tiếng
ve
Nỗi niềm Hương
Giang
Khi
sắc đỏ đi qua
Tôi
đã tưởng tượng thế này
Gốc
Tùng
Giấc
mộng không thành
Ở
Một Góc Trời Riêng…
Mưa
nước bọt
Nhàn
đàm: Đón bạn
Nghe
Huế đâu đây!
Tưởng
đã xa rồi Phố xưa!
Nước
non cách mấy buồng thêu
Chú
tiểu chùa Báo Quốc
Ở
Trọ
Canh
GàThọ Cương
Biển
và trời
Chiều
tối ở làng quê
Hồn
chợ Mùa sầu đông Huế
Chiều
cỏ may
Sa
mù phố Huế...
"Giá
như ngày ấy…”
KIỂU
ĐẤT Ở PHỐ HÀNG TRỐNG - Ngô Tất Tố
Bí
quyết viết thư - Dave Barry
MẤY LỜI NHẮN NHỦ CÁC ÔNG ĐỒ
- Ngô Tất Tố

|