| TẠP
VĂN

Tạp văn
NGÂM
THƠ 
VỀ
THĂM VƯỜN CŨ
Trang
Học Làm Thơ
TRÁI TIM HỒNG
Bùi Thụy Đào Nguyên:
Nhớ xóm Quýt , quê xa…
“Tháng
chạp, quýt to bằng nắm tay trẻ nhỏ, da bóng lưỡng
như ướt mỡ. Khi ấy gió dịu, trời ửng hồng sáng trong,
nắng mới cũng vừa soi ấm vô vàn chùm quýt loà xòa,
đung đưa…
“Tháng chạp, quýt to bằng nắm tay trẻ nhỏ, da bóng
lưỡng như ướt mỡ. Khi ấy gió dịu, trời ửng hồng
sáng trong, nắng mới cũng vừa soi ấm vô vàn chùm
quýt loà xòa, đung đưa…Đến giữa tháng, quýt chín
đỏ vườn …”
Đoạn văn trên tôi tả cảnh quê mình khi còn ngồi
học lớp 5, mãi đến hôm nay vẫn còn in trong trí…
***
Quê
nội, nơi chôn nhau cắt rốn của tôi, vỏn vẹn hơn
20 hộ, nằm rải rác hai bên bờ một nhánh sông nhỏ
thuộc dòng nước Hậu giang hiền hoà . Chốn ấy từ
bao đời có tiếng vì giống quýt hồng thơm ngọt .
Nhờ lẽ đó miền đất được người dân quen gọi bằng
cái tên mộc mạc : xóm Quýt, dù đất đã có một tên
khác khá thơ mộng: Yên Hạ .
Năm
ấy cha tôi làm ăn thua lỗ, cha như người dại; còn
mẹ tôi ngồi đâu dáng cũng thẫn thờ.Cuối mùa nước
nổi cha phải bán nhà để trả nợ. Ông nội lụm cụm
theo chú Tám từ dưới Cần thơ lên bàn bạc, dẫn dắt
gia đình tôi về lại quê hương. Với số tiền ít ỏi
còn lại , cha chỉ đủ mua hơn 2 công vườn quýt, cả
nhà tôi đành ở tạm trong kho chứa củi của ông .
Tôi
nhớ mãi buổi sáng hôm đó. Trời vừa bửng mắt, chú
Tư đầu xóm cùng đứa cháu hè hụi vác đến mấy cây
tre to, dài sọc . Chưa kịp lau mồ hôi, chú gọi vọng:“Sáu
ơi, tao đem cho mấy cây tre đây…”.Cảm động xiết
bao khi thím Bảy ở tận Bà Vèn bơi xuồng đem lại
hơn 200 lá chằm dùng để che lợp. Còn chị Phương
cũng vồn vã qua làm quen tôi bằng mấy bó dây buộc
chẻ từ cọng lạt vừng …
Vậy đó, người góp công, người giúp của . Và ngày
cha mẹ tôi dựng nhà, chòm xóm thân sơ đến dùm gíup
thật đông . Không chỉ có vậy, nghe theo lời chú
út Võ Tòng :“ Làm nghĩa phải cho trót…”, liên tiếp
nhiều ngày sau , bà con tạm gác việc nhà đến làm
cỏ, be bờ; tận tình chỉ vẽ cách bón phân , chiết
nhánh …Sau này, gia đình tôi còn chịu ơn nhiều tấm
lòng đáng qúi khác như thím Tư chia sẻ cặp heo giống,
chị hai Liên dạy cho chị tôi nghề dệt chiếu bông
…
Tôi cũng không quên được đêm giao thừa năm ấy .
Tiết trời lành lạnh, nhà nhà đỏ lửa, mùi bánh tét,
bánh phồng tỏa ngát xóm thôn. Nhờ tiền bán Quýt,
sau khi trang trải một phần nợ, mẹ tằn tiện lo được
nồi thịt kho rệu , sắm cho chị em tôi mỗi người
một bộ áo quần.Chú Chín, bạn thân thiết của cha,
sai con mang đến biếu một rổ bánh ít còn bốc khói
. Bác Giáo cũng đem qua chè xôi, hai lít rượu nếp
cẩm thơm để cúng ông bà. Còn đám trẻ mặt mày ai
nấy đều hớn hở, xênh xang với áo màu, dép mới rủ
tôi lên đình xem hội… Đã lâu, tôi vẫn như còn thấy
sắc mai vàng, quýt đỏ khoe tươi; đôi má chị ửng
hồng, mắt cha mẹ ánh trong và dòng sông nhỏ chảy
thầm thì kia cũng ấm…
Lại
có những đêm sân nhà ngập ánh trăng, hương hoa quýt
thơm lừng. Các người thân hiểu gia đình tôi vừa
gặp chuyện không may nên thường rủ nhau đến ngồi
trước sân, đàn ca rôm rả. Già trẻ, gái trai trong
xóm cũng xúm xít góp vui . Lẫn tiếng đàn cò, kìm,
sáo, nhị là giọng ca mộc mạc, vụng về …vậy mà vẫn
có sức quyến rũ lạ …
Và
cũng thật xốn xang, khác với bạn bè trên phố phường
, các bạn nơi xóm Quýt như Tí Cộc, 14 tuổi, chưa
học xong lớp 4; Nghĩa Đen còn ễnh bụng tuyên bố:“
Làm cỏ mướn có tiền, đi học chẳng có xu nào!’’.
Đổi lại, các bạn ấy nói vanh vách từng loại chim
: thằng chài, chích choè, thầy bói…; tháng nào mù
u trổ bông , cá lên đồng , xiết nước lúc nào cho
quýt chín kịp tết .
Ngày trước làm văn, tôi hay ca ngợi thú vui nơi
thôn dã, như trẻ thơ được mặc sức đùa giỡn, lặn
hụp trên sông; được thi nhau vớt trái mù u để lấy
dầu thắp sáng hoặc nhồi đất sét nặn voi, nắn ngựa…Sống
lâu miệt đồng , tôi mới hiểu mọi chuyện không hoàn
toàn như vậy. Sau giờ học các bạn ấy còn phải đi
giăng câu, vớt bèo nuôi vịt hoặc làm cỏ, tưới cây
…nghĩa là phải lem lấm, phải đổ mồ hôi để có thêm
cái ăn, cái mặc, gánh vác tiếp mẹ cha mà phần lớn
đều đông con, nghèo và ít hiểu biết …
…Sống
nơi quê nội vui buồn như thế mấy năm , cậu Tám sắm
được xe, mời cha tôi lên phụ giúp . Gia đình lại
dắt díu nhau đi. Đêm trước khi xa quê, tôi lặng
lẽ khóc, tuy lòng hé vui vì biết mẹ cha và chị sẽ
vơi bớt nỗi nhọc nhằn . Nhưng không bùi ngùi sao
được khi tôi phải xa ông bà nội, mặc dù tuổi cao
vẫn hết lòng lo lắng, yêu thương con cháu; xa bà
con xóm Quýt nghèo tiền nhưng giàu chữ nghĩa nhơn
. Nhất là phải xa đám bạn bè hôi như cú mà thật
thà như đất, xa vuông vườn tuổi thơ bé nhỏ đã cho
gia đình tôi không biết bao nhiêu là hoa trái ngọt
lành …
***
Tết này tôi có về xóm Quýt, quê xa . Thăm lại ông
bà cùng bao người ơn đã giang tay đùm bọc gia đình
tôi suốt một thời khốn khó . Tuy trên gương mặt,
nếp nhăn có nhiều theo năm tháng ; nhưng qua ánh
mắt tôi hiểu tấm lòng bà con vẫn đôn hậu như xưa.
Tôi chỉ buồn, khi nhịp sống nơi thành thị ngày một
sôi nổi đi lên; những cảnh đời chốn vùng sâu chưa
đổi thay mấy.Vẫn nhiều những tol, lá … nóng bức,
ẩm thấp với mớ đồ đạc cũ kỹ.Vẫn là thứ ánh sáng
qua nhiều trung gian , le lói buồn thiu…
Tôi nghe đâu mấy năm trước quýt được mùa, được giá
; nhiều hộ đã sắm được xe gắn máy , tivi…Mấy năm
gần đây chén cơm của họ khá bấp bênh do giá thuốc
sâu, phân bón vùn vụt tăng cao, nguồn nước tưới
bị ô nhiễm và sâu “vẽ bùa” kháng thuốc nên chồi
lá cứ vàng úa , quăn queo, hoa trổ rồi lại rụng,
lũ kiến vàng lũ lượt bỏ đi . Đến khi vào mùa vụ
thì quýt hồng không sao cạnh tranh nổi với lê,\táo
nhập nên giá cả rẻ như bèo, như cho…
Tôi
cũng dành nhiều thì giờ đi thăm hỏi bạn bè . Gặp
lại nhau, ai nấy đều nửa mừng nửa tủi. Sáu Đèo,
Khách, Bích; con nhà kha khá còn được học . Số đông
bạn đành chịu dở dang về lam lũ với ruộng vườn .
Thương Tí Cộc , Tâm Hô theo cha chú làm phụ hồ tận
Sông Bé, ngày tết vẫn không về được .
Đêm
đó , tôi ngồi bên nội cùng canh lửa cho nồi bánh
nếp lá dừa, nghe bà kể chuyện người, chuyện đất
… Về giống quýt hồng nhờ ai mà có, về bao nổi gian
lao của cha ông thuở mở đất, khai nguồn . Bà cũng
phiền trách mấy đứa con của thím Sáu không chịu
làm gì chỉ ham mê rượu chè, đàn đúm, ngày đêm cứ
tơ tưởng số tiền đất sẽ được bồi hoàn .
Tôi
nghe mà lòng chạnh xót xa . Chợt nhớ lại ánh trăng
đêm nào cùng lời ca cũ :“ Đất như người mẹ hiền
tần tảo, vắt kiệt sức mình nuôi lớn các con …” Và
cũng đêm đó tôi mơ thấy những đoàn tàu chở đầy quýt
đỏ, những áo màu dự lễ hội kỳ yên, nghe lại giọng
hát hò trên cánh đồng lúa mới và tiếng chị tôi reo
vui khi đàn kiến trở về ….
Lẽ
ra, tôi không nên viết thêm những câu buồn bã vào
cuối mẩu chuyện này. Không hiểu sao có những chiều
như hôm nay, lẫn trong những kỉ niệm êm đềm nơi
xóm Quýt, hình bóng chị Phương thân thiết lại cứ
hiện về.Nhớ mà đau, cha chị mất sớm; rồi vì mẹ vì
em, chị bằng lòng lấy chồng người Đài loan cao tuổi
và nghe đâu phải lâm cảnh đắng cay, mặn nhạt ở xứ
người… Những ngày nơi xóm Quýt xưa kia, chiều nào
chị cũng sang nhà rủ tôi đi quét lá quýt khô để
dành nhóm bếp. Có lẽ chiều nay chị âm thầm ngồi
đâu đó một mình , nhớ mẹ nhớ quê, nhớ cả khói lên
trời …
BùiThuỵ Đào Nguyên

Dòng
sông và nỗi nhớ
Thu về, xách giỏ đi câu
Ký
ức xanh
Những độ thu vàng
Cứ
thế thu đến! Cứ vậy thu đi!
Mùa
núm mối
MÊNH
MANG THƯƠNG NHỚ…
Ngưỡng
cửa
Đồng
Hành
Giàn
hoa giấy ngày xưa
Người
nhìn thấy trăng thật - Nguyễn Quang Thiều
Trà
Sớm với “Lòng giắt sẵn ít hương hoa tưởng tượng“
Đợi
những… rộn ràng
ÔNG
CHỦ MÃO - PHẠM
LƯU VŨ
Khe
khẽ đông về
Về
một bãi bờ sông Đáy
Mai
Đào Còn Đó Vẫn Cười Với Xuân
Làng
quê yêu dấu
Linh
Nghiệm
Mùa
táo chín
Những
bài Tạp Văn đã chọn đăng trên HNPĐ ( Tập I )

|