| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Nhà văn,
Nhà báo Tam Lang Vũ Đình Chí
Nhân
ngày mất của Tam Lang Vũ Đình Chí ( 08-01-1983 )
Đặc
cách... Hàn lâm
Không
hát!
Khóc
Vệ Lan - Tam Lang Vũ Đình Chí

Tiểu sử:
Tên thật: Vũ Đình Chí.
Sinh năm: 1900
Mất năm: 1983
Nơi sinh: Hà Nội.
Bút danh: Tam Lang.
Thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự.
Các tác phẩm:
Giọt lệ sông Hương (1930)
Đời Hoàng Oanh (1930)
Một đêm trước (1931)
Tôi kéo xe (1935)
Đêm sông Hương (1938)
Lọng cụt cán (1939)
Người ngợm (1940)
Giải thưởng văn chương:
Giới thiệu một tác phẩm:
Tắt lửa lòng
Tâm sự riêng của tôi, lẽ ra tôi cũng không nói
với ai, nhưng anh là người trong ba năm nay vẫn
để bụng mến tôi, hôm nay tôi cũng chiều mà nói thật
vì lẽ gì tôi không muốn lấy chồng, lại chẳng bao
giờ có thể yêu anh được.
Câu hỏi của anh tuy sỗ sàng mà còn có vẻ thân thiết
hơn những cách lạnh lùng của nhiều người khác, nhưng
chính những lời anh nói đó lại càng như những giọt
nước lạnh tưới tắt cả lửa lòng…
Tôi sinh trưởng ở một nơi giàu sang, chẳng dám
nói khoe gì, sắc có mà tài cũng có. Một đứa con
gái nhà giàu, đến tuổi mười tám đôi mươi, ai lại
điên dại gì mà chẳng mong được chỗ vừa đôi phải
lứa để cùng với người yêu chung hưởng cái hạnh phúc
của ái tình. Trái lại, tôi thì không. Ngay đến người
thân nhất là anh, tôi cũng chỉ coi như người bạn.
Anh không biết, ngoài, thiên hạ họ đã bình phẩm
chán. Người bảo là mình làm cao kén chọn, kẻ cho
mình tham của, ở làm "bà cô" để được hưởng
phần gia tài lớn, người bạo đoán hơn nữa thì đổ
cho mình hư thân mất nết, trăm người hỏi mà rồi
chẳng ma nào nó rước đi cho. Thiên hạ họ nói, tha
hồ…; nỗi riêng của mình cũng chẳng cần để cho họ
rõ.
Làm cao, tham của với hư thân, ba cái xấu ấy, tôi
đều không có cả. Chính tôi chỉ nghĩ đến cái người,
người đời gọi là "bạn trăm năm" mà tôi
sợ, sợ như muốn tránh cho xa.
Lấy nhau có cưới cheo hay theo nhau mà thành chồng
vợ thì người chồng, ở con mắt tôi, cũng là vật đáng
phải khiếp hãi cả. Thật một đời tôi, không còn bao
giờ tôi muốn có chồng.
Anh đừng vội đoán…; tâm sự tôi chẳng phải là của
người, trong cuộc tình duyên, đã gặp nhiều bước
đoạn trường…Không! Từ nhỏ đến năm nay đã hai mươi
bốn tuổi đầu, tôi thật chưa bao giờ bước vào đường
tình, vì ái tình, quả thật tôi không có.
Tôi trót già sớm quá, về một buổi tối, năm ấy mới
mười ba.
Anh hãy lặng yên mà nghe; câu chuyện cũng không
dài gì cho lắm.
Thật ra, có khi anh cũng chẳng hiểu tại sao một
chuyện thường xảy ra như việc cơm bữa, một chuyện
tầm thường như thế đã làm cho đời tôi đến mất hết
cả những lạc thú với hạnh phúc vị lai. Phải! Một
chuyện rất thường anh vẫn từng đọc thấy ở trang
ba những tờ báo trẻ con rao bán hằng ngày, mà tôi
chẳng phải là một vai trò chính hay phụ trong chuyện.
Cái đời hiu quạnh của tôi sở dĩ đến ngày nay còn
âm thầm đau đớn chỉ vì tôi được thấy câu chuyện
ấy, thấy ngay trước mắt, chỉ cách tôi có ba bước
chân.
Anh, anh là người nghe chuyện tôi kể lại đây, chắc
anh cũng cho làm thường, chẳng cảm như lòng tôi
đã cảm.
¯
Kiều Oanh tựa trán lên hai bàn tay mười ngón trắng
muốt như mười cái tháp bút ngọc, rồi bắt đầu thuật
chuyện, hai mắt nhìn xuống đất, như không muốn thấy
có tôi:
- Đã mười một năm nay - phải, mười một năm nay
rồi- Bấy giờ tôi ở với thầy tôi ở một gian nhà-
trong ngay giữa phố Cầu Gỗ. Cái nhà có hai gian
không gác mà hai chủ ở. Chủ nhà ngoài là một ông
Phán, làm việc ngoài ga. Hai gian chung một lối
đi, cách nhau một bức tường, có cửa.
Một buổi tối, tôi còn nhớ rõ độ ấy vào mùa hạ,
chừng vào quãng chín, mười giờ. Chỗ phòng tôi ở
nóng hầm hập như cái lò nên tôi trằn trọc đã lâu,
không ngủ. Thầy tôi đi vắng, nhà có một mình, tôi
đã buồn, lại sợ. Tôi nằm chẳng nhắm được mắt, đứng
dậy khêu to ngọn đèn Hoa Kỳ. Vừa lúc ấy, ngoài đường
có tiếng đập cửa. Ai thì chưa rõ, nhưng tôi chắc
bụng không phải thầy tôi vì thầy tôi đi vắng xa,
gửi tôi cho bà Phán nhà ngoài, hẹn hôm sau mới về
được.
Cũng chẳng biết tại sao bấy giờ tôi lại chạy đến
dí mắt vào khe tấm ván cửa thông hai gian với nhau
lúc ấy đã đóng kín. Tôi thấy bà Phán ra mở cửa rồi
ông Phán hầm hầm bước vào. Hai cánh cửa ngoài lại
đóng lại như trước.
Trong ánh sáng cây đèn búp măng để trên bàn, tôi
nhìn rõ cả cảnh vật: cảnh buồn rầu mà tẻ ngắt của
một nhà vợ chồng chẳng thuận hoà.
Ông Phán vứt mũ xuống, cởi áo ngoài ra, hai tay
chọc vào hai túi quần, quay đầu về phía cửa ngoài,
hất hàm hỏi vợ:
- Thế nào? Đã đi chưa?
Giọng tức, lại có ý đe doạ.
Bà Phán đứng nép vào xó cửa, mặt xanh xám như đổ
chàm:
- Cậu bảo, còn hỏi thế nào được nữa mà lên. Tôi
không đi, vì có đi, chắc cũng không được.
Ông Phán cười nhạt:
- Hừ! Con này mày giỏi thật- đổi ra giọng trừng
trợn- Muốn sống phải mặc áo đi ngay.
- Bây giờ khuya rồi…
- Khuya à?
Như một cái chớp, chiếc bình mực thuỷ tinh để trên
bàn đã theo tay ông chồng văng thẳng vào ngực bà
vợ, rồi gieo mạnh xuống gạch, vỡ tan ra. Một đống
mực đen, ở yếm, bắn vung lên rồi ròng ròng chảy
xuống…

Tên thật là Vũ Đình Chí, sinh năm 1900 tại
Hà Nội. Đã học trường Sư phạm rồi bỏ dở, chuyển
sang viết báo viết văn. Các bút danh: Tam Lang,
Chàng Ba, Ba Phải, Linh Phượng... Ông viết cho hầu
hết các báo xuất bản tại Hà Nội.
Năm 1954 vào Nam sống tại Sài Gòn, làm chủ
nhiệm báo Tự do, thư ký tòa soạn tờ Cách mạng Quốc
gia.
Năm 1958, thôi làm báo, chuyển sang soạn các
kịch bản chèo.
Sau năm 1975, Tam Lang vẫn sống ở Thành phố
Sài Gòn
Các tác phẩm chính của Tam Lang trước 1945:
Giọt lệ Sông Hương (Tiểu thuyết) - 1930; Đời
Hoàng Oanh (Tiểu thuyết) - 1930; Một đêm trước (Truyện
ngắn) - 1931; Tôi kéo xe (Phóng sự) - 1932, 1935.
Đêm Sông Hương (Phóng sự) - 1938.; Long cụt cán
(Phóng sự châm biếm) - 1939; Người... ngợm (Phóng
sự châm biếm) - 1940.
Các tác phẩm: Không hát
Đặc cách... hàn lâm
Khóc Vệ Lan
(1901-1986)
Yêu nhau năm tháng cách xa nhau
Ngấm lệ chưa khô đã bác đầu
Một sớm em đi, tình lỡ dở
Trọn đời anh chịu kiếp thương đaụ
Nắng mưa, đất khách hoa tàn tạ
Mưa gió mồ em cỏ dãi dầu
Ngọc nát vàng phai đau đớn nhẽ
Tìm em còn có tháy em đâu !
Tìm em còn có thấy em đâu !
Biết nói cùng ai chuyện bể dâu
Mở đọc thư xưa, thư ố lệ
Giờ xem ảnh cũ, ảnh phai mầụ
Gương còn luyến bóng, người đâu mất !
Đêm đã tàn canh, mộng cũng sầu
Lấy bút đề thơ, thơ ngấn lệ
Giòng thơ hoen ố mấy giòng châu .
Thu 1960

|