Liên hệ

 
 


Tư vấn - Giải đáp

 

HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG LÊ HỮU TRÁC

 

 

CƠ THỂ CON NGƯỜI

 

Thiên gia diệu phương

 

Thắc mắc biết hỏi ai

 

Những bài thuốc trị bệnh bằng trái cây

 

140 vấn đề liên quan đến phụ nữ

 

Tạp ghi của BS Đỗ Hồng Ngọc
Hoàng Đôn Hòa - một '' Tuệ Tĩnh '' bị lãng quên
Cơ thể người
Trị Bệnh Ung Thư bằng Trinh Nữ Hoàng Cung

 

 

 

SỨC KHOẺ & DINH DƯỠNG

Chocolate tan trong miệng gây hưng phấn hơn một nụ hôn

Viên chocolate tan trong miệng tạo cảm giảm hưng phấn hơn một nụ hôn nồng cháy. Các nhà khoa học Anh đã kết luận điều này sau khi so sánh hoạt động não bộ và tim mạch của những đôi nam nữ tham gia hai thử nghiệm ăn chocolate và hôn nhau.

Nghiên cứu trên thậm chí khẳng định rằng nụ hôn say đắm nhất không bằng cảm giác do viên chocolate để lại trong miệng. “Các kết quả này đã thật sự gây bất ngờ cho chúng tôi”, nhà tâm lý học David Lewis dẫn đầu nghiên cứu cho biết.

“Chúng tôi biết rằng chocolate, đặc biệt là chocolate đen làm tăng nhịp tim vì chứa những chất kích thích mạnh, nhưng thời gian làm tăng nhịp tim và tác động cao đến cảm giác hưng phấn là điều mà chưa có ai ngờ”, ông giải thích.

Theo kết luận của nghiên cứu trên, khi chocolate bắt đầu tan trong miệng, não bộ bị kích thích với cường độ cao hơn so với cường độ kích thích bởi nụ hôn, với thời gian kéo dài lâu gấp 4 lần.

Chocolate còn làm tăng nhịp tim bình thường từ 60 lên đến 140 sau khi ăn chocolate. Một nụ hôn cũng làm tăng nhịp tim, nhưng với thời gian tác động ngắn hơn.

Phát hiện gien béo phì

Các nhà khoa học Anh lần đầu tiên tuyên bố đã phát hiện hai phiên bản của “gien mập” FTO làm tăng 70% rủi ro bị béo phì so với những người không có gien này.

Dựa trên dữ liệu nghiên cứu 40.000 người, công trình nghiên cứu của Trường Y khoa Peninsula và đại học Oxford cho thấy những người sở hữu “gien mập” thường có trọng lượng nặng hơn thông thường 3kg.

Giáo sư Andrew Hattersley của Trường Y khoa Peninsula nói nghiên cứu đã làm sáng tỏ vì sao hai người cùng ăn những thức ăn giống nhau, tập thể dục như nhau nhưng lại có cân nặng khác nhau.

Như thế mặc dù điều chỉnh phong cách sống là chiếc chìa khóa giúp giảm béo phì nhưng nếu một người mang “gien mập” trong người thì việc giảm cân sẽ khá vất vả.

Nhóm nghiên cứu cho rằng phát hiện mới này sẽ giúp cải thiện sự hiểu biết về béo phì, từ đó hạn chế cũng như ngăn ngừa những chứng bệnh có liên quan. (Theo TTO, Guardian, BBC)

Hy vọng mới trong việc ngăn chăn di căn ung thư

Theo một nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà khoa học thuộc Hiệp hội Ung thư British Colombia (Canada), có thể tiêu diệt các tế bào ung thư di căn tách khỏi khối u chính trước khi chúng lan sang các bộ phận khác trong cơ thể.

Khi nghiên cứu bệnh sarcome Ewing (một dạng ung thư xương) chủ yếu tấn công trẻ em và thanh thiếu niên, các nhà nghiên cứu phát hiện rằng các tế bào ung thư này hoạt động khác biệt một khi chúng xâm nhập vào màu hoặc hệ bạch huyết so với hoạt động trong khối u chính.

Tiến sĩ Poul Sorensen, tác giả nghiên cứu chính giải thích rằng, một khi xâm nhập vào môi trường lỏng này, các tế bào ung thư nhanh chóng kết dính nhau và tạo thành những hình cầu có khả năng kháng thuốc mạnh.

Tiến sĩ Sorensen và các cộng sự đã trích các tế bào ung thư xương và đặt chúng trong một dung dịch lỏng mô phỏng máu. Họ phát hiện rằng các tế bào này kết dính nhau và bắt đầu sản xuất hai protein là E-cadherin và ErbB4 bình thường không có mặt trong tế bào ung thư xương. Đặc biệt là ErbB4 kiểm soát sự phát triển của các tế bào ung ung thư và làm cho chúng có khả năng kháng thuốc mạnh.

Các nhà khoa học khẳng định rằng có thể tiêu diệt những hình cầu này trước khi chúng tạo một khối u khác trong phổi hay gan. Họ đang làm việc với các hãng dược phẩm nhằm tìm ra những chất có khả năng tiêu diệt hai protein này. “Nếu ức chế protein E-cadherin, thì hoạt động của protein ErbB4 sẽ bị ức chế theo, khiến các tế bào ung thư bắt đầu bị tiêu diệt và không thể kháng thuốc”, Tiến sĩ Sorensen giải thích.

Các nhà khoa học cho biết họ sẽ nghiên cứu vai trò của E-cadherin trong bệnh ung thư vú.

Truyền thuyết về cây nhân trần

Cây nhân trần. Ảnh: Sức Khỏe & Đời Sống.
Danh y Hoa Đà từng bó tay trước một ca bệnh nặng. Một năm sau gặp lại, ông thấy cô gái này rất khỏe mạnh, tươi tắn. Hỏi ra, khi đào rau núi ăn cho qua đợt đói kém, cô đã tình cờ ăn một loài cây, đó là nhân trần.

Chuyện xưa kể rằng: Vào mùa xuân năm ấy, có một nữ bệnh nhân tìm gặp danh y Hoa Đà để chữa bệnh. Nhìn thân hình gầy như que củi, sắc mặt vàng vọt, niêm mạc hai mắt mang màu mơ chín, Hoa Đà tiên sinh biết rằng cô gái này bị chứng "hoàng lao bệnh" hay "hoàng đản bệnh", căn bệnh mà ngày nay y học hiện đại gọi là viêm gan vàng da. Thời đó, chứng bệnh này chưa có cách chữa nên Hoa Đà đành nói: "Căn bệnh này tôi không chữa được, cô hãy về đi!". Cô gái nghe vị danh y nói vậy đành ngậm ngùi trở về nhà và cũng không nghĩ chuyện đi tìm thầy khác chữa bệnh nữa.

Một năm trôi qua, tình cờ gặp lại, nhìn thấy cô gái thân hình béo tốt, sắc mặt hồng hào, dáng đi nhanh nhẹn, Hoa Đà rất đỗi ngạc nhiên, hỏi: "Cô đã tìm được ai để chữa bệnh vậy?". Cô gái lắc đầu: "Không ạ, cháu không uống thuốc của ông lang nào cả". Hoa Đà lại hỏi: "Vậy có tự dùng thuốc gì không?". Cô gái đáp: "Không, cháu cũng không dùng thuốc gì cả".

Hoa Đà tiên sinh trong lòng đầy nghi ngờ, tự hỏi: Bệnh nặng mà không dùng thuốc thì làm sao có thể khỏi được? Vì vậy, ông lại gặng hỏi: "Cô thử nghĩ kỹ xem, hằng ngày ngoài việc dùng cơm có còn ăn thứ gì khác nữa không?". Cô gái đáp: "Không ạ. Mấy năm nay đói kém, cơm gạo chẳng đủ, cháu phải lên núi hái rau dại để ăn". Nghe vậy, Hoa Đà vội nhờ cô gái dẫn đi xem loại rau đó. Thì ra đó chính là hoàng cao đầu, một vị thuốc khá quen thuộc.

Từ đó trở đi, Hoa Đà chú tâm nghiên cứu khả năng chữa trị của hoàng cao đối với chứng bệnh viêm gan vàng da. Nghe theo lời khuyên của ông, hầu hết bệnh nhân đều khỏi chỉ bằng việc dùng hoàng cao làm rau ăn trong một tháng. Tuy nhiên, một lần, một bệnh nhân mặc dù đã làm đúng theo lời Hoa Đà dặn, ăn rau thuốc mấy tháng liền mà bệnh vẫn không khỏi. Hoa Đà tìm gặp và hỏi: "Ngoài việc dùng hoàng cao ra anh có ăn thứ gì khác không?". Người bệnh nói: "Không ạ, cháu chỉ uống nước trắng thôi". Hoa Đà lại hỏi: "Vậy anh ăn hoàng cao vào thời gian nào?". Người bệnh đáp: "Vào khoảng trước sau tiết Thanh minh".

Sau nhiều ngày suy ngẫm, vị danh y chợt nhận ra rằng: Mùa xuân là giai đoạn dương khí thượng thăng, cây cối đâm chồi, trăm hoa đua nở, sức thuốc tập trung ở thân và cành nên chữa bệnh có hiệu quả cao, từ đầu hạ trở đi cây cối ra lá và mọc cành mới, dược lực phân tán nên trị liệu ít kiến hiệu. Năm sau, trước tiết Thanh minh, ông tự mình lên núi lấy hoàng cao về cho người bệnh này ăn, quả nhiên chỉ sau một tháng, bệnh tình thuyên giảm rõ rệt, dùng thêm một tháng nữa bệnh cơ bản khỏi.

Hoa Đà mừng khôn xiết và từ đó, cứ vào 3 tháng đầu năm, ông thường lên núi thu hái hoàng cao về tích trữ dùng dần. Sau này, để tránh nhầm lẫn, ông đặt cho cây thuốc này một cái tên mới gọi là "nhân trần".

Cách dùng trà nhân trần

Nhân trần 30 g thái vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút có thể dùng được, pha thêm một chút đường phèn uống thay trà trong ngày, dùng phòng bệnh do thấp nhiệt gây ra, điều trị viêm gan cấp và mạn tính.

Nhân trần 300 g, sinh địa hoàng 60 g, trà 30 g. Ba vị tán vụn, mỗi ngày lấy 30 g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 10-15 phút có thể dùng được, uống thay trà trong ngày. Dùng để chữa viêm gan vàng da cấp tính.

Bạch hoa xà thiệt thảo 500 g, nhân trần 150 g, sinh cam thảo 50 g. Tất cả thái vụn, mỗi ngày lấy 60 g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút có thể dùng được, uống thay trà trong ngày. Dùng chữa viêm gan vàng da cấp tính có sốt.

Mạch nha 500 g, nhân trần 500 g, quất bì 250 g. Tất cả sấy khô tán vụn, mỗi ngày dùng 60 g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Dùng trị viêm gan giai đoạn di chứng có rối loạn tiêu hóa, chán ăn, đầy bụng chậm tiêu.

Râu ngô 300 g, nhân trần 150 g, bồ công anh 150 g. Tất cả tán vụn, mỗi ngày dùng 50 g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Dùng để phòng chống viêm gan, viêm túi mật, sỏi mật...

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)

Số ca ung thư sẽ tăng gấp đôi trong vòng 30 năm

Một tế bào ung thư
Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) vừa khẳng định số ca ung thư trên toàn thế giới sẽ tăng gấp đôi từ năm 2000 đến năm 2030.

Theo IARC, năm 2000 đã có 11 triệu ca ung thư mới, 7 triệu ca tử vong do ung thư và 25 triệu người mắc căn bệnh này. IARC ước tính từ nay đến năm 2030 sẽ có 27 triệu ca ung thư, 17 triệu ca tử vong do ung thư và 75 triệu người sống với căn bệnh này.

Giám đốc IARC, Tiến sĩ Peter Boyle, cho biết các nước nghèo sẽ ghi nhận nhiều ca ung thư mới vì các yếu tố nguy cơ như chứng nghiện thuốc lá sẽ di chuyển đến các nước này.

IARC đã được thành lập vào năm 1965 bởi một nghị quyết của Hội đồng Sức khỏe Thế giới và được đặt tại Lyon (Pháp).

Bệnh ung thư do sự tăng sinh các tế bào bất thường trong một mô của cơ thể và các tế bào này có khả năng xâm lấn các mô khác hoặc di chuyển đến nơi xa (di căn).

Người Ai Cập đã từng mô tả các triệu chứng bệnh ung thư vào khoảng năm 3500 trước Công Nguyên. Tuy nhiên chính ông tổ ngành Tây Y người Hy Lạp Hyppocrate (khoảng năm 385 trước Công Nguyên) đã lần đầu tiên định nghĩa căn bệnh này và gọi nó là ung thư biểu mô. V.S (RC)

Bệnh bạch cầu khó chữa khỏi hoàn toàn

Xét nghiệm máu ở bệnh nhân bạch cầu cấp tính dòng lympho
Theo một nghiên cứu của Mỹ, bệnh bạch cầu cấp tính dòng lympho (còn gọi là ung thư máu) ở trẻ em dù đã chữa khỏi nhưng có thể gây một căn bệnh ung thư thứ hai. Thậm chí 30 năm sau khi lành bệnh, nguy cơ tái bệnh cũng tăng cao.
Tiến sĩ Nobuko Hijiya và các cộng sự thuộc Trường Đại học Memphis đã theo dõi 1.290 người từng mắc bệnh bạch cầu được xem như đã hoàn toàn chữa khỏi. Tỉ lệ xuất hiện bệnh ung thư thứ hai trong nhóm này là 4,17% sau 15 năm, 5,37% sau 20 năm và 10,85% sau 30 năm.

Theo các nhà nghiên cứu, nguy cơ tái bệnh gia tăng theo thời gian do căn bệnh này phát triển chậm. Các bệnh nhân chữa khỏi bệnh ung thư thứ nhất có nguy cơ tái bệnh cao gấp 13,5 lần so với những người khác.

Bệnh bạch cầu cấp tính là căn bệnh ung thư phổ biến nhất ở trẻ em và lứa tuổi thiếu niên. Tỉ khỏi bệnh là 80% nhưng bệnh nhân cần được theo dõi lâu dài. N.S (Santé)

Rượu làm tăng nguy cơ ung thư vú và đại trực tràng

Theo một thông cáo của Trung tâm nghiên cứu ung thư quốc tế (CIRC) thuộc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), rượu không những gây ung thư vòm miệng, hầu, thanh quản, thực quản và gan, mà còn liên quan đến việc tăng nguy cơ ung thư vú và đại trực tràng. Giám đốc CIRC Pter Boyle cảnh báo rằng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú liên quan rõ rệt đến mức độ tiệu thụ rượu dù với liều lượng thấp. CIRC đã đưa ra kết luận trên sau khi tổ chức một hội nghị với sự tham dự của 26 nhà nghiên cứu đến từ 15 nước khác nhau vào tháng 2/2007 tại Lyon (Pháp). Theo CIRC, mỗi ngày uống khoảng 50g cồn (khoảng 5 ly nhỏ) làm tăng gấp đôi hoặc gấp ba lần nguy cơ ung thư vòm miệng, hầu, thanh quản và thực quản. Đối với bệnh ung thư gan, tác động của rượu khó định lượng hơn.

Đối với bệnh ung thư vú, việc tổng hợp 53 nghiên cứu ở hơn 58.000 phụ nữ đã chứng minh rằng mỗi ngày uống 50g cồn làm tăng gấp 1,5 lần nguy cơ mắc bệnh. Đối với bệnh ung thư đại trực tràng, nguy cơ tăng khoảng 1,4 lần.

Theo WHO, ung thư vú là nguyên nhân gây 502.000 ca tử vong và ung thư trực tràng gây 655.000 ca.

Dùng aspirin với liều vừa phải giúp kéo dài tuổi thọ

Dùng thuốc aspirin với liều vừa phải giúp giảm nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch và ung thư ở phụ nữ. Đó là kết quả một nghiên cứu diện rộng do các nhà khoa học Trường Đại học Harvard (Mỹ) thực hiện và công bố trên tạp chí Archives of Internal Medicine.

Tác giả nghiên cứu Andrew Chan và các cộng sự đã theo dõi trong gần 30 năm 79.439 phụ nữ Mỹ. Trong số những người tình nguyện này, 45.305 người không bao giờ dùng aspirin, 29.132 người dùng với liều nhẹ đến vừa (từ 1 đến 14 viên 325mg mỗi tuần) và 5.000 người với liều tương đối cao (hơn 13 viên mỗi tuần).

Phân tích của các nhà nghiên cứu cho thấy các phụ nữ dùng đều đặn aspirin từ 10 năm có nguy cơ tử vong thấp hơn 25% so với những người không dùng. Những người dùng aspirin với liều vừa phải có thể giảm 38% nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch và 12% do bệnh ung thư.

Theo ông Andrew Chan, mặc dù nhiều nghiên cứu khác nhau về thuốc aspirin đã từng mang lại những kết quả trái ngược nhau nhưng cũng cho phép rút ra những thông tin có thể giúp ích cho các phụ nữ và giới y học.

Nghiên cứu trên khẳng định rằng, aspirin có thể có lợi cho sức khỏe, nhưng không phải đối với bất cứ người nào, mà chỉ dành cho các phụ nữ cao tuổi, cũng như những người có nguy cơ bệnh tim mạch, cao huyết áp, tiểu đường, có tỉ lệ cholesterol cao hoặc béo phì.

Tuy nhiên, các tác giả nghiên cứu cảnh báo rằng không thể tự tiện dùng aspirin với mục đích phòng ngừa bệnh mà không hỏi ý kiến của bác sĩ. Aspirin được biết là có tính năng chống đông máu nên giữ vai trò trong việc giảm nguy cơ bệnh tim mạch.
V.S (Santé)

 

Bài Sức Khoẻ & Dinh Dưỡng tháng 3, 2007

Bài Sức Khoẻ & Dinh Dưỡng tháng 1, 2007

Bài Sức Khoẻ & Dinh Dưỡng tháng 11, 2006

Bài Sức Khoẻ & Dinh Dưỡng tháng 9, 2006

Bài Sức Khoẻ & Dinh Dưỡng tháng 7, 2006

Bài Sức Khoẻ & Dinh Dưỡng tháng Tư, 2006

Hiệp Hội Tim Mạch Mỹ: Biệt dược chỉ giúp làm chậm lại chứ không ngừa được chứng cao huyết áp

Thuốc đảo ngược bệnh tim mạch

Suy tĩnh mạch mãn tính: Bệnh có thể gây tàn phế nặng nề

Cây trâm cài tóc cứu kẻ bị “thượng mã phong”

Vì sao bạn hói đầu?

Những sai lầm tai hại khi xông hơi - massage

Những Vấn Đề Của Khớp Xương

Phát hiện gien gây nguy cơ bệnh tiểu đường loại 2

Thuốc quý từ củ kiệu

Lần đầu tiên cấy van động mạch chủ từ mô lợn cho bệnh nhân

7 tác dụng của trái táo

Chocolate đen có lợi cho sức khỏe hơn chocolate trắng

Chứng bất lực, dấu hiệu báo trước bệnh tim mạch

9 thói quen tai hại

Cắt bỏ tuyến tiền liệt dễ gây bất lực

Bệnh tiểu đường có 'họ hàng' với ung thư

Tỏi giúp giữ gìn sắc đẹp

Uống rượu với liều vừa phải có thể giúp giảm cân?

Đậu tương sống làm giảm cholesterol

Một số bài thuốc Đông y trị mỡ máu cao

Mỹ có gần 21 triệu người mắc bệnh tiểu đường

10 triệu chứng gợi ý cho bệnh tim mạch

Kiểm tra mắt có thể giúp phát hiện sớm nguy cơ tai biến mạch máu não

Các món ăn không thể nấu cùng nhau

Hy vọng mới cho người bệnh viêm khớp

Ăn ớt ngủ ngon

Đường hoá học có gì đáng sợ?

Sút cân có thể báo trước bệnh Alzheimer

Glyxin zipper: Thủ phạm gây bệnh Alzheimer?

Lão suy dưới cái nhìn của Đông y

10 cách phòng ngừa bệnh tim mạch

Để phòng ngừa bệnh ung thư, hãy ăn nguyên quả cà chua!

Bài thuốc đông y giúp ổn định bệnh tiểu đường type 2

Ăn thỏa thích mà không tăng cân?

Vitamin C có tính năng chống ung thư?

Phương pháp phối hợp sẽ có hiệu quả hơn trong việc điều trị cholesterol cao

Viên thuốc chống lão hóa

Khi nào mới có thuốc Viagra dành cho phụ nữ ?

Sẽ có viên thuốc kích thích trí nhớ ?

Làm hạ huyết áp sẽ giúp giảm nguy cơ tổn thương não

Cà phê - Nguồn cung cấp nhiều chất chống oxy hóa nhất

Liệu pháp hoóc-môn giúp giảm cân

Rễ nhàu chữa nhức mỏi và cao huyết áp

Quả chua phòng bệnh viêm đa khớp

Phòng chữa bệnh bằng cua

Những bài SỨC KHOẺ & DINH DƯỠNG đã đăng trên HNPĐ ( Tập I )

Những bài SỨC KHOẺ & DINH DƯỠNG đã đăng trên HNPĐ ( Tập II )

Về trang chủ

 

.

Thiên cổ đoạn trường kim nhất tục.
Phiếm Đàm tòng thử kế Thừa sai.

Tìm kiếm tin đã đưa
Liên kết website

Âm Thanh

Tin mới nhất của BBC
Tin mới nhất của RFA
Tin mới nhất từ SBS ÚC
Tin mới nhất của VOA

Văn nghệ hôm nay





 

Thư viện Y học Trung Ương

Đông y đông dược

 

WEBSITE Y KHOA&ĐỜI SỐNG

WEBSITE SỨC KHOẺ&ĐỜI SỐNG
ĐỊNH NGHĨA TỪ Y KHOA
TỰ ĐIỂN GIỚI TÍNH
Dinh dưỡng và an tòan thực phẩm
Tra cứu tự điển y khoa
TỰ ĐIỂN THUỐC
GIỚI TÍNH TUỔI TEEN
SỔ TAY CHẨN TRỊ Y HOC CỔ TRUYỀN
Đông y đông dược
“NGÀNH THÁI-Y Ở TRUNG QUỐC"

 

 

ĐIẠ CHỈ: WWW.HAINGOAIPHIEMDAM.COM.

EMAIL: HAINGOAIPHIEMDAM@YAHOO.COM

|Tại sao?| Lượm lặt | Hình kì cục|Điển tích|Truyện Tầu|Hỏi&Đáp| Thơ cay |Tiểu phẩm|Thư tín|TRÁI TIM HỒNG|CHĂN GỐI | Rừng cười |Góc tối|MÁY TÍNH LÀM THƠ |Bonsai Garden|Tạp văn| | Nhân vật |Đó Đây|KINH TẾ | Động Vật | Vườn hồng | Nghe Nhạc | Tiếng thơ