| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Nhân
ngày mất của Chí sĩ Phan Huy Ích ( 13-03-1822 )
1822: Ngày mất Phan Huy Ích, danh sĩ cuối đời Hậu
Lê. Ông quê ở xã Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc, tỉnh
Hà Tĩnh. Ông là con tiến sĩ Phan Huy Cận, rể Ngô
Thì Sĩ, em rể Ngô Thì Nhậm, tự Khiêm Thụ Phủ, hiệu
Dụ Am, cũng có tự là Chi Hòa, hiệu Đức Hiên. Thuở
nhỏ, ông vốn tên là Phan Công Huệ, vì kiêng húy
bà chúa chè Đặng Thị Huệ nên đổi tên là Huy Ích.
Năm 1771 ông đỗ giải nguyên, năm 1775 đỗ hội nguyên,
năm 1776 đỗ khoa ứng chế, được bổ làm hàn lâm thừa
chỉ. Năm 1777, làm đốc đồng Thanh Hóa, sau về triều
làm Thiêm sai trị hình ở phủ chúa Trịnh, thay Phạm
Nguyễn Du. Sau năm 1780, chán ghét chúa Trịnh vua
Lê, mấy lần cáo bệnh xin về hưu đều không được chấp
nhận. Đến năm 1788, Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc lần
thứ hai, ông cùng Ngô Thì Nhậm, Vũ Huy Tấn, Đoàn
Nguyễn Tuấn được Nguyễn Huệ vời vào Phú Xuân, lãnh
nhiệm vụ ngọai giao với nhà Thanh. Được vua Quang
Trung phong làm Tả Thị lang bộ hộ, tước Thụy Nham
Hầu.Ông qua đời năm 1822.
Văn
học nghệ thuật thời Tây Sơn
Dư Vân
Trong những biến động tột cùng của giai đoạn nội
chiến vào hậu bán thế kỷ 18, triều đại Tây Sơn rực
rỡ chói lòa như một ánh chớp rồi chợt tắt cùng Quang
Trung Hoàng Ðế. Nhưng, qua một thời gian ngắn ngủi
như vậy, triều đại đó cũng để lại cho dân tộc Việt
Nam một di sản văn hóa rất phong phú. Những nỗ lực
của triều Nguyễn Gia Long nhằm xóa bỏ ảnh hưởng
Tây Sơn trong xã hội đã có ít nhiều thành công,
khiến cho các đời sau không còn đánh giá được nền
văn học nghệ thuật Tây Sơn một cách xứng đáng và
gây nên những thiệt thòi chung cho cả dân tộc. Trong
dịp kỷ niệm 200 năm Chiến Thắng Ðống Ða của dân
tộc dưới sự lãnh đạo của Quang Trung Hoàng Ðế, chúng
ta cũng nên thử kiểm điểm và tạm lượng giá những
thành tựu chung của văn học nước ta vào thời Tây
Sơn. Sau này, khi điều kiện cho phép, chúng ta sẽ
phải khôi phục và phát huy những giá trị của nền
văn học này.
* Văn Học Trong Xã Hội Việt Nam Thời Nội Chiến
Trong nhiều thập niên, khi lẫn lộn chính trị, văn
học và dân tộc tính Việt Nam với nhau, một số người
đã cho giai đoạn kết thúc cuộc phân tranh Trịnh-Nguyễn
là giai đoạn mà dân tộc tính của Việt Nam bị suy
vong, bị thách thức nặng nề nhất. Thực ra, đây là
thời kỳ suy đồi về chính trị, xuất phát từ tầng
lớp tranh đoạt quyền hành mà bất chấp nguyện vọng
của người dân. Nhưng, đây cũng là thời kỳ mà văn
học nước ta phát triển rực rỡ nhất, như một phản
ứng quật khởi của dân tộc, hơn hẳn thời kỳ gọi là
thịnh trị của triều Nguyễn Gia Long kế tiếp.
Ðọc lại văn học sử, chúng ta thấy nhiều tác giả
được truyền tụng sau này đều xuất hiện vào thời
kỳ đó. Như cây bút ký sự Pham Ðình Hổ, như nhà bác
học Lê Qúy Ðôn, như Hồng Hà Nữ Sĩ Ðoàn Thị Ðiểm
và Ðặng Trần Côn, tác giả Chinh Phụ Ngâm, như sử
gia Ngô Thì Sĩ và hai con là Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì
Chí, như các nhà thơ Phan Huy Ích, Nguyễn Du, như
Ngọc Hân Công chúa, tác giả Ai Tư Vãn... Chung quanh
những vì sao sáng chói này còn thấy xuất hiện biết
bao ngọn bút một thời lừng danh như Bùi Huy Bích,
Trần Danh Án, Vũ Huy Tân, Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn
Huy Lượng, Ninh Tốn, Ðoàn Nguyễn Tuấn...
Chính những tao loạn và tranh chiến liên miên trong
xã hội đã khiến nhiều tài năng văn học được phát
huy thành muôn hình muôn vẻ, và trong khi các tác
giả có thể ở vào thế đối nghịch chính trị và sáng
tác theo cảm quan hay lý trí riêng của mình, họ
đều đóng góp cho gia tài văn hóa chung của đất nước.
Nhưng, trong giòng cuồng lưu có nhiều u uất thịnh
nộ, nhiều thở than bi phẫn của văn nhân Việt Nam
giữa thời loạn, văn học nghệ thuật triều Tây Sơn
lại có những nét độc đáo khác mà chúng ta cần nhìn
cho ra.
* Văn Học Nghệ Thuật Tây Sơn, Một Khối Lượng Ðồ
Sộ Trong Một Thời Gian Ngắn Ngủi
Thời kỳ Tây Sơn được coi như khởi sự từ 1771, lên
tới cao điểm là năm vua Quang Trung lên ngôi rồi
đại thắng quân Thanh, 1789, và suy tàn rồi bị Nguyễn
Ánh chấm dứt năm 1801. Tổng cộng là 30 năm, trong
đó chỉ có gần 4 năm tương đối thanh bình, khi vua
Quang Trung bắt đầu đặt nền móng dựng nước rồi đột
ngột băng hà, từ 1789 đến 1792, trước đó và sau
đó toàn là những năm chinh chiến. Mặc dù vậy, thời
kỳ Tây Sơn cũng đã có những cống hiến đa diện và
phong phú trong rất nhiều lãnh vực văn hóa như thơ
văn, khảo cứu, giáo dục, pháp luật, y học, võ học,
âm nhạc và cả kiến trúc, sân khấu.
Thơ văn thời Tây Sơn có những tác phẩm cả Hán cả
Nôm của những tác giả Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích,
Ninh Tốn, Nguyễn Huy Lượng, Ðoàn Nguyễn Tuấn, Cao
Huy Diệu, Ngọc Hân Công chúa, Vũ Huy Tấn...
Ngô Thì Nhậm là một bậc kỳ tài trong nhiều lãnh
vực văn học, chính trị, triết học, tôn giáo, quân
sự, sử học... Những cống hiến của ông cho đất nước
không khỏi làm chúng ta liên tưởng đến một nhân
vật khác của lịch sử dân tộc là Nguyễn Trãi. Một
mình Ngô Thì Nhậm, với những trứ tác của ông, cũng
đủ tiêu biểu cho cả nền văn học Tây Sơn. Về Ngô
Thì Nhậm, ta sẽ phải có một kiểm điểm và tôn vinh
riêng, vượt ra khỏi khuôn khổ của một bài sơ kết
này.
Phan Huy Ích (1750-1822), người Sơn Tây, quê gốc
Nghệ An, là em rể và bạn đồng triều của Ngô Thì
Nhậm, làm quan tới Thượng đại phu Thị trung Ngự
sử, tước Thụy Nham Hầu. Thời Quang Toản, ông là
Thượng thư bộ Hình kiêm bộ Hộ, về già ở ẩn, xưng
Bảo Chân đạo nhân. Phan Huy Ích là một nhà ngoại
giao, chính trị, một nhà thơ viết chữ Hán, một nhà
văn chữ Nôm và đã nhiều lần cầm bút khích động tinh
thần chiến đấu của quân sĩ Tây Sơn chống lại quân
Nguyễn Ánh. Ông là tác giả Dụ Am ngâm lục, Dụ Am
văn tập, Tinh Sà kỷ hành và nhiều tác phẩm chữ Nôm
khác, kể cả nhiều bài hịch, bài biểu và một bản
dịch nôm Chinh Phụ Ngâm của Ðặng Trần Côn.
Ninh Tốn là Ninh Song An, hiệu Chuyết Sơn, sinh
năm 1743 tại Ninh Bình, làm quan triều Lê, sau theo
Tây Sơn, làm đến Thượng Thư bộ Binh, được phong
tước Hầụ Từng khuyên Ngô Thì Nhậm luôn luôn "hết
lòng vì việc dân", để lại cho đời sau Chuyết
Sơn thi tập ngợi ca thiên nhiên hùng vĩ và các anh
hùng dân tộc. Ông là bạn tương đắc của Ngô Thì Nhậm
cùng Phan Huy Ích.
Nguyễn Huy Lượng là danh sĩ thời Lê mạt, sau làm
quan triều Tây Sơn, được phong tước Chương Lĩnh
Hầu. Ông nổi danh với bài Tụng Tây Hồ phú viết bằng
chữ Nôm đời nay còn truyền tụng. Bài phú ca ngợi
thắng cảnh của Hồ Tây, của thành Thăng Long và công
đức an dân của triều Tây Sơn.
Ðoàn Nguyễn Tuấn là anh vợ của Nguyển Du, làm quan
triều Lê nhưng sau cùng anh của Nguyễn Du là Nguyễn
Nễ theo phò Tây Sơn, làm quan đến Thị lang bộ Lại,
được phong tước Hải Phái Hầu. Như Ngô Thì Nhậm và
Phan Huy Ích, ông từng đi sứ đối đáp với triều Mãn
Thanh và làm thơ phản ảnh một niềm tự hào dân tộc
rất đĩnh đạc, khác hẳn văn phong yếm thế hay tôn
sùng Trung Hoa của các danh sĩ cùng thời. Tác phẩm
ông để lại có Hải ông thi tập.
Công chúa Ngọc Hân là con gái vua Lê Hiển Tông,
sinh quãng 1770, lấy Quang Trung Nguyễn Huệ năm
16 tuổi, góa năm 22. Cùng hai con trai và gái trốn
tại Quảng Nam khi Gia Long diệt Tây Sơn, bà đã phải
uống thuốc độc và các con treo cổ tự ải năm 1803
vì bị Gia Long truy lùng rất gắt để tru di cho tuyệt
dòng dõi vua Quang Trung. Mẹ bà là Chiêu Nghi Hoàng
Hậu (vợ vua Hiển Tông) lén cho người ra Quảng Nam
đem hài cốt con gái và hai cháu ngoại về chôn cất
tại Bắc Ninh thì hơn 50 năm sau, mộ phần và hài
cốt của bà cũng bị Thiệu Trị khai quật giã nát.
Nổi danh tài hoa trong cõi Bắc hà vốn đã có nhiều
nhân tài văn học, bà trứ tác cũng nhiều, nhưng sau
khi Vua Quang Trung băng hà và nhà Tây Sơn bị diệt,
các tác phẩm của bà cũng bị thiêu hủy, chỉ còn lại
bài Văn tế vua Quang Trung và bài Ai Tư Vãn, ghi
lại lòng thương tiếc của bà với bậc đại anh hùng.
Trong Ai Tư Vãn, bà so sánh sự nghiệp của vua Quang
Trung với những vua Thang vua Võ thời cổ đại mà
khóc ông không được tuổi thọ để giúp dân dựng nước.
Ngoài những nhân vật trên, còn Cao Huy Diệu, Vũ
Huy Tấn, Ngô Ngọc Du, đều là những tay văn học lẫy
lừng với những tác phẩm khẳng định tinh thần lạc
quan, tin tưởng vào đất nước, hoặc ghi nhận những
chiến công oai hùng của Quang Trung Hoàng Ðệ Cũng
trong giòng văn học Tây Sơn, người ta không thể
quên những tác giả trong gia đình Ngô Thì Nhậm đã
góp phần viết lại tác phẩm dã sử có giá trị văn
chương và sử liệu rất cao là Hoàng Lê Nhất Thống
Chí. Tác phẩm này ghi lại những biến động từ thời
Lê mạt đến khi Quang Toản bị Gia Long giết và Chiêu
Thống chết nhục ở bên Tầu, với những hồi mô tả cả
một không khí hào hùng thời Tây Sơn rực rỡ nổi bật
lên trên tình trạng mục nát rối loạn của triều Lê-Trịnh.
Bên cạnh những tác phẩm văn thơ tiêu biểu của thời
Tây Sơn, văn học thời này còn để lại một bộ môn
khá độc đáo và vô cùng hữu ích cho đời sau, đó là
các tác phẩm văn học chính giáo. Thời Tây Sơn, văn
học chính trị và giáo dục cũng đã có những bước
tiến vượt xa sự suy đồi lạc hậu của các triều đại
cũ.
* Văn Học Chính Giáo Thời Tây Sơn
Văn học chính trị có những bài hịch Tây Sơn khi
Nguyễn Nhạc khởi nghĩa, khi Nguyễn Huệ chuyển quân
ra Bắc tiêu diệt nhà Trịnh, những bài Phan Huy Ích
hiểu dụ quân binh thời Cảnh Thịnh cố gắng chống
đỡ quân Gia Ðịnh của Nguyễn Ánh. Nhưng, tiêu biểu
hơn cả cho chính đạo của một thời kỳ chói sáng là
những bài chiếu, bài dụ, bài biểu của triều Quang
Trung và cả những văn từ liên lạc ngoại giao giữa
triều đình ta với vua quan Mãn Thanh trong mặt trận
ngoại giao Việt-Thanh.
Những tác phẩm văn học chính trị này (được coi
là của Ngô Thì Nhậm, Trần Văn Kỷ và Phan Huy Ích)
không chỉ có giá trị về mặt sử học mà còn là những
bản hùng văn đề cao chính nghĩa của dân tộc, dõng
dạc nêu lên sức đề kháng của toàn dân và vạch ra
ý hướng xây dựng một nếp sống tiến bộ cho người
dân. Những tác phẩm này, tiêu biểu nhất là các bài
Chiếu Khuyến Nông, Chiếu Cầu Hiền, Chiếu Lập Học,
Mở Khoa Thi... còn soi tỏ tấm lòng yêu nước thương
dân của bậc đại anh hùng Quang Trung Nguyễn Huệ.
So sánh với khí văn thời Lê mạt hay thời Gia Long,
người ta thấy hiển hiện một niềm kiêu hãnh dân tộc
và tính lạc quan chủ động đặc biệt của thời kỳ Tây
Sơn.
Về văn học giáo dục, người ta biết vua Quang Trung
đã đích thân yêu cầu Nguyễn Thiếp lập viện Sùng
Chính và phiên dịch các sách chữ Hán ra chữ Nôm
để quảng bá trong dân gian. Nhưng, Nguyễn Thiếp
làm không hết việc, và tự giải nhiệm sau khi Quang
Trung băng hà, nên công trình dịch thuật không để
lại kết quả như vua Quang Trung mong đợi. Ngoài
Viện Sùng Chính lo việc phiên dịch sách Tiểu học,
Tứ Thư và Kinh Thi, Kinh Dịch, Kinh Thư, dưới triều
Tây Sơn còn có viện chép sử, gọi là Quốc Sử Quán.
Một lần nữa, Ngô Thì Nhậm lại chứng tỏ trí tuệ
phi thường khi làm Tổng Tài điều khiển viện chép
sử. Ông tham khảo các bộ sử của Lê Văn Hưu, Phan
Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên và tài liệu của Lê Tung, Nguyễn
Nghiễm (cha của Nguyễn Du) để sao nhuận lại bộ sử
do cha mình là Ngô Thì Sĩ soạn thảo, thành bộ Ðại
Việt Sử Ký Tiền Biên gồm 17 quyển, chép từ đời Hồng
Bàng đến đời Hậu Trần (Trùng Quang Ðế). Sau bộ sử
đồ sộ này, Quốc Sử Quán cn soạn tiếp bộ Ðại Việt
Sử Ký Tục Biên, có phần Lê Kỷ, chép tiếp từ triều
Lê đến vua Lê Ý Tông (1740).
Năm 1839, Minh Mạng ra một đạo dụ man rợ là tiêu
hủy tất cả các bản in lẫn ván in cùng mọi tài liệu
sao chép bộ sử này, nên chúng ta mất. May là Quốc
Sử Quán đã có một quyết định sáng suốt và tiến bộ
là tóm lược hai bộ sử trên thành một bộ Ðại Việt
Sử Ký Tiệp Lục Tổng Tự, diễn dịch và chú giải sang
chữ Nôm để dễ dàng phổ biến trong dân gian. Cả ba
bộ sử này đều hoàn thành vào năm 1800, trước khi
Nguyễn Ánh thành công, nhưng nay chỉ còn bộ Tiền
Biên và bộ Tiệp Lục Tổng Tự. Bộ thứ ba này dù tóm
lược cũng vẫn ghi đủ sự việc từ thời Vua Lê Lợi
đến Cảnh Hưng, kể cả những sự việc của nhà Mạc và
của các Chúa Nguyễn, đến Nguyễn Phúc Thuần. Và nó
còn có giá trị hy hữu là một bộ sử có diễn dịch
và chú giải bằng văn Nôm cho quần chúng. Rõ ràng
là ý thức xây dựng một nền văn học dân tộc biệt
lập với quá khứ tòng Hán đã từ Quang Trung Nguyễn
Huệ lan rộng xuống cả triều đình và đi vào giáo
dục phổ thông.
Ngay cả về giáo dục, người ta còn biết là vừa lên
ngôi, vua Quang Trung đã ban chiếu lập nhà học và
mở khoa thi năm 1789. Ngài ra lệnh khuyến khích
dân các xã nên lập nhà học, chọn nho sĩ có đức hạnh
trong xã mình làm thầy, ở cấp phủ huyện thì dân
chúng cố trông nom nhà Từ vũ (nhà học cấp phủ huyện)
cho tới khi triều đình chọn được quan huấn đạo thì
sẽ gửi tới phụ trách việc giảng dạy. Chỉ một chi
tiết đó cũng nói lên không khì chuộng học và tinh
thần khá dân chủ tiến bộ thời Tây Sơn.
Cũng trong nỗ lực dựng nước, văn học chính giáo
thời Tây Sơn còn có một cống hiến nữa về mặt lập
pháp. Ngay từ 1788, Quang Trung Hoàng Ðế đã có quyết
định cho soạn thảo một bộ luật mới cho một kỷ nguyên
mới. Ngài mất đi, nhưng ý chí vẫn còn nên qua đời
Cảnh Thịnh, quan Thượng Thư bộ Hình là Lê Công Miễn
đã tham khảo bộ luật Hồng Ðức và cả luật Mãn Thanh
để soạn ra một bộ Hình Thư, hoàn tất năm 1800. Bộ
luật này chưa được áp dụng thì triều Tây Sơn đổ
và có lẽ đã bị thất truyền.
* Các Lãnh Vực Văn Hóa Khác
Về mặt kiến trúc và xây dựng, thời Tây Sơn cũng
đã có những cố gắng sơ khởi với thành Chà Bàn (Hoàng
Ðế thành của Nguyễn Nhạc kiến lập tại gần Quy Nhơn),
thành Phú Xuân (nơi nhà Nguyễn Tây Sơn thực sự đóng
đô từ 1789 đến 1801), Phượng Hoàng Trung Ðô tại
Nghệ An (nơi Quang Trung muốn thiết lập làm kinh
đô và yêu cầu Nguyễn Thiếp nghiên cứu mà chưa hoàn
thành và chỉ là một trung tâm chỉ huy quân sự) và
một đàn tế trời tại núi Bân, phía Nam núi Ngự Bình,
cách Phú Xuân 3 cây số, nơi Quang Trung lên ngôi
và làm lễ xuất quân ra Bắc trong trận Ðống Ða. Những
công trình này chưa có kích thước đồ sộ như ý chí
của nhà lập quốc, nhưng cũng đã phản ảnh một nỗ
lực kiến tạo và nhất là tinh thần chủ động canh
tân của Quang Trung.
Ở trên, ta đã nhắc tới Phan Huy Ích nhiều lần.
Qua những văn từ liên lạc Việt-Thanh, ta còn biết
triều Tây Sơn có gửi mừng Càn Long ăn thượng thọ
80 một số nghệ sĩ gồm 6 nhạc sĩ và 6 ca sĩ để trình
bày mười bài ca vũ theo điệu Nam, tiếng Nam (Ðến
nỗi Càn Long phải nhờ các nghệ sĩ này dạy lại cho
nghệ sĩ Tàu để trình diễn trong triều đình). Phan
Huy Ích chính là người đã soạn lời ca cho phái đoàn
nghệ sĩ trên. Trong Vũ Trung tùy bút của Phạm Ðình
Hổ, người ta thấy triều Lê từng cấm hát bội, nhưng
đến năm 1790, dân gian lại mở rạp tổ chức hát bội,
có lẽ vì các tướng sĩ Tây Sơn đều ưa chuộng bộ môn
nghệ thuật này. Trong bài Long Thành cầm giả ca
của Nguyễn Du, ta cũng thấy tác giả truyện Kiều
viết là tướng sĩ Tây Sơn ra Bắc Hà thường thưởng
thức hát ả đào. Suy từ những sự kiện này, ta biết
là thời Tây Sơn, các ngành hát bội, hát ả đào, ca
nhạc và nói chung cả nghệ thuật sân khấu đã có lúc
thịnh hành và được khuyến khích. Phải chăng, những
dấu vết còn lại thời nay là điệu hát trống quân,
nghệ thuật đánh trống trận Tây Sơn và hát bội Bình
Ðịnh?
Sau cùng, kiểm điểm lại những di sản văn học thời
Tây Sơn, ta không thể không nhắc đến một lãnh vực
bất ngờ khác là Y học. Vua Quang Trung cho lập Nam
dược cục, giao cho một danh y đất Thanh Hóa từng
theo quân Tây Sơn ngay từ đầu là Nguyễn Hoành cùng
các nhà y học nhiều kinh nghiệm khác điều khiển
với nhiệm vụ nghiên cứu và sưu tập các loại thuốc
Nam. Sau Nguyễn Hoành cùng các con đều bị Nguyễn
Ánh giết chết. Nguyễn Hoành để lại quyển Nam dược
có ghi 500 vị thuốc Nam. Một danh y khác được giữ
chức Tá lệnh sứ của viện Thái Y ở Phú Xuân là Nguyễn
Quang Tuân, người Hà Ðông, tác giả của La Khê phương
dược, một bộ sách tổng hợp kinh nghiệm y học vào
thời Tây Sơn. Nhưng, xuất sắc hơn cả là một lương
y đã chữa chạy cho nạn dịch tại Thăng Long sau chiến
thắng Ðống Ða, từ 1789 đến 1791, và sau được Quang
Trung tin dùng, triệu về viện Thái Y tại Phú Xuân,
làm quan triều Cảnh Thịnh lên đến Thượng thư bộ
Lại, tước hầu, cho đến 1802 thì bị bắt, và sau bị
triều Nguyễn Ánh đánh đòn trước Văn Miếu Thăng Long
cùng Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích. Ông là Nguyễn
Gia Phan, được coi như một nhà y học vừa có khả
năng trị liệu, vừa là một nhà nghiên cứu uyên bác,
và cũng lại là một lương y xả thân cứu giúp dân
chúng. Công trình tổng hợp, nghiên cứu và biên soạn
của ông có các bộ Liệu dịch phương pháp toàn tập
(nghiên cứu các bệnh truyền nhiễm), Lý âm phương
pháp thông lục (nghiên cứu phụ khoa và sản khoa),
Hộ nhi phương pháp tổng lục (nghiên cứu về nhi khoa).
Triều đại Tây Sơn nổi lên trong binh biến, và thường
xuyên phải giải quyết vấn đề bằng chiến trận, trong
30 năm tồn tại, chỉ có 4 năm khởi công xây dựng
rồi lại lâm vòng chinh chiến trong 10 năm liền trước
khi sụp đổ. Trong suốt ba thập niên chinh chiến,
không khí trọng võ đã là một đặc điểm, đi đôi cùng
nguồn gốc xuất thân của những người lãnh đạo, đại
đa số đều là võ tướng, ít được đi học, và lên ngôi
vị cầm quyền nhờ công lao chiến trận. Vậy mà triều
đại đó cũng đã xây dựng và kết tập được một khối
lượng rất đồ sộ những tác phẩm văn học rất đa diện
và nghệ thuật khá phong phú. Quang Trung Hoàng Ðế
là con người trọng võ nhưng cũng là người chuộng
văn và có một tầm nhìn vượt qua thời đại của ngài
rất xa. Vì vậy mới gây được một trào lưu văn học
sung mãn, quy tụ được nhiều nhân tài trong nhiều
lãnh vực khác nhau.
oOo
Sau khi đã kiểm điểm sơ lược di sản văn học nghệ
thuật thời Tây Sơn, chúng ta có thể nêu lên một
số đặc tính gọi là tiêu biểu cho giá trị của di
sản này:
Tinh thần lạc quan và tin tưởng được thấy rõ trong
những tác phẩm còn lưu truyền. Sau một thời kỳ chinh
chiến kéo dài từ thế kỷ trước, sau biết bao tai
ương xảy ra cho mọi thành phần dân chúng, tinh thần
lạc quan này quả là một tinh thần chấn hưng dân
khí và đáng lẽ phải báo hiệu cho cả một công cuộc
phục hồi đất nước. Những bước xây dựng của Quang
Trung đã bị xoá sạch vì triều Tây Sơn chưa có thời
gian tái tạo một nền móng vững chắc sau những tai
biến liên miên.
Ðặc tính thứ hai của văn học Tây Sơn là phát huy
hùng khí dân tộc, xây dựng lại niềm tự hào cho người
Việt sau những năm phân tranh và loan lạc từ Nam
ra tới Bắc. Tính trọng võ của thời Tây Sơn không
là lý do duy nhất giải thích hiện tượng này. Phải
nói là chính tinh thần quật khởi và niềm tự tin
dân tộc sau chiến thắng Ðống Ða mới là động lực
thúc đẩy người cầm bút ngợi ca dân tộc và quốc gia
một cách nhiệt thành như vậy. Văn học Tây Sơn là
một nền văn học yêu nước.
Ðặc tính thứ ba của văn học Tây Sơn chính là đặc
tính dân tộc. Vua Quang Trung ưa chuộng chữ Nôm
đã đành, nhưng điều đó chưa đủ nói lên trọn vẹn
chí hưng quốc của ngài. Ngay từ khi chưa diệt quân
Thanh, ngài đã tỏ ý muốn cho nước ta phú cường và
không còn lệ thuộc vào việc buôn bán với Trung Hoa
nữa. Trong chiến trận, quân Tây Sơn vẫn phải tìm
mua thuốc súng của Trung Hoa, và qua chiến trận
ở Gia Ðịnh, ngài đã biết thế nào là kỹ thuật và
hỏa lực Tây phương. Chính kinh nghiệm thực tế này
đã khiến nhà vua muốn quảng bá kiến thức một cách
sâu rộng trong quần chúng để nâng cao dân trí cùng
với dân khí đã được đề cao từ lãnh đạo. Ngài muốn
phát huy những ưu điểm của dân tộc và phổ thông
hóa kiến thức đó làm nền tảng lâu dài cho việc canh
tân đất nước.
Sau cùng, văn học Tây Sơn có đặc tính thiết thực
và tiến bộ, qua những nỗ lực truy tìm và gạn lọc
những gì hữu ích nhất cho việc giữ nước và dựng
nước. Nguyễn Thiếp có khuyên Quang Trung phát huy
cái học của Tống Nho thành quốc học. Quang Trung
chọn lựa một đường hướng khác, dù vẫn yêu cầu ông
này phiên dịch những sách Hán để ngài tham khảo.
Trong chiến trận, chính vua Quang Trung đã chiêu
mộ thợ khéo để lo việc sản xuất chiến cụ ở Quảng
Nam, và với những tài nguyên và kiến thức ít ỏi
của Tây Sơn thời đó, ngài đã chiến thắng những đạo
quân đông và mạnh gấp bội. Nếu ngài không mất sớm,
chắc chắn là việc học nước ta đã có một nền móng
tân tiến và cởi mở hơn, để sau này, nước ta đã không
bị Tây phương áp bức và cướp mất chủ quyền.
Từng đó vấn đề của thời Tây Sơn, của thời Ðống Ða
lừng lẫy, ngày hôm nay hình như cũng vẫn còn. Dân
trí, dân khí, niềm tự hào dân tộc, tinh thần tiến
bộ và thực tiễn, v.v... đều là những vấn đề chúng
ta vẫn thường nghe. Nhắc đến những đóng góp và giá
trị của văn học nghệ thuật thời Tây Sơn, ta không
thể không nghĩ đến những vấn đề của dân ta vào thời
nay. Hai trăm năm nữa, dân ta sẽ viết gì về văn
học Việt Nam vào thời đại hôm nay, giữa những vấn
đề của thời đại mà dân tộc chúng ta đang phải giải
quyết?
Dư Vân
Tháng Hai-1989

|