|
Phan
Chu Trinh: Thân thế và Sự nghiệp
1926: Nhà yêu nước Phan Chu Trinh qua đời. Phan
Chu Trinh, hiệu Tây Hồ, biệt hiệu Hy Mã, sinh năm
1872 ở làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ,
tỉnh Quảng Nam.
Cha ông là Phan Văn Bình giữ một chức võ quan nhỏ,
sau năm 1885 theo phong trào Cần Vương trong tỉnh,
làm chuyển vận sứ phụ trách việc quân lương. Sau
khi kinh thành Huế thất thủ (1885), ông theo cha,
tập luyện võ nghệ, bắn cung, cưỡi ngựa.
Năm cha mất, Phan Chu Trinh mới 16 tuổi, gia đình
phải dựa vào sự lo liệu của người anh cả. Năm 1892,
ông đi học, bạn cùng học là Huỳnh Thúc Kháng kém
ông 4 tuổi. Ông nổi tiếng học giỏi.
Năm 1900, Phan Chu Trinh đỗ cử nhân; năm sau (1901),
ông đỗ phó bảng. Năm 1902, ông vào học trường Hậu
bổ, rồi ra làm quan với chức quan Thừa biện bộ Lễ.
Tại triều đình, ông được chứng kiến cảnh mục nát
hủ bại của quan trường, nên sinh ra chán nản, có
khi vài tháng không đến cơ quan. Nhưng chính vào
thời gian đó, ông giao du với nhiều người có tư
tưởng cách tân như Thân Trọng Huề, Đào Nguyên Phổ,
Vũ Phạm Hàm..., được đọc Thiên hạ đại thế luận của
Nguyễn Lộ Trạch, Tân thư giới thiệu tư tưởng duy
tân của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, tư tưởng
dân quyền của Rousseau, Montesquieu..., phong trào
Duy Tân ở Nhật Bản, cách mạng ở Pháp, Mỹ.
Tháng 07.1904, Phan Chu Trinh gặp Phan Bội Châu,
hai người trở thành đôi bạn tâm đắc. Cuối năm đó,
lấy cớ phải chăm lo việc thờ phụng tổ tiên thay
anh cả đã mất, ông cáo quan về quê. Từ đó, ông dốc
lòng vào công cuộc cứu nước.
Năm 1906, nghe tin Phan Bội Châu lại mới lên đường
xuất dương cùng Cường Để, ông cũng ra nước ngoài,
định sang Nhật Bản tham gia. Nhưng đến nhà Lưu Vĩnh
Phúc tại Quảng Đông, ông đã gặp Phan Bội Châu đang
ở đấy. Hơn 10 ngày ở Quảng Đông, hai ông cùng nhau
bàn bạc việc nước.
Sau đó, ông cùng Phan Bội Châu và Cường Để lên
đường sang Nhật Bản. Ông tham quan các trường học,
khảo cứu tình hình giáo dục, chính trị của Nhật
Bản. Phan Chu Trinh rất hoan nghênh việc Phan Bội
Châu đã vận động được một số học sinh ra nước ngoài
học tập và phổ biến những tài liệu tuyên truyền
giáo dục quốc dân trong nước.
Tháng 07.1907, Phan Chu Trinh ra Hà Nội tham gia
giảng dạy ở Đông Kinh nghĩa thục, những buổi diễn
thuyết của ông có rất đông người đến nghe. Ông mở
rộng giao du với cả một số người Pháp.Đầu tháng
03.1908, cuộc nổi dậy đòi giảm sưu thuế của nông
dân bùng nổ tại Quảng Nam, rồi lan ra các tỉnh.
Cho rằng ông là người khởi xướng cuộc nổi dậy, Khâm
sứ Trung Kỳ nhờ Thống sứ Bắc Kỳ cho bắt Phan Chu
Trinh tại Hà Nội ngày 31.03, sau đó giải về Huế
giao cho Nam triều giam giữ. Hội đồng xét xử gồm
các quan lại Nam triều, có Khâm sứ Trung Kỳ ngồi
dự đã kết án chém. Nhưng do sự can thiệp kịp thời
của những người Pháp có thiện chí và những đại diện
của Liên minh nhân quyền tại Hà Nội, Phan Chu Trinh
chỉ bị đày đi Côn Đảo.
Tháng 8 năm đó, ông được đưa về đất liền. Tại Sài
Gòn, một hội đồng xử lại bản án được thiết lập,
ông được "ân xá", nhưng buộc phải xuống
ở Mỹ Tho để quản thúc. Sau đó ông viết thư cho Toàn
quyền đòi được sang Pháp hoặc trở lại Côn Đảo, nhất
định không chịu cảnh bị giam lỏng ở Mỹ Tho. Vì vậy,
nhân dịp có nghị định ngày 31.10.1908 của Chính
phủ Pháp về việc lập một nhóm giảng dạy tiếng Hán
tại Pháp, chính quyền Đông Dương cử một đoàn giáo
dục Đông Dương sang Pháp, Phan Chu Trinh cùng con
trai là Phan Châu Dật đi theo đoàn này. Sang tới
Pháp, ông tìm cách liên hệ với những người trong
Liên minh nhân quyền và Đảng Xã hội Pháp. Nhiều
Việt kiều tại Pháp cũng đến với Phan Chu Trinh.
Phan Chu Trinh cùng với Phan Văn Trường đã lập Hội
đồng bào thân ái gồm những Việt kiều gắn bó với
quê hương.
Phan Chu Trinh là một tấm gương sáng trong phong
trào Duy Tân đầu thế kỷ 20. Ông là một nhà nho yêu
nước chân chính, có nhiều suy nghĩ tiến bộ. Có thể
khẳng định rằng ông là người có tư tưởng dân chủ
sớm nhất trong số các nhà nho yêu nước tiến bộ đầu
thế kỷ. Tuy nhiên, Phan Chu Trinh coi dân chủ còn
cấp bách hơn độc lập và tưởng rằng có thể dùng luật
pháp, cách cai trị có quy củ theo kiểu Âu Mỹ - dù
là do thực dân nắm giữ - để quét sạch những hủ bại
của phong kiến. Sai lầm chính của ông chính là ảo
tưởng về chế độ dân chủ tư sản, về những khẩu hiệu
tự do, bình đẳng, bác ái của nước Pháp.

|