|  THAM
KHẢO
(Những bài chọn đăng trong trang này của từ
nhiều phía, không nhất thiết là quan điểm của nhóm
Hải Ngoại Phiếm Đàm. . .)
Ngoài
những bài dưới đây, những chuyên đề ở 2
cột phải, trái luôn được chúng tôi cập nhật (HNPD)
Nhân
vật
Tại sao?

"Gia đình Nobel"
- Gia đình huyền thoại
Bước vào đợt trao giải thưởng Nobel năm 2005, VietNamNet
xin trân trọng giới thiệu một gia đình nổi bật nhất
trong lịch sử của giải thưởng danh giá này qua bài
viết của tác giả Trần Thanh Minh.
Vợ
chồng nhà bác học Marie Curie và Pierre Curie
Chưa có một gia đình nào như gia đình Curie giữ
nhiều kỷ lục về giải Nobel danh giá đến vậy: Năm
cá nhân. Hai đôi vợ chồng. Một phụ nữ với “cú đúp”
Sự kiện này, theo tôn chỉ của giải Nobel, phản
ảnh rõ rệt sự tỏa sáng của nhiều ý tưởng siêu việt
nhất, sự cống hiến lớn lao nhất của một gia đình
cho sự phát triển của nền văn minh nhân loại, cho
hạnh phúc con người. Pierre Curie và Marie Curie,
Irène Curie và Frederic Joliot Curie, những tên
tuổi ấy đã rực sáng trong những thập kỷ đầu của
thế kỷ 20, giai đoạn được xem như buổi bình minh
của thời đại hạt nhân nguyên tử ngày nay. Họ đã
tạo ra những viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho
sự ra đời những ngành khoa học mới hết sức quan
trọng, vừa mang tính khoa học sâu sắc, vừa có tính
ứng dụng rộng rãi trong nhiều mặt của đời sống.
PHẦN I: NHÀ KHOA HỌC NỮ VĨ ĐẠI NHẤT THẾ
KỶ 20
Vòng nguyệt quế tôn vinh giá trị của giải Nobel
Câu chuyện bắt đầu với phát minh về tia phóng xạ.
Có lẽ ai cũng biết, trong thế giới tự nhiên có những
dạng vật chất mắt thường không nhìn thấy. Tia X
hay thường gọi là tia Rơnghen là một ví dụ. Tia
X, về bản chất gần như ánh sáng: có thể làm đen
tấm phim ảnh. Khác với ánh sáng: tia X không nhìn
thấy bằng mắt thường, lại có khả năng xuyên qua
lớp vải, gỗ, hay da thịt con người.
Nhưng Tia X là nhân tạo, được tạo ra trong một
ống phóng điện chân không, khi cho một chùm hạt
electron tăng tốc trong một điện áp, rồi đập vào
điện cực dương. Vậy trong tự nhiên có tồn tại một
loại tia tương tự tia X không?
Người đi tìm câu trả lời đầu tiên là vị giáo sư
vật lý danh tiếng của Đại học Bách khoa Paris, Henry
Becquerel. Và ông đã phát hiện rằng, một mẫu quặng
Uran (còn gọi là Urani) luôn phát ra một loại tia
cũng không nhìn thấy bằng mắt thường và cũng làm
đen tấm phim, tức là có tính chất như tia X. Đây
quả là loại tia tự nhiên đang săn tìm. Thoạt đầu
Becquerel gọi nó là tia Urani.
Phát hiện này lập tức cuốn hút bà Curie vào cuộc.
Bên cạnh sự hỗ trợ và cộng tác của chồng, bà giành
toàn bộ trí tuệ, sức lực để nghiên cứu sâu sắc,
toàn diện và khám phá nhiều bí ẩn xung quanh tia
mới kỳ lạ này. Sự nghiệp khoa học đó gần như vận
vào cả cuộc đời, số phận của bà Marie Curie. Bà
sống cho nó và cũng chết vì nó.
Khám phá đầu tiên của Marie Curie là tìm thấy một
loại quặng khác, quặng Thôri, cũng phát ra loại
"tia Urani". Độc quyền của Urani, do vậy,
bị phá bỏ và tên gọi "tia Urani" mà Becquerel
gán cho trở nên không thích hợp nữa. Ông bà Curie
đã thay vào đó một tên mới: tia phóng xạ (hay gọi
tắt là bức xạ). Đồng thời, họ tổng quát hoá hiện
tượng các nguyên tố có thể tự động phát ra tia phóng
xạ bằng một khái niệm mới: hiện tượng phóng xạ hay
sự phóng xạ, và gọi những nguyên tố có tính chất
như Urani và Thôri là những nguyên tố phóng xạ.
Các khái niệm này ra đời ghi những dấu son trên
con đường phát triển về nhận thức của con người
đối với cấu trúc thế giới vật chất, còn các danh
từ mới ấy, cho đến nay, đã trở thành kinh điển và
được giới khoa học giữ nguyên.
Không dừng ở đó, ông bà Curie mở rộng khảo sát
các tác động sinh hoá của tia bức xạ lên cơ thể
sống, hay lên môi trường vật chất nói chung. Những
kết quả thu được mở đường cho những nghiên cứu ứng
dụng tia bức xạ trong nhiều lĩnh vực của đời sống
sau này.
Hiển nhiên, những kết quả nghiên cứu đặc sắc và
phong phú của ông bà Curie đã xác nhận và nâng kết
quả khảo sát ban đầu của Becquerel lên một tầm cao
mới, và qua đó, đưa cả ba người cùng đến với vòng
nguyệ quế: Giải thưởng Nobel Vật lý năm 1903. Riêng
phần ông bà Curie, ngoài tấm huy chương vàng, một
nửa số tiền thưởng là tấm bằng với dòng chữ: "ghi
nhận công lao phi thường mà họ (Piere và Marie)
cống hiến bằng những thành quả nghiên cứu về khái
niệm bức xạ đề xuất bởi giáo sư Henry Becquerel".
Dĩ nhiên, Giải Nobel làm rạng rỡ thêm cho các nhà
phát minh, Becquerel và ông bà Curie vốn đã nổi
tiếng. Nhưng, như nhiều tờ báo thời đó nhận xét,
chính sự nổi tiếng của họ đã tôn vinh giá trị của
bản thân giải thưởng Nobel trong buổi đầu của giải
đó.
Với ông bà Marie Curie, năm 1903 là một năm đầy
ắp hạnh phúc. Tháng 6: Marie bảo vệ xuất sắc luận
văn về đề tài "Nghiên cứu các chất có tính
phóng xạ" chỉ trong 6 phút và được hội đồng
nhất trí cấp cho bà học vị Tiến sĩ Vật lý. Tháng
11: Viện Hoàng gia Luân đôn tặng ông bà huy chương
khoa học cao nhất nước Anh - Huy chương Đêvi. Tháng
11: Giải thưởng Nobel. Đây là trường hợp đầu tiên,
trong lịch sử của giải này, một đôi vợ chồng cùng
nhận giải Nobel. Trong lịch sử của giải Nobel (kể
giải Nobel Hòa bình) chỉ có 4 trường hợp như vậy.
Câu chuyện mò kim đáy biển
Giai đoạn tiếp theo của ông bà Curie còn gian truân
gấp bội, đó là sự tách chiết từ quặng Urani xem
nguyên tố cụ thể nào trong đó phát ra tia phóng
xạ.
Tháng 7 năm 1898, ông bà Curie viết báo cáo: "
Chúng tôi tin tưởng rằng trong những chất tinh chiết
được từ quặng Urani có một nguyên tố kim loại chưa
hề biết. Chúng tôi đề nghị gọi nó là Pôlôni (tên
La tinh - Polonium, ký hiệu - Po) để ghi nhớ Tổ
quốc của một trong hai chúng tôi". Tổ quốc
đó là quê hương thân yêu Ba lan (Pologne) của Marie
Sklodowska Curie. Và tên nguyên tố Polonium có cùng
từ căn với tên nước Pologne. Ngoài ra, các đặc trưng
cơ bản của nguyên tố Polôni, như khối lượng nguyên
tử, tính chất vật lý, tính phóng xạ, vị trí trong
bảng tuần hoàn nguyên tố, cũng lần lượt được ông
bà xác định.
Tiếp theo, ngày 26 tháng 12 năm đó, ông bà lại
tuyên bố trong quặng Urani còn chứa một nguyên tố
phóng xạ thứ hai nữa chưa hề biết và đề nghị đặt
tên là Rađi (tên La tinh - Radium; ký hiệu - Ra).
Khả năng phóng xạ của Rađi đã được xác định mạnh
gấp Urani nguyên chất gần cả 1000 lần. Ngoài ra,
trong máy quang phổ đã tìm thấy một vạch phổ mới
chứng tỏ sự xuất hiện một nguyên tố mới trong mẫu
quặng. Với các nhà vật lý, bằng chứng về sự tồn
tại của Rađi như thế đã đủ tin cậy. Nhưng các nhà
hoá học đòi hỏi tường minh hơn: "phải đưa ra
đây một mẫu, dù nhỏ, cho chúng tôi xem coi!".
Đây là một đòi hỏi vô cùng khó khăn, gần như chuyện
"mò kim đáy biển". Vì hàm lượng Rađi trong
quặng Urani quá ít, chỉ chiếm một phần vạn (0,001%).
Việc thu được một lượng đủ để có thể nhìn thấy,
xác định được trong lượng nguyên tủ v.v...không
dễ dàng chút nào. Trước hết cần có 1 tấn quặng.
Lấy tiền đâu để mua 1 tấn quặng Urani? Cái khó ló
cái khôn, ông bà Curie nghĩ đến xỉ quặng phế thải
sau khi dùng trong công nghiệp tinh chế thuỷ tinh
Bôhem. Rồi may mắn lại đến, với sự nhiệt tình vận
động của đồng nghiệp, chính phủ Áo gửi tặng bà 1
tấn xỉ quặng Urani. Từ đó, suốt 4 năm ròng rã, mỗi
ngày xử lý từng 20 kilôgam quặng. Những bàn tay
trần mãnh mai chỉ quen cầm bút đã dầm dề trong dung
dịch quặng phóng xạ đến tươm máu. Và nguy hại hơn,
thời đó chưa có điều kiện để phòng vệ sự nhiễm xạ,
nên Marie đã tích chứa trong người những hiểm họa
bệnh máu trắng lúc cuối đời. Mãi đến tháng thứ 45,
ông bà mới tích cóp được trong ống thuỷ tinh nhỏ
bé một phần mười gam (hay 0,1 gam) tinh chất Rađi.
Ít ỏi thật, nhưng vô cùng quý giá, đủ để xác định
được khối lượng nguyên tử (226,45), màu sắc (sáng
bạc), nhiệt độ nóng chảy (700 độ C), độ phóng xạ
(mạnh hơn Urani nguyên chất, không chỉ ngàn lần
mà đến cả triệu lần).
Với các kết quả đó, hẳn chẳng còn lý do nào nữa
để ngăn cản việc công nhận ông bà Curie là các nhà
phát minh nguyên tố mới thứ hai, nguyên tố phóng
xạ, nguyên tố Rađi.
Người đàn bà với "cú đúp" hai
giải Nobel
Trải qua gian nan thử thách đầy khắc nghiệt, bằng
tài năng xuất chúng và lao động quên mình, ông bà
Curie đã góp vào kho tàng tri thức nhân loại cùng
một lúc hai phát minh quan trọng. Một là, phát hiện
được hai nguyên tố mới, điều này đồng nghĩa với
hai ô còn trống trong bảng tuần hoàn các nguyên
tố giờ đã được lấp đầy. Hai là, đưa ra bằng chứng
rằng trong trái đất, bên cạnh những nguyên tố hóa
học bền vững, còn có cả những nguyên tố (hay đồng
vị) không bền, chỉ sống trong một thời gian hữu
hạn, tức là chứng minh sự tồn tại của các hạt nhân
phóng xạ tự nhiên.
Sự nghiệp khoa học và cuộc đời của đôi vợ chồng
khoa học nổi tiếng nhất trong lịch sử đang độ thăng
hoa, một tai nạn giao thông tức tưởi lấy đi mạng
sống của Pierre Curie (1906). Góa bụa ở tuổi 40,
Marie Curie đã cố gượng dậy, một mình tiếp nối sự
nghiệp hai người còn dang dở. Vừa thay chồng giữ
chức Trưởng phòng thí nghiệm vật lý ở Đại học Sorbonne
danh tiếng, bà lại được chọn vào ghế Giáo sư Vật
lý Đại cương mà chồng để trống ở trường này. Rồi
kiêm luôn chức Giám đốc phòng thí nghiệm mang tên
Curie ở Viện Radium Paris.
Dù bận rộn như vậy, Marie Curie vẫn không tách
rời phòng thí nghiệm. Sau phát minh nguyên tố Ra,
bà tìm ra được một phương pháp khác thu được một
lượng đáng kể Radium tinh khiết, tức là kim loại
Radium. Khó ai ngờ phát minh này ảnh hưởng đến số
phận hàng triệu con người trên thế giới một cách
rộng lớn và nhanh chóng đến vậy. Trong một thời
gian ngắn, nguyên tố Ra đã trở thành phương tiện
hữu hiệu trong việc chữa các khối u và kéo dài đời
sống người bệnh. Từ đó, một ngành y học mới, y học
hạt nhân, ra đời.
Và việc gì phải đến ắt đến. Tám năm sau khi nhận
giải Nobel Vật Lý (1903), một giải thứ hai đã được
trân trọng trao tặng riêng cho Marie Curie (1911).
Lần này là giải Nobel Hoá Học. Một huy chương vàng,
toàn bộ tiền thưởng và tấm bằng khen"ghi nhận
công lao (bà) đóng góp cho sự phát triển Hoá Học,
do phát minh các nguyên tố mới Radium và Polonium;
do xác định các tính chất của Radium và tách thành
công Radium ở dạng kim loại nguyên chất ...".
Như vậy, ngoài danh hiệu Người phụ nữ đầu tiên
giành được giải Nobel, Marie Curie là 1 trong trong
4 người, trong lịch sử, được trao giải hai lần.
Nhưng, đặc biệt, bà lập kỷ lục Người phụ nữ nhận
"cú đúp" giải Nobel. Kỷ lục đó, đến nay,
ngót 100 năm qua, vẫn chưa ai vượt qua, mặc dù đã
có 33 người phụ nữ trong tổng số 763 người được
trao giải.
Tài năng và vinh quang đã ở tận đỉnh cao, song
điều cao quý ở người phụ nữ này là không lùi bước
trước khó khăn nghèo khổ, không chấp nhận một cuộc
sống an nhàn giàu sang, vẫn miệt mài tìm lẽ sống
đời mình trong lao động sáng tạo, tiếp tục dấn thân
vào con đường phụng sự đồng loại, giúp đỡ đồng bào
mình. Với sự tham gia tích cực của Marie Curie,
từ một Viện Radium mẹ ở Paris , một loạt viện nghiên
cứu và bệnh viện mang tên Radium khác lần lượt mọc
lên ở nhiều nước, ở những miền đất nghèo xa xôi
của thế giới. Viện Radium ở Hà Nội, nằm trên phố
Quán sứ, tiền thân Bệnh viện K bây giờ, đã ra đời
đúng vào thời đó, năm 1923. Chữ ký của chính Marie
Curie vẫn lưu lại trong các chứng chỉ sử dụng kèm
theo những chiếc kim phóng xạ Rađi từ Paris gửi
sang để điều trị những bệnh nhân ung thư. Và năm
1923 có thể được xem như một mốc thời gian quan
trọng đáng ghi nhớ trong lich sử ứng dụng thành
tựu của năng lượng nguyên tử ở Việt Nam.
Riêng với tổ quốc Ba lan mà bà phải ly hương từ
trẻ và luôn khắc khoải nhớ thương, Marie Curie đã
đưa ra lời hiệu triệu quyên góp xây một Viện Nghiên
cứu Radium khang trang cho thủ đô Varsava. Sau đó,
bà trở về quê hương cùng Tổng thống Ba lan đặt viên
gạch khởi công xây dựng viện này (1925). Chưa có
nguồn phóng xạ? Bà lại kêu gọi sự quyên góp của
đông đảo người hâm mộ Mỹ. Rồi lại thân chinh vượt
trùng dương (1929) qua Mỹ nhận tận từ tay tổng thống
Hoover tấm ngân phiếu 50 ngàn đôla đủ cho 1gam Rađi.
Đây là lần thứ hai, vì trước đó (1921), bà cũng
đã qua Mỹ, được Tổng thống Harding thay mặt cho
phụ nữ Mỹ tặng 1 gam Rađi để bà nghiên cứu và mở
rộng phạm vi chữa bệnh cứu người.
Nguyện vọng cao cả của nhà khoa học luôn đau đáu
với nỗi đau của đồng loại, của nhà ái quốc suốt
đời mang trong con tim nỗi u hoài với quê hương,
đã được toại nguyện.
Tài năng xuất chúng và nhân cách sáng ngời như
thế, bà xứng đáng được tôn vinh: nhà khoa học nữ
vĩ đại nhất thế kỷ 20.
Gia đình huyền thoại (phần II)
Sự kiện này, theo tôn chỉ của giải Nobel, phản
ảnh rõ rệt sự tỏa sáng của nhiều ý tưởng siêu việt
nhất, sự cống hiến lớn lao nhất của một gia đình
cho sự phát triển của nền văn minh nhân loại, cho
hạnh phúc con người. Pierre Curie và Marie Curie,
Irène Curie và Frederic Joliot Curie, những tên
tuổi ấy đã rực sáng trong những thập kỷ đầu của
thế kỷ 20, giai đoạn được xem như buổi bình minh
của thời đại hạt nhân nguyên tử ngày nay. Họ đã
tạo ra những viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho
sự ra đời những ngành khoa học mới hết sức quan
trọng, vừa mang tính khoa học sâu sắc, vừa có tính
ứng dụng rộng rãi trong nhiều mặt của đời sống.
PHẦN II: SỰ TIẾP NỐI CỦA TÀI NĂNG VÀ NHÂN CÁCH
Nếu vinh quang lớn nhất trong thiên chức Ngýời
Mẹ là sinh thành, giáo dưỡng con cái, tiếp tục và
nâng nghiệp nhà lên tầm cao mới, bà Marie Curie
là một Người Mẹ như vậy. Con gái Irène Joliot Curie
và con rể Frederic Joliot Curie đã tiếp nối xuất
sắc tài năng, nhân cách và sự nghiệp của thế hệ
trước, bằng những phát minh tầm cỡ, những hoạt động
xã hội vô cùng phong phú.
Giải Nobel mới, cống hiến mới, thế hệ mới
Phát minh khoa học đầu tiên và để lại dấu ấn sâu
xa nhất của Frederic và Irène Joliot Curie là tạo
thành các đồng vị phóng xạ không có trong tự nhiên.
Joliot và Irène đã tiến hành một loạt thí nghiệm
với những ý týởng độc đáo và mới mẻ: dùng chùm hạt
ion Hêli của máy gia tốc bắn vào những tấm bia làm
bằng những chất như Boron (Bo), Nhôm (Al) và Manhê
(Mg). Các nhà khoa học của thế hệ tiếp nối này đã
tạo ra các đồng vị phóng xạ chưa hề biết, đó là
Nitõ (N-13), Phôtpho (P-30) và Nhôm (Al-28).
Nhý vậy, với phát minh của Joliot và Irène, lần
đầu tiên con ngýời đã chế tạo ra được những nguyên
tử hay đồng vị nhân tạo. Phát minh đó tạo tiền đề
chế tạo nhiều đồng vị phóng xạ nhân tạo khác nhau,
thậm chí có thể chế ra được cả vàng bạc như mơ ước
của các nhà luyện đan cổ xýa. Nhiều đồng vị phóng
xạ nhân tạo thích hợp có thể đóng vai trò những
"thám tử" theo dõi và điều khiển các qui
trình công nghệ, tìm hiểu sự trao đổi chất trong
cơ thể sống của động thực vật v.v....
Vậy là, tài năng nối tiếp tài năng, sau khi bố
mẹ phát hiện ra các nguyên tố phóng xạ tự nhiên,
con cái nhà Curie lại chế tạo được các đồng vị phóng
xạ nhân tạo. Hai thế hệ nhà Curie quả đã "tung
hoành" suốt ba thập kỷ, khám phá hầu hết những
hiện tượng mới, khái niệm mới và rất căn bản, mở
ra nhiều bí ẩn trong thế giới vật chất, phát hiện
những hiện tượng và quy luật tự nhiên kỳ thú với
những những khái niệm trước đó chýa hề biết, như:
tia bức xạ, sự phóng xạ, phóng xạ tự nhiên và phóng
xạ nhân tạo, phản ứng hạt nhân v.v...Họ giải quyết
khá hài hoà trọn vẹn những câu hỏi hấp dẫn nhất
để bước vào kỷ nguyên khai thác năng lượng hạt nhân
nguyên tử.
Điều đặc biệt là những phát minh của cả gia đình
Curie, từ Pierre và Marie đến Frederic và Irène,
về tia phóng xạ và chất phóng xạ, đã mở đường cho
sự ra đời của các hướng mới về khoa học ứng dụng.
Ngoài y học phóng xạ là công nghệ chiếu xạ, nông
sinh học phóng xạ, an toàn bức xạ v.v... Cùng với
điện nguyên tử, những ứng dụng kỹ thuật hạt nhân
đó có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế,
ảnh hưởng đến số phận của bao con người. Chúng thiết
thực và phổ cập đến mức, ngày nay có thể nhìn thấy
được ở nhiều nõi quanh chúng ta. Một phòng khám
chữa bệnh hiểm nghèo với những những chiếc kim Radium
và nguồn phóng xạ Côban. Giàn khoan dầu khí với
máy thăm dò karôta phóng xạ. Trạm kiểm tra chất
lượng công trình bằng thiết bị kiểm tra không hủy
thể dùng tia bức xạ gamma. Phòng thí nghiệm lai
tạo giống mới dùng nguồn phóng xạ để gây đột biến.
Một hệ tự động điều khiển dây chuyền sản xuất sử
dụng tia bêta hoặc gamma. Một phòng nghiên cứu sinh
học phóng xạ phục vụ nhu cầu tăng năng suất vật
nuôi và cây trồng, v.v...
Tiếp nối con đường của bậc sinh thành, hai nhà
khoa học, đôi vợ chồng danh tiếng Frederic Joliot
và Irène Joliot Curie thật xứng danh "hổ phụ
sinh hổ tử". Cống hiến cho nhân loại một phát
minh lớn lao, "Sự tạo thành các nguyên tố phóng
xạ mới (chất phóng xạ nhân tạo)", họ xứng đáng
được tôn vinh cao nhất về mặt khoa học, xứng đáng
với giải Nobel về Hoá Học của năm 1935.
Như vậy, trong lịch sử giải Nobel có 4 đôi vợ chồng
cùng được giải Nobel, gia đình Curie đã chiếm 2
suất. Riêng Frederic Joliot Curie còn là nhà Nobel
trẻ nhất trong lịch sử giải Nobel Hóa học, ở tuổi
35.
Hai nhà khoa học, hai chiến sĩ, một cuộc
đời chung
Frederic và Irène Joliot Curie, dù tính cách và
xuất thân khác nhau; người khuê các lặng lẽ và người
sôi nổi hoạt bát, người sinh ra trong chiếc nôi
trí tuệ danh giá và người tự thân vươn lên, nhưng
hai con người cân sắc cân tài này suốt đời gắn khắng
khít với nhau, bổ sung cho nhau và tạo nên một đôi
bạn đời tài ba vẹn toàn, hai ngýời đồng nghiệp luôn
có nhau trong mỗi thành công về khoa học, hai người
đồng chí trên mọi hoạt động xã hội, chính trị với
nhân cách cao cả và bầu nhiệt huyết sục sôi.
Cùng gắn bó với công cuộc đào tạo đại học, Giáo
sư Frederic Joliot Curie của Đại học Paris từng
chỉ huy xây dựng những máy gia tốc mới nhất châu
Âu, trong lúc nữ giáo sư Irène Joliot Curie ở Đại
học Orsay lại hướng dẫn xây dựng Phòng Thí nghiệm
Vật lý, nay vẫn nổi tiếng là chiếc nôi đào tạo tài
năng.
Cùng say sưa với nghiệp nghiên cứu khoa học, tấm
bằng phát minh đồng vị phóng xạ nhân tạo và giải
Nobel hóa học 1935 là kết quả tuyệt vời của sự kết
hợp giữa hai nhà khoa học lớn này.
Không dừng ở đó, Irène tiếp tục sát cánh Frederic,
độc lập với nhiều nhóm khoa học nổi tiếng cùng thời,
như Fermi ở Rome, Hahn ở Berlin v.v..., lập lại
thí nghiệm về phản ứng hạt nhân của mình. Tất cả
họ cùng bất ngờ tạo ra được phản ứng phân hạch hạt
nhân. Tức là phản ứng phá vỡ hạt nhân Uranium thành
hai mãnh, bằng chùm "đạn" nơtron, và điều
đặc biệt - một năng lượng lớn được giải phóng. Sự
kiện này đã mở ra cuộc cách mạng về năng lượng trong
thế kỷ 20 với sự ra đời của ngành điện hạt nhân
nguyên tử, đồng thời dẫn đến một bước đột biến về
tổng quan quân sự trên thế giới với sự xuất hiện
của loại vũ khí hủy diệt kinh khủng mới.
Dựa vào kết quả đó, bản thân Frederic Joliot Curie,
tháng 10/1939 đã thiết kế về nguyên tắc một lò phản
ứng hạt nhân. Nhưng Thế chiến II đã nổ ra. Bên kia
Đại Tây dương, trong sân bóng của Đại học Columbia
(Mỹ), Fermi và các đồng sự được yên bình xây một
lò phản ứng. Bên này, ngược lại, bản thiết kế cùng
hoài bão của Joliot được dán kín trong phong bì,
nằm im trong hồ sõ tối mật của Viện Hàn lâm Khoa
học Pháp. Tác giả của nó cũng từ giã phòng thí nghiệm
bước vào cuộc kháng chiến cứu nước, sẵn sàng nhận
bất kỳ công việc nào. Khi thì trong vai một người
"giữ kho" luôn mang bên mình những tài
liệu bí mật quan trọng và những bình nước nặng quý
giá để khỏi rõi vào tay quân đội Đức. Lúc khác lại
như một kỹ sư quân giới, tham gia chế tạo thuốc
nổ. Ông còn được giao nhiệm vụ là Tư lệnh quân đoàn
hay Chủ tịch của tổ chức kháng chiến "Mặt trận
Quốc gia".
Mãi ngót 10 năm sau, khi chiến tranh kết thúc,
ước mơ của Frederic Joliot Curie mới trở thành hiện
thực. Lò phản ứng đầu tiên của nước Pháp được xây
dựng (1948) theo thiết kế và chỉ đạo trực tiếp của
ông.
Nước Pháp từng giành cho cả hai nhà khoa học xuất
sắc sự tin cậy rất cao. Bà được trao chức bộ trưởng
phụ trách khoa học trong chính phủ bình dân (1936)
và là người đầu tiên thành lập Trung Tâm Nghiên
Cứu Khoa Học Quốc Gia (CNRS) của nước Pháp. Ông
được giao (1945) tổ chức Ủy ban Năng lượng Nguyên
tử (CEA) và trực tiếp điều hành nó trong chức vụ
Cao uỷ đầu tiên với hàm Bộ trưởng, còn bà là một
thành viên của ban lãnh đạo CEA này. Đối lại, Frederic
kiêm luôn Giám đốc trung tâm nghiên cứu lớn nhất
nước Pháp CNRS do vợ mình đã gây dựng khi còn là
bộ trưởng khoa học.
Rồi bi kịch đến với ông bà Joliot Curie. Bi kịch
cá nhân này cũng là bi kịch chung của lịch sử thế
giới trong thế kỷ 20. Cả hai người cùng bất ngờ,
lần lượt rời cơ quan quan trọng CEA (1950) với quyết
định miễn nhiệm không nêu lý do. Dĩ nhiên ai cũng
hiểu, trong thời kỳ chiến tranh lạnh ấy ông bà không
thể tiếp tục sứ mệnh khi họ là những người cộng
sản, đã tham gia hàng ngũ kháng chiến chống phát
xít do đảng CS Pháp lãnh đạo. Đặc biệt, vào giai
đoạn đó CEA có nhiệm vụ đặc biệt hệ trọng chế tạo
vũ khí hạt nhân, còn hai nhà khoa học này lại có
quan điểm chống chiến tranh, tham gia phong trào
hoà bình.
Và thực sự họ, ngay sau đó, họ đã tích cực tham
gia lãnh đạo Phong trào Hoà bình Thế giới với cương
vị Chủ tịch (ông Joliot Curie) hoặc uỷ viên (bà
Joliot Curie) của hội đồng lãnh đạo.
Trong khoa học, hai người đã kết hợp tài năng xuất
sắc tạo thành sự nghiệp lớn. Trước bước ngoặc mới
của cuộc đời, hai con người với nhân cách cao cả
này lại sát cánh bên nhau vì một lý tưởng lớn, đấu
tranh cho hòa bình và tiến bộ của nhân loại. Họ
cùng xông pha, dâng hiến, nhý những chiến sĩ ngoài
tiền tuyến trong thời chiến tranh cứu nước, cho
đến cuối đời.
Ngày nay, nước Pháp; một cường quốc hạt nhân với
80% điện năng là điện nguyên tử, hẳn luôn ghi công
xứng đáng hai nhà bác học hạt nhân, Frederic Joliot
Curie và Irène Joliot Curie, tác giả chính của lò
phản ứng hạt nhân đầu tiên của nước Pháp, những
người khai quốc công thần của ngành năng lượng nguyên
tử Pháp. Họ là niềm tự hào của nước Pháp.
Lời kết

Từ trái sang phải: Eve Curie, Marie Curie, Irène
Curie và một người bạn của gia đình
Thật là không đầy đủ nếu quên rằng, gia đình Curie
còn có một thành viên nữa cũng được trao tặng giải
thưởng Nobel. Đó là người con rể, một nhà ngoại
giao người Mỹ tên là H.R.Labouisse, chồng của thứ
nữ Eve Curie của ông bà Pierre. Ông có những đóng
góp xuất sắc cho con người trong cưõng vị Giám đốc
Quỷ Trẻ em của Liên Hiệp Quốc. Giải Nobel Hoà bình
đã trao cho ông ở Oslo (Na uy) năm 1965. Eva Curie
không đi theo con đường khoa học cùng bố mẹ và anh
chị, nhưng nàng yêu quý họ, theo dõi họ. Là nhà
văn tên tuổi, bà viết ca ngợi sự nghiệp của họ;
đặc biệt người Mẹ vĩ đại của mình qua cuốn sách
nổi tiếng Marie Curie. Với sự nghiệp của người con
rể Labouise, lại một kỷ lục nữa cho nhà Curie: Năm
thành viên trong một gia đình cùng đýợc giải Nobel
vinh danh.
Năm cá nhân, Hai đôi vợ chồng, Một phụ nữ nhận
"cú đúp” hai giải Nobel v.v.. Chưa có một gia
đình nào như gia đình Curie giữ nhiều kỷ lục về
giải Nobel danh giá đến vậy. Sự hội tụ những đỉnh
cao trí tuệ ấy trong một gia đình Curie thật là
điều kỳ lạ. Kỳ lạ như là một huyền thoại của thế
kỷ 20 vậy.
Trần Thanh Minh(VietNamNet)

|