| ĐỊA
LÝ

Di
tích - Danh thắng
Ninh Bình: Danh thắng Tràng
An
Ga
Ninh Bình
Dương
Vân Nga :Từ chính sử đến truyền thuyết
Kết quả khai quật mộ cổ
ở Ninh Bình
Từ khảo cổ đến chủng
tộc và bản sắc Việt
Kinh đô Hoa Lư thủ đô của nước Đại Cồ Việt
Xem "trận đồ bát quái" hang động vừa phát
lộ cạnh cố đô Hoa Lư
Kinh đô cổ nước Việt: Hoa Lư
NINH
BÌNH
(Mã vùng 84 - 30)

Diện tích: 1 382 km2
Dân số (2002): 894 300 người
Tỉnh lỵ: Thị xã Ninh Bình
Các huyện: Thị xã Tam Điệp; huyện: Nho Quan, Gia
Viễn, Hoa Lư, Yên Mô, Yên Khánh, Kim Sơn.
Dân tộc: Việt (Kinh), Mường, Thái, Tày
Khí hậu của tỉnh thuộc vùng tiểu khí hậu của đồng
bằng sông Hồng. Nhiệt độ trung bình năm là 23,40C.
Thời tiết trong năm chia làm 2 mùa rõ rệt; mùa khô
và mùa mưa.
Ninh Bình là tỉnh ở phía nam của vùng đồng bằng
Bắc bộ, nơi tiếp giáp và ngăn cách miền Bắc với
miền Trung bởi dãy núi Tam Điệp hùng vĩ. Phía bắc
và đông bắc giáp tỉnh Hoà Bình và Hà Nam, phía nam
giáp tỉnh Thanh Hoá và biển Đông, phía đông giáp
tỉnh Nam Định, phía tây giáp Thanh Hóa.
Địa hình phân bố
khá phức tạp. Vùng đồi núi, vùng nửa đồi núi phân
bố rải rác theo các vùng đồng bằng xen kẽ, Ninh
Bình có 18 km bờ biển. Giao thông đường bộ, đường
sắt, đường thủy đều thuận lợi.
Về kinh tế, Ninh
Bình có đủ điều kiện phát triển một nền nông nghiệp
đa dạng, có thế mạnh về trồng các loại cây công
nghiệp, cây ăn quả, trồng rừng, chăn nuôi các loại
gia súc.
Ninh Bình là một
tỉnh giàu tiềm năng về du lịch. Thiên nhiên đã ban
tặng cho vùng đất này nhiều danh lam thắng cảnh
kỳ thú, nhiều hang động nổi tiếng như Tam Cốc -
Bích Động, Địch Lộng, động Tiên, động Hoa Sơn...
Vườn quốc gia Cúc Phương nổi tiếng với hệ động thực
vật phong phú đặc biệt là cây chò 1.000 năm tuổi.
Mảnh đất này từ xa xưa đã từng là kinh đô của nước
Đại Cồ Việt (tên của Việt Nam xưa) từ năm 968 đến
1010. Vì vậy, vùng đất này có rất nhiều di tích
lịch sử như cố đô Hoa Lư, quần thể nhà thờ đá Phát
Diệm, chùa Non Nước... Tất cả những di tích và danh
lam thắng cảnh này đã trở
Cố
đô Hoa Lư
Hoa
Lư là kinh đô của nước Ðại Cồ Việt (tên xa xưa của
nước Việt Nam) có cách đây gần 10 thế kỷ thuộc xã
Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, cách thủ
đô Hà Nội gần 100 km về phía Nam.
Cố đô Hoa Lư trước
đây rộng khoảng 300 ha được bao quanh bởi hàng loạt
núi đá vòng cung, cảnh quan hùng vĩ. Khoảng trống
giữa các sườn núi được xây kín bằng đất ken gạch,
chân thành có gạch bó, đắp cao từ 8-10 mét. Kinh
đô Hoa Lư bao gồm Thành Ngoại, Thành Nội và Thành
Nam.
Thành Ngoại rộng
khoảng 140 ha thuộc địa phận thôn Yên Thành xã Trường
Yên. Ðây là cung điện chính mà khu vực đền Ðinh,
đền Lê là Trung tâm và cũng chính là nơi vua Ðinh
Tiên Hoàng cắm cờ nước. Trước cung điện có núi Mã
Yên tương truyền vua Ðinh lấy núi làm án.
Thành
Nội thuộc thôn Chi Phong, xã Trường Yên có tên là
Thư Nhi xã, nơi nuôi trẻ em và những người giúp
việc trong cung đình.
Thành Nam (thành
ở phía Nam, từ hang luồn trở vào trong, nằm đối
diện và nối liền với khu Thành Ngoại). ở đây xung
quanh có núi cao bao bọc, án ngữ phía Nam kinh thành,
bảo vệ mặt sau, từ đây bằng đường thuỷ có thể nhanh
chóng rút ra ngoài.
Phía Ðông kinh thành
có núi Cột cờ, nơi có lá quốc kỳ Ðại Cồ Việt, có
ghềnh tháp - nơi vua Ðinh duyệt thuỷ quân, hang
Tiền nơi lưu giữ tài sản quốc gia, động Thiên Tôn
- tiền đồn của Hoa Lư và là hang nhốt hổ, báo để
xử kẻ có tội.
Ðến đời Lê Hoàn đã
cho xây thêm nhiều cung điện lộng lẫy: điện Bách
Thảo Thiên Tuế, điện Phong Lưu ở phía Ðông, điện
Vinh Hoa ở phía Tây, điện Bồng Lai bên tả, điện
Cực Lạc bên hữu, lầu Hoả Vân và điện Trường Xuân,
điện Long Lộc được lợp ngói làm bằng bạc.
Trải qua mưa nắng
hơn 10 thế kỷ, các di tích lịch sử ở cố đô Hoa Lư
hầu như bị tàn phá, đổ nát. Hiện nay chỉ còn lại
đền vua Ðinh và đền vua Lê được xây dựng vào thế
kỷ XVII.
Ðền vua Ðinh được
xây theo kiểu "Nội công ngoại quốc" gồm
3 toà: Bái đường, Thiên Hương- nơi thờ tứ trụ triều
đình của nhà Ðinh, Chính Cung-thờ vua Ðinh (ở giữa)
bên trái là tượng Nam Việt Vương Ðinh Liễn (con
trai cả vua Ðinh), bên phải là tượng Ðinh Toàn và
Ðinh Hạng Lang (con thứ vua Ðinh).
Cách đền vua Ðinh
500 mét là đền vua Lê, thờ Lê Ðại Hành (còn gọi
là Lê Hoàn). Ðền Lê qui mô nhỏ hơn nhưng cũng có
ba toà: Bái Ðường, Thiên Hương- thờ Phạm Cự Lương
người đã có công đưa Lê Hoàn lên ngôi, Chính Cung-
thờ Lê Hoàn (ở giữa), bên phải là Lê Ngọa Triều
(con trai vua Lê), bên trái là Hoàng Hậu Dương Vân
Nga.
Ở trên đỉnh núi Mã
Yên Sơn hiện có lăng mộ của vua Ðinh và vua Lê.
Tam
Cốc - Bích Động

Tam Cốc - Bích Ðộng, Hoa Lư, Ninh Bình
Ðộng nằm trong dãy
núi Ngũ Nhạc Sơn thuộc địa phận thôn Ðam Khê, xã
Ninh Hải, huyện Hoa Lư. Năm 1773, cụ Nguyễn Nghiễm
(thân sinh của đại thi hào Nguyễn Du) đã đến thăm
động. Nhìn toàn cảnh núi, động, sông nước, đồng
ruộng, bầu trời ở đây đều phủ một màu xanh ngợp
mắt nên cụ đã đặt cho động một cái tên rất đẹp và
mộng mơ "Bích Ðộng" (có nghĩa là Ðộng
Xanh). Ðến đây du khách sau khi viếng thăm chùa,
con thuyền nhỏ sẽ đưa du khách đi quanh co trong
hang núi huyền ảo. Bích Ðộng đã được mệnh danh là
"Nam Thiên đệ nhị động" (động đẹp thứ
nhì ở trời Nam).
Từ Bích Ðộng du khách
tiếp tục ngồi thuyền đi thăm Tam Cốc. Tam Cốc nghĩa
là ba hang: hang Cả, hang Hai và hang Ba. Lúc thuyền
luồn vào ba hang, du khách sẽ cảm thấy mát lạnh.
Thạch nhũ từ trần hang rủ xuống lô nhô óng ánh như
những khối châu ngọc kỳ ảo.
Đền
Đinh Lê
(Ninh Bình)
Ðền vua Ðinh
Ðền
toạ lạc ở làng Trường Yên Thượng, xã Trường Yên,
huyện Hoa Lư trên khuôn viên rộng 5 ha. Ðền được
xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ 17, theo kiểu "nội
công ngoại quốc". Lớp ngoài là Ngọ môn quan
(cổng ngoài) có 3 gian lợp ngói. Qua một sân ngắn
vào đến lớp thứ hai là đến Nghi môn (cổng trong)
3 gian dựng bằng gỗ lim kiến trúc theo 3 hàng chân
cột. Bốn góc ngoài của Nghi môn nội có xây bốn cột
trụ cao. Ði hết chính đạo, qua hai cột trụ lớn là
đến sân rồng. Giữa sân rồng có một long sàng bằng
đá xung quanh chạm nổi, dài 1,8 m, rộng 1,4 m. Hai
bên sập rồng có 2 con nghê đá chầu, được tạc trên
hai tảng đá xanh nguyên khối đẹp.
Từ sân rồng bước
lên là Bái đường 5 gian, kiến trúc độc đáo. Tiếp
đến là Thiêu hương, kiến trúc theo kiểu ống muống,
nơi thờ tứ trụ triều đình nhà Ðinh. Ði hết toà Thiêu
hương du khách bước vào chính cung 5 gian. Gian
giữa thờ tượng vua Ðinh được đúc bằng đồng đặt trên
bệ thờ bằng đá xanh nguyên khối. Hai bên bệ đá có
hai con rồng chầu bằng đá, tạc theo kiểu yên ngựa.
Gian bên phải thờ tượng Ðinh Phụng Lang (ngoài),
Ðinh Ðế Toàn (trong) đều quay mặt về phía bắc, là
hai con thứ của vua Ðinh Tiên Hoàng. Gian bên trái
thờ tượng Ðinh Liễn quay mặt về phía nam là con
trưởng của vua Ðinh Tiên Hoàng.
Ðền Ðinh Tiên Hoàng
là một kiến trúc độc đáo trong nghệ thuật chạm khắc
gỗ và đá của các nghệ sĩ dân gian Việt Nam ở thế
kỷ 17 - 19. Ðền vua Ðinh nằm giữa các tán cây đại
thụ, các vườn cây ăn quả, cây cảnh đan xen nhau
càng tạo nên vẻ bề thế, hoành tráng tôn nghiêm của
ngôi đền.
Ðền
vua Lê Ðại Hành
Cách
đền vua Ðinh chừng 500 m là đến đền thờ vua Lê Ðại
Hành. Ðền nằm ở làng Trường Yên Hạ nên còn gọi là
đền Hạ. Ðền soi bóng xuống mặt nhánh sông Hoàng
Long. Trước mặt đền là núi Ðèn, sau lưng là núi
Ðìa. Ðền cũng được xây theo kiểu "nội công
ngoại quốc" nhưng qui mô nhỏ hơn đền vua Ðinh.
Qua Nghi môn ngoại (cửa ngoài) theo đường chính
đạo lát gạch, phía bên trái là một hòn non bộ lớn,
cao 3 m tượng hình chim phượng múa, mỏ quay vào
đền, hai cánh như đang bay. Bên tay phải là nhà
Tiền bái, ở mặt tiền có hòn non bộ "Hổ phục"
gồm gốc cây duối thân to có 9 núi, tuổi thọ trên
300 năm. Bên trái nhà Tiền bái có hòn non bộ có
dáng "voi quỳ" được khắc hai chữ Hán "Bất
di".
Theo đường chính
đạo bên phải còn có hồ nước rộng. Qua Nghi môn nội
(cửa trong) cũng 3 gian, theo chính đạo kiến trúc
đăng đối là hai vườn hoa, tiếp đó là hai dãy nhà
vọng. ở giữa vườn hoa bên phải có hai non bộ "Phượng
ấp", bên trái là hòn non bộ "Long Mã".
ở sân rồng gần gian
giữa của Bái đường cũng có long sàng bằng đá. Ðền
cũng có ba toà: toà ngoài là Bái đường, toà giữa
là Thiêu hương thờ Phạm Cự Lượng, người có công
với vua Lê Ðại Hành đặt ở chính giữa. Bên phải là
tượng Lê Ngọa Triều tức Lê Long Ðĩnh (con thứ 5
của vua Lê Ðại Hành). Bên trái là tượng hoàng hậu
Dương Vân Nga.
Ðiều đặc biệt ở đền
thờ vua Lê Ðại Hành là nghệ thuật chạm khắc gỗ ở
thế kỷ 17 đã đạt đến trình độ điêu luyện, tinh xảo.
Ðền được xây dựng để tỏ lòng biết ơn của nhân dân
đối với hai ông vua đã có công lớn lao trong việc
xây dựng đất nước vào thế kỷ thứ 10.
Rừng
Cúc Phương
Ðến Cúc Phương đẹp
nhất vào mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4, khi đã
qua đi những cơn mưa rừng dữ dội. Rừng nguyên sinh
Cúc Phương nằm sát vùng đồng bằng Bắc bộ, nhất là
nằm trên tuyến đường du lịch với những điểm du lịch
hấp dẫn như Bích Ðộng, cố đô Hoa Lư, bãi biển Sầm
Sơn... nên thuận lợi đối với khách du lịch trong
và ngoài nước.
Tuy nằm ở rìa đồng
bằng nhưng do địa hình núi đá vôi khá hiểm trở nên
rừng Cúc Phương mới được phát hiện vào năm 1960.
Ðến 1966, Cúc Phương chính thức trở thành vườn quốc
gia đầu tiên của Việt Nam.
Vườn quốc gia Cúc
Phương được bao bọc bởi các núi đá vôi có độ cao
trung bình 300 - 400m. Ðỉnh núi cao nhất là đỉnh
Mây Bạc, cao 656m. Ðến Cúc Phương, bạn được ngắm
một khung cảnh thiên nhiên kỳ bí, hùng vĩ giữa rừng
bướm rập rờn, tận mắt chứng kiến nhiều loại cây
hàng ngàn năm tuổi như chò, chò chỉ, sấu... và những
loài động vật quý hiếm như voọc quần trắng, sóc
bay cùng với những đàn hươu sao, nai đã thuần dưỡng...
Ðộng thực vật rừng Cúc Phương rất phong phú. Hệ
thực vật có gần 2.000 loài khác nhau, rừng đã phát
triển đến giai đoạn cực đỉnh với cấu trúc 5 tầng.
Chỉ riêng loài động vật có xương sống đã có tới
450 loài, chiếm 38% số loài động vật trong cả nước.
Chính vì địa hình
núi đá vôi nên rừng Cúc Phương có nhiều hang động
đặc thù. Ðộng Trăng Khuyết, động Con Moong, động
Phò Mã, động Người Xưa... mỗi động có vẻ đẹp kỳ
thú riêng. Hãy tới Quèn Voi, tương truyền đây là
nơi xưa kia quân của người anh hùng áo vải Nguyễn
Huệ đã tập kết trước khi thần tốc tiến về Thăng
Long đại phá quân Thanh mùa xuân 1789.
Các chương trình
môi trường toàn cầu, chương trình phát triển của
Liên Hiệp quốc, tổ chức quốc tế về khu hệ thực vật
FFI... đã từng nghiên cứu về nét nguyên sinh điển
hình của rừng nhiệt đới mưa ẩm gió mùa Đông Nam
Á tại rừng Cúc Phương.
Lễ
hội Trường Yên
Hội
Trường Yên diễn ra hàng năm vào ngày 10/3 âm lịch
ngay trên mảnh đất Cố đô Hoa Lư của nước Ðại Cồ
Việt xa xưa để tưởng niệm công đức của vua Ðinh
và vua Lê.
Từ Hà Nội theo quốc
lộ 1A đến ki lô mét 87 thì rẽ phải, đi khoảng 8
km nữa là tới Trường Yên có khu di tích Hoa Lư nổi
tiếng. Hội thường kéo dài 3 ngày. Hội chính mở vào
ngày 10/3. Mở đầu là lễ Rước nước, khởi hành từ
đền vua Ðinh có cờ, quạt, lọng, phường bát âm, rồi
đến kiệu Long Ðình trên có đặt một cái ché để đựng
nước Thánh đến bên sông Hoàng Long thì dừng lại
lấy nước vào ché đem về đền. Lễ tế được tiến hành
vào ban đêm ở cả đền vua Ðinh và vua Lê với nội
dung ca ngợi công đức của hai vị vua, sau đó khách
hành hương vào thắp hương tưởng niệm và tri ân ngưỡng
tượng thờ, các công trình điêu khắc và kiến trúc
xưa.
Phần hội có nhiều
trò trong đó có trò cờ lau tập trận nhằm diễn tả
lại những buổi tập dượt, rèn luyện của người anh
hùng Ðinh Bộ Lĩnh tuổi niên thiếu và trò chơi kéo
chữ.
Trảy hội Trường Yên
chính là cuộc hành hương thăm lại Cố đô xưa của
một vương triều cũng là dịp để khách chiêm ngưỡng
các công trình kiến trúc, những nét đẹp kỳ thú của
toàn bộ khu di tích lịch sử Cố đô Hoa Lư.
Di
tích - Danh thắng
Kết quả khai quật mộ cổ
ở Ninh Bình
Từ khảo cổ đến chủng
tộc và bản sắc Việt
Kinh
đô Hoa Lư thủ đô của nước Đại Cồ Việt
Xem
"trận đồ bát quái" hang động vừa phát
lộ cạnh cố đô Hoa Lư
Kinh
đô cổ nước Việt: Hoa Lư

|