|
Nguyễn
Nhược Pháp
Nguyễn Nhược
Pháp sinh ngày 12-12-1914 tại Hà Nội, học luật. Ông
có thơ đăng báo từ năm 18 tuổi. Tập thơ đầu tay "Ngày
xưa" xuất bản lúc tác giả 20 tuổi đã xếp Nguyễn
Nhược Pháp vào hàng những nhà thơ nổi tiếng khi ấy.
Rất tiếc, đời thơ Nguyễn Nhược Pháp quá ngắn, ông mất
vì bệnh lao ở Hà Nội ngày 19-12-1938, giữa tuổi đời
24, chưa vợ con.
Tập Ngày xưa chỉ vẻn vẹn có mười bài thơ. Hoài Thanh,
trong Thi nhân Việt Nam (xuất bản 1943) phải kêu lên:
Thơ in ra rất ít mà được người ta mến nhiều, tưởng không
ai bằng Nguyễn Nhược Pháp. Đến nay hơn nửa thế kỷ đã
chất chồng trên những trang thơ mỏng manh ấy mà lòng
xúc động của bạn đọc vẫn tươi nguyên. Có gì lạ trong
những nét thơ mảnh dẻ mềm mại ấy? Có gì mê hoặc trong
cái hồn thơ lặng lẽ và hóm hỉnh ấy?
Đúng như tên của tập: Ngày xưa, những bài thơ của Nguyễn
Nhược Pháp toàn nói chuyện ngày xưa. Xưa trong cổ tích
(Sơn Tinh - Thủy Tinh), trong dã sử (Mỵ Châu - Trọng
Thủy), trong lịch sử (Nguyễn Thị Kim...), trong đời
sống (Chùa Hương, Đi cống...). Tác giả gợi lại nét đẹp
xưa của cảnh và người. Hoài cổ nhưng không xa vắng,
tưởng nhớ nhưng không buồn thương. Tác giả cho ta hưởng
lại những ý vị của thời xưa trong cái nhìn yêu đời,
trong sáng, đầy ngộ nghĩnh.
Bài thơ Sơn Tinh - Thủy Tinh kể lại câu chuyện cổ.
Cái cốt truyện mượn trong cổ tích. Nhưng những chi tiết
nửa thực nửa ảo, vừa có lý, vừa vô lý, vừa nghiêm túc
vừa buồn cười là một sáng tạo độc đáo của Nguyễn Nhược
Pháp. Nhất là cái giọng kể. Đọc Nguyễn Nhược Pháp nên
lưu ý cái giọng thơ. Còn nhiều bí ẩn trong cái giọng
ấy lắm. Nó rất biến hóa, lúc là kể, lúc là cảm - nhiều
khi nó là tất cả, trang trọng đấy mà cũng hài hước đấy,
lôi cuốn một cách mê hoặc. Xét ngẫu nhiên một đoạn,
như đoạn tả Mỵ Nương:
Mỵ Nương xinh như tiên trên trần
Tóc xanh viền má hây hây đỏ
Miệng nàng bé thắm như san hô
Tay ngà trắng nõn, hai chân nhỏ
Mê nàng bao nhiêu người làm thơ.
Hùng Vương thường nhìn con yêu quá
Chắp tay ngẩng lên trời tạ ân
Toàn những câu thơ giản dị, chi tiết thực lắm, thực
hơn Nguyễn Du tả Kiều mà lại rất gợi rất ảo, đúng là
đẹp như tiên(!) Những ý xen vào: Mê nàng bao nhiêu người
làm thơ hay nhìn con yêu quá rất lòng cha của Hùng Vương
là những tình cảm được hiện đại hóa rất tinh và rất
hóm, hình như cũng chỉ thấy ở Nguyễn Nhược Pháp.
Một nhà thơ cùng thời với Nguyễn Nhược Pháp cũng hay
quay về đề tài Ngày xưa là Phạm Huy Thông. Nhưng hai
người hai bút pháp khác nhau và đều có tài năng. Phạm
Huy Thông hùng tráng, kỳ vĩ, anh hùng ca. Nguyễn Nhược
Pháp dịu dàng, tinh tế, trữ tình, nội tâm rất giàu nhưng
ít nói, có nói cũng nhỏ nhẹ. Cái nhìn hồn nhiên tươi
tắn nhưng cách cảm nghĩ vẫn thấu đáo nhân tình, thâm
thúy, lúc nào cũng như giấu một nụ cười cảm thông đầy
độ lượng với mọi chuyện của cõi người (và cả cõi thần).
Thế giới thơ Nguyễn Nhược Pháp là thế giới của đời thường,
người thường, tính nhân bản chân thật nên hóa sâu sắc.
Không một tính cách nào trong thơ Nguyễn Nhược Pháp
bị mất đi bản tính thực của mình. Đến vua nghĩ chuyện
nhân duyên cho con: Vua nghĩ lâu hơn bàn việc nước và
băn khoăn:
Nhưng có một nàng mà hai rể
Vua cho rằng thế cũng hơi nhiều
Thú vị của câu thơ là ở chữ hơi nhiều.
Cảnh dẫn lễ của chàng rể hụt Thủy Tinh hoàn toàn trong
tưởng tượng nhưng miêu tả rất sống, vừa đọc lên đã hiện
ra trước mắt. Đoàn rước qui mô mà cái thất bại đã thấy
rồi:
Theo sau cua đỏ và tôm cá
Chia đội năm mươi hòm ngọc trai
Khập khiễng bò lê trên đất lạ
Trước thành tập tễnh đi hàng hai
Nguyễn Nhược Pháp giỏi dùng chi tiết lắm. Cái oai của
Sơn Tinh:
Tay ghì cương hổ, tay cầm lau.
Phải có oai thần nên điều khiển hổ dữ chỉ cần một nhành
lau. Nếu tay ghì cương hổ, tay cầm côn, bức tranh vẫn
hùng dũng nhưng cái oai không còn.
Bài thơ Chùa Hương tả tình, tả cảnh, tả diễn biến tâm
trạng cũng tài hoa, nhiều khám phá. Bài thơ đầy tính
kịch và cũng đầy tính thơ mộng. Bài thơ này cùng với
Sơn Tinh - Thủy Tinh là hai bài hay nhất của Nguyễn
Nhược Pháp và cũng là hai bài góp vào phần tự hào của
một giai đoạn văn chương. Chùa Hương có nhiều "xen"
tâm lý rất hay của một cô gái mới lớn, lần đầu đến với
tình yêu trong khung cảnh kỳ ảo của đất Phật. Cái tài
quan sát lòng người của nhà thơ trẻ này có đầy đủ cái
lịch lãm của một cây bút tiểu thuyết, vừa xúc động,
vừa vui đùa, tiến lui tung hứng rất khéo léo. Bài thơ
hết rồi mà ý thơ còn tràn sang cả câu chú thích Thiên
ký sự đến đây là hết. Tôi tin rồi hai người lấy nhau,
vì không lấy được nhau thì cô bé còn viết. Lấy nhau
rồi là hết chuyện. Nội câu chú thích ấy cũng đủ hé cho
ta thấy cái tạng cảm xúc của Nguyễn Nhược Pháp: Duyên
dáng, hóm hỉnh và sâu sắc.
Nguyễn Nhược Pháp có biệt tài tạo thần thái cho cảnh
vật. Chỉ vài nét là đủ dựng nên cái hồn của phong cảnh.
Cảnh ma quái của giếng Trọng Thủy: gợi từ hình ảnh,
từ âm thanh và cả từ âm điệu của câu thơ:
Phơn phớt hồn ma đóm lập lòe
Cú rúc. Đàn dơi bay tứ bề
Răng rắc kêu như tiếng xương đập
Gió rền, quỉ khóc, lay cành tre
Chưa cần xét đến tình, ý, tư tưởng, sự nắm bắt và tái
tạo thiên nhiên ấy chính là dấu hiệu của một năng khiếu
thơ ở Nguyễn Nhược Pháp. Có lẽ chính vì vậy mà chỉ mười
bài thơ, quá ít ỏi đối với một đời thơ, Nguyễn Nhược
Pháp vẫn đủ để ở lại với nền thơ Việt Nam.
4-1988 - 4-2000
VŨ QUẦN PHƯƠNG
|