VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Vì
lợi ích truyền đạt các kiến thức, các giá trị văn
học. Chúng tôi chân thành cảm ta những nguồn trích
dẫn. Chúng tôi rất tiếc không liên lạc để xin phép
đăng lại được. Xin lượng thứ. HNPĐ)

Nguyễn Thượng
Hiền ( 1235-1925)
1925: Ngày mất Nguyễn Thượng Hiền, nhà văn,
nhà thơ, danh sĩ, chí sĩ yêu nước. Nguyễn Thượng
Hiền sinh năm 1868 tại làng Liên Bạc, tỉnh Hà Ðông,
con quan Hoàng Giáp Nguyễn Thượng Phiên. Ông rất
thông minh, thuở thiếu thời đã nổi tiếng thần đồng.
Năm 1884, mới 16 tuổi, ông đi thi Hương lần đầu
tiên và đỗ cử nhân ở trường thi Thanh Hóa. Năm 1885,
ông đỗ đầu kỳ thi Hội nhưng chưa kịp xướng danh
thì kinh thành Huế thất thủ, ông lui về ở ẩn tại
núi Nưa, Thanh Hóa. Ðến năm 1892, ông lại thi Ðình
và đỗ Hoàng Giáp, lúc đó 24 tuổi, ông được bổ làm
Toản Tu ở Quốc Sử quán, rồi thăng Ðốc học ở Ninh
Bình, Nam Ðịnh.Xuất thân từ một gia đình phong kiến,
quý tộc nhưng đau lòng trước cảnh nước mất nhà tan,
thông cảm với nỗi điêu đứng của nhân dân, Nguyễn
Thượng Hiền đã sớm có ý thức làm cách mạng. Trong
thời gian ở Huế, ông tìm đọc "Ðại Thế Thiên
Hạ Luận " của nhà sư Nguyễn Lộ Trạch, đọc nhiều
tân thư của Trung Quốc, kết giao với nhiều sĩ phu
yêu nước như Tăng Bạt Hổ, Phan Bội Châu, Phan Châu
Trinh, Huỳnh Thúc Kháng … Chính nhờ Nguyễn Thượng
Hiền mà một số sĩ phu yêu nước Việt Nam đầu thế
kỉ XX đã biết đến những tư tưởng duy tân tiến bộ
của Nguyễn Lộ Trạch và nhất là những tư tưởng mới
mẻ trong tân thư Trung Quốc .Từ năm 1898, qua giao
tiếp với Tăng Bạt Hổ, Nguyễn Thượng Hiền đã quyết
chí "Ðông du" nhưng vì phụ thân bệnh nặng
nên ông đành ở lại và tự nhận nhiệm vụ vận động
cách mạng trong nước.Năm 1907, sau khi thọ tang
cha, ông tìm cách sang Trung Quốc cùng hoạt động
với Phan Bội Châu trong Duy Tân Hội rồi Việt Nam
Quang Phục Hội, thực hiện ý chí cứu nước từ thuở
thiếu thời.Năm 1925, Nguyễn Thượng Hiền mất tại
Hàng Châu, Trung Quốc (ngày 28.12.1925). Theo di
chúc, thi hài ông được hỏa táng, nắm tro tàn được
rải xuống sông Tiền Ðường để linh hồn ông theo dòng
nước ra biển Ðông về lại với quê hương .Nguyễn Thượng
Hiền là một nhà cách mạng yêu nước. Vì Ðộc lập của
Tổ quốc, ông đã từ bỏ quan điểm Nho giáo lỗi thời,
cổ vũ việc Duy Tân, sau đó lại đoạn tuyệt với chế
độ quân chủ, quyết theo khuynh hướng dân chủ.
Nguyễn Thượng Hiền không những là một nhà cách
mạng chân chính mà còn là một nhà văn yêu nước,
một thi sĩ tài hoa nổi tiếng trong giới sĩ phu đương
thời. Ông đã để lại một sự nghiệp văn học đáng kể,
đặc biệt ông đã dùng thơ văn để phục vụ cho công
cuộc đấu tranh chống giặc cứu nước.

Nguyễn Hiền (1235 - ...?)
1. Trạng nguyên tuổi 12
Khoa thi năm Đinh Mùi (1247), dưới triều Trần,
đời vua Trần Thái Tông có sự kiện lạ, làm cả triều
đình và bàn dân thiên hạ kinh ngạc. Đó là người
chiếm bảng vàng nhất nước, đoạt học vị Trạng nguyên
là một cậu bé 12 tuổi, tên là Nguyễn Hiền, người
làng Dương A, huyện Thượng Hiền, phủ Thiên Trường
(nay là xã Nam Thắng, huyện Nam Ninh, tỉnh Nam Định).
Truyện kể rằng, năm mới lên 6, 7 tuổi, Nguyễn
Hiền theo học một nhà sư trong làng, sách chỉ đọc
qua là nhớ, mỗi ngày học hết 20 trang. Sư viết được
trang nào là Hiền thuộc ngay, như thể đã học trước
rồi. Nguyễn Hiền có tính hay đùa nghịch, sau lưng
các pho tượng Phật trong chùa, đều có những dòng
chữ “Phạt 30 roi”, “Phạt 60 roi” do Hiền viết. Một
hôm, sư ông phát hiện thấy, nhận ra nét chữ của
Hiền. Đến giờ giảng bài trên lớp, sư bèn chọn câu
văn trong sách Nho: “Kính quỷ thần nhi viễn chi”
(Kính quỷ thần phải lánh xa), cho học trò chép học
và răn rằng: “Phật cũng là thần, không được nhạo
báng”.
Nguyễn Hiền nhận thấy lỗi của mình, cậu đã tự
lấy giẻ lau sạch chữ viết sau các pho tượng.
Hiền học một biết mười, năm 11 tuổi đã nổi tiếng
là thần đồng. Bấy giờ, có một người tên là Đặng
Tính, ở phủ Bắc Giang, tự cho mình thông thái, chữ
nghĩa hơn người, tìm đến gặp Hiền để thử tài. Ông
Đặng lấy đầu đề bài phú: “Phượng hoàng sào vu A
Các, Kì lân du vu Uyển Hựu” (Chim phượng hoàng làm
tổ trên núi A Các, con kì lân ra chơi vườn Uyển
Hựu) và yêu cầu thần đồng Nguyễn Hiền làm bài phú
không được dùng lại chữ “phượng hoàng” và “kì lân”,
nhưng mỗi câu phải có tên một giống thú.
Nguyễn Hiền ứng khẩu đọc:
“Quy phi Lục Thuỷ (Con rùa không đợi ở sông Thuỷ),
Long bất Mạnh Hà (Con rồng không xuất hiện nơi
sông Mạnh Hà).
Y hi! Hữu Hùng chi quốc (Tốt thay nước Hữu Hùng,
chữ Hán “Hùng” có nghĩa là con gấu).
Ấp vu Trác Lộc chi a (Đóng đô ở gò Trác Lộc. “Lộc”
nghĩa là con hươu)”.
Nghe xong, Đặng Tính liền bái phục khen: “Thiên
tài! Thiên tài!”
Năm Bính Ngọ (1246), Hiền dự thi và đõ thủ khoa,
tiếp đến khoa thi Đinh, năm Đinh Mùi (1247) liền
đỗ trạng. Bài thi do nhà vua ra, đề là: “Áp tử từ
kê mẫu du hồ phú” (Bài phú nói về con vịt từ giã
mẹ gà đi chơi hồ). Nội dung đề ra rõ ràng là khá
rộng và trừu tượng, hiểu được ý không phải dễ, mà
lại còn yêu cầu diễn đạt bằng thể phú nữa kia! Nguyễn
Hiền không chỉ hiểu sâu sắc đề ra, mà còn viết thành
một bài phú có tính chất nghị luận rất xuất sắc,
vừa thể hiện được nhận thức về cuộc sống, vừa tỏ
rõ khả năng uyên bác, văn chương mạnh mẽ của một
cậu bé chỉ mới ở tuổi 12!
Khi Nguyễn Hiền vào cung yết kiến, nhà vua thấy
Trạng còn quá nhỏ, mà thông thái hơn người, bèn
hỏi:
- Trạng nguyên học ở đâu?
Nguyễn Hiền cứ thực tình tâu:
- Thần tự học lấy, nhưng có một đôi chữ không
hiểu thì phải hỏi sư ông ở chùa làng.
Nhà vua thấy trạng nói năng tự nhiên, chưa hiểu
phép tắc, lễ nghĩa, lại có ý tỏ ra kiêu căng, nên
cho là chưa thể bổ nhận chức quan trong triều được,
bèn cho trạng về nhà học hành thêm, chờ 3 năm sau
khôn lớn mới bổ dụng.
Trạng về nhà, ngoài việc đọc sách, giúp đỡ công
việc gia đình, còn thời giờ thì kết bạn với trẻ
con trong làng đánh khăng, thả diều, vui chơi thoả
thích.
2. Gỡ bí cho cả triều đình
Ít lâu sau khi trạng về nhà, thì sứ nhà Nguyên
sang nước ta. Muốn thử nước Nam có người tài hay
không, họ bèn chuyển tới các quan lễ tân một chiếc
vỏ ốc xoắn và một sợi chỉ mảnh thách tìm được cách
xâu qua, kèm theo bài thơ có nội dung như sau:
“Hai mặt trời, mặt trời bằng đầu
Bốn trái núi, trái núi điên đảo
Hai ông vua tranh nhau một nước
Bốn cái miệng trong khoảng dọc ngang”.
Vua giao cho các quan đình thần nghiên cứu trả
lời, nhưng không một ai giải đáp được cả. Trong
khi cả triều đình đang bí, bỗng có người nhớ đến
trạng nguyên Nguyễn Hiền, bèn tâu vua cho mời trạng
đến hỏi, may ra mới hiểu được. Nhà vua y lời ngay
và lập tức sai quan đến tận nhà đón trạng. Khi quan
sứ của nhà vua tới đầu làng Dương A thì gặp một
cậu bé. Quan dừng lại hỏi thăm nhà trạng Hiền. Câu
bé cứ làm thinh, trố mắt nhìn, ra vẻ xem thường.
Quan bực lắm, nghĩ bụng thằng bé lếu láo này ra
dáng học trò, biết dăm ba chữ nghĩa đây. Ta hỏi
hắn một câu thật hóc búa, cho bớt cái tính ngông
nghênh. Quan bèn đọc: “Tự là chứ, cất giằng đầu,
tử là con, con ai con ấy?”
Viên quan dùng lối chiết tự. Nguyên chữ “tự”,
nghĩa là “chữ”, phía trên có nét viết giống như
cái giằng xay. Bỏ nét đó đi thì thành chữ “tử”,
có nghĩa là “con”.
Cậu bé bấy giờ mới mỉm cười, mở miệng, nhưng không
phải trả lời, mà hỏi lại quan câu sau:
- “Vu là chưng, bổ ngang lưng, đinh là đứa, đứa
nào đứa này?”.
Câu hỏi cũng dùng lối chiết tự. Chữ “vu” nguyên
có hai nét ngang và một nét móc, bỏ đi nét ngang
thì thành chữ “đinh”, nghĩa là “đứa”.
Hỏi xong, cậu bé ù té chạy vào làng. Nghe câu hỏi
ý xấc xược, nhưng chữ nghĩa dùng rất tài tình, quan
đoán ngay đứa bé chằng phải ai ngoài trạng Hiền,
liền mừng rỡ, hết giận và theo chân tìm đến nhà
trạng.
Quan vào đến sân thì thấy trạng đang đứng trong
bếp nhìn ra, miệng tủm tỉm cười. Quan bèn đọc trêu:
- “Ngô văn quân tử, viễn bào trù, hà tu mị táo”.
Nghĩa là: “Ta nghe người quân tử thường lánh xa
nơi bếp núc, sao lại đi nịnh ông bếp?
Nghe vậy, trạng trả lời ngay:
- “Ngã bản hữu quan cư đỉnh nại, khả tạm điều
canh”. Nghĩa là: Ta vốn là chức quan hàng tể tướng,
nhưng hãy tạm nêm canh.
Trong câu của quan có chữ “bào trù” (bếp núc)
và “mị táo” có nghĩa là “nịnh bếp núc”. Còn trạng
Hiền đã dùng chữ “đỉnh nại” (tể tướng) và “điều
canh” cũng là “làm tể tướng” để chọi lại.
Quan rất thán phục tài ứng đối của trạng, rồi
thuật lại cho trạng nghe những điều sứ Nguyên thách
đố và truyền chỉ dụ của vua vời trạng về kinh để
giúp triều đình. Trạng nghe quan nói, cứ im lặng
chẳng trả lời. Quan van vỉ mãi, trạng mới nói: “Trước
kia vua bảo ta không biết lễ phép, nay chính vua
cũng không hiểu lễ là gì!”. Thì ra, vì quan sứ đi
vội và cũng có thể xem trạng là trẻ con, nên đã
quên mất cả nghi thức đón trạng, như phải có chiếu
chỉ nhà via, có xe ngựa chu tất....
Quan sứ chào trạng, lên ngựa trở lại kinh, bỗng
nghe mấy trẻ trong làng hát to:
“Tích tịch tang, tích tịch tang!
Bắt con kiến càng cuộc chỉ ngang lưng
Bên thì lấy giấy mà bưng
Bên thì bôi mật kiến mừng kiến sang
Tích tịch tang, tích tịch tang!”
Viên quan biết trạng đã gián tiếp bày cho giải
câu đố theo cách xâu chỉ, bèn nhẩm thuộc bài ca
để về tâu vua.
Quan sứ chuẩn bị đầy đủ nghi thức đón được trạng
về triều. Nhà vua đưa bài thơ của sứ Nguyên cho
trạng xem và hỏi người Mông – Nguyên định nói gì.
Trạng chỉ đọc lướt qua, đã phát hiện toàn bộ nội
dung bài thơ chỉ mô tả có mỗi một chữ “Điền”. Vì
chữ “Điền” có hình dáng giống như hai chữ nhật (là
mặt trời) bằng đầu đề sóng hàng. Hai chữ sơn (là
núi) xáo trộn đầu đuôi. Hai chữ vương (nghĩa là
vua) nghiêng ngửa tranh một nước và bốn chữ khẩu
(chỉ cái miệng) liền nhau ghép dọc ngang. Bấy giờ
vua và cả triều đình mới hiểu ra, thở dài khoan
khoái. Sứ Nguyên khi xem lời giải đáp cũng cả kinh,
biết nước Nam có những người tài, không dám khinh
thường, kiêu căng hách dịch quá quắt!
Có tài liệu chép rằng: sau lần đó, vua Trần mời
trạng ra giao chức Thượng thư bộ công. Khi trạng
mất (có lẽ trạng mất sớm), nhân dân lập đền thờ
tại quê, được vua ra chỉ dụ cấp cho dân xã 5 mẫu
ruộng để lo việc thờ cúng và đổi tên huyện Thượng
Hiền thành Thượng Nguyên, không nhắc đến tên huý
của trạng, để tỏ lòng tôn kính.
(Theo Thần đồng xưa của nước ta - NXB Giáo Dục
- 1998)

|