| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Vì
lợi ích truyền đạt các kiến thức, các giá trị văn
học. Chúng tôi chân thành cảm ta những nguồn trích
dẫn. Chúng tôi rất tiếc không liên lạc để xin phép
đăng lại được. Xin lượng thứ. HNPĐ)

La
Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp
1804: Ngày mất của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp,
nhà tư tưởng, nhà thơ, học giả nổi tiếng. Ông sinh
ngày 24.09.1793, quê Nguyệt Ao, La Sơn, nay là huyện
Đức Thọ, Hà Tĩnh. Ông thi hội, đỗ tam trường nǎm
1749 làm huấn đạo, rồi tri phủ, sau từ quan, về
quê nhà dạy học. Chúa Trịnh Sâm nhiều lần mời ông
ra làm việc nhưng ông vẫn từ chối. Vua Quang Trung
chân thành viết thư mời nhiều lần ông mới ra giúp
nhà Tây Sơn góp phương sách đánh giặc, làm Viện
trưởng Viện Sùng Chính, tương đương với Thượng thư
Bộ Học. Khi vua Quang Trung mất, ông không nhận
cộng tác với Gia Long. Nguyễn Thiếp còn để lại La
Sơn thi tập, Lập Phong vǎn các, Hạnh Am thi vǎn
tập, nói lên tấm lòng luôn gắn bó với quê hương.
Nguyễn Thiếp
Nguyễn Thiếp (25 tháng 8 năm Quý Mão 1723-1804),
tên hiệu phổ biến là La Sơn phu tử, huý là Minh,
tự là Quang Thiếp, quê làng Mật Thôn, xã Nguyệt
Úc hay Nguyệt Áo (tục gọi là Nguyệt Ao), tổng Lai
Thạch, huyện La Sơn. Tổng La Thạch sau này lại thuộc
về huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là một vị quân
sư tối cao của Hoàng đế Quang Trung.
Mục lục
1 Tên hiệu
2 Thân thế
3 Thời kỳ làm quan Nhà Hậu Lê và ở ẩn
4 Tam cố thảo lư [1]
5 Làm quân sư cho Hoàng đế Quang Trung
6 Đánh giá
6.1 Lập trường dân tộc
6.2 Căn bản văn hoá dân tộc
6.3 Vấn đề tri nhân và thức thời
7 Xem thêm
Tên hiệu
Nguyễn Thiếp có nhiều tên tự hay tên hiệu, hoặc
do ông tự đặt, hoặc do người đương thời xưng tặng,
chẳng hạn: Lam Hồng Dị Nhân, Khải Xuyên, Lạp phong
cư sĩ, Điên ẩn, Cuồng ẩn, Hạnh am, Hầu lục niên,
Lục niên Tiên sinh, La Giang phu tử, La Sơn phu
tử...
Thân thế
La Sơn phu tử sinh ra trong một gia đình thuộc dòng
dõi vọng tộc, là con cháu Lưu Quận công, Cao tổ
của Phu tử là Nguyễn Bật Lạng đậu Bảng nhãn (dưới
Trạng Nguyên, trên Thám Hoa) trong một Chế khoa
dưới triều Lê Thần Tông niên hiệu Thịnh Đức nguyên
niên (năm 1577).
Thân mẫu của Phu tử thuộc dòng dõi họ Nguyễn Trường
Lưu,gốc ở xã Cương Gián, huyện Nghi Xuân là một
danh gia vọng tộc. Họ Nguyễn này có những nhân vật
như Nguyễn Huy Oánh, Nguyễn Huy Tự, v.v.
Được nuôi dưỡng trong một gia đình có văn học uyên
thâm, bên nội cũng như bên ngoại, và bằng hữu có
nhiều tay chữ xuất chúng, Nguyễn Thiếp, lúc thiếu
thời đã nổi tiếng văn tài lỗi lạc. Ông thi Hương
đỗ giải Nguyên tức thủ khoa trường Nghệ An năm Quí
Hợi, niên hiệu Lê Cảnh Hưng năm thứ 4 là năm (1743).
Ông đậu giải Nguyên năm 21 tuổi, và "nhứt cử
thành danh", nghĩa là chỉ đi thi một khoa là
đậu đạt. Rồi đến năm 26 tuổi, ông đi thi Hội một
khoa vào tam trường.
Từ đây, ông thề không đi thi nữa, và quyết tâm
dứt bỏ con đường sĩ hoạn, chỉ vì ông thấy rõ lối
học từ chương, khoa cử chẳng những vô ích cho bản
thân và quốc gia, mà còn di hại cho tiền đồ Tổ quốc
và hậu thế không ít.
Thời kỳ làm quan Nhà Hậu Lê và ở ẩn
Năm 1756, tiên sinh phải ra nhậm chức Huấn đạo (giáo
quan) ở huyện Lương Sơn (tức phủ Anh Sơn sau nầy).
Lúc bấy giờ ông đã 34 tuổi.
Làm chức Huấn đạo 6 năm, đến năm 1762, tiên sinh
được bổ làm chức Tri Huyện huyện Thanh Chương (tỉnh
Nghệ An).
Nhưng đến năm 1768, vì đã 46 tuổi, ông xin cáo
quan về vườn. Như vậy tiên sinh đã làm quan với
nhà Lê được 13 năm.
Nguyên do sự từ chức của Nguyễn Thiếp là bởi vua
Lê suy nhược, các chúa Trịnh lộng quyền, bọn hoạn
thần chuyên chính, Lê Duy Mật dấy loạn, Trịnh Giang
lại giết anh của Lê Duy Mật là Lê Duy Phương...
Do đó, thế cuộc rối ren, rất khó xử. Làm việc quan
thì ông thấy không chính đáng, can gián họ Trịnh
thì cũng chẳng ăn thua gì, mà còn có thể bị liên
lụy. Bởi vậy, ông nhất định từ quan. Sau khi treo
áo mũ từ quan, ông lui về ở ẩn dật ở núi Thiên Nhẫn
(Lục niên thành) và đi từ ngọn núi nầy sang ngọn
núi kia như một tiên ông giáng thế. Đặc biệc là
ông có đi thăm mộ Phạm Viên (Tiên ông đắc đạo) và
thăm Bạch Vân Am của Nguyễn Bỉnh Khiêm vào lúc 55
tuổi và 58 tuổi (1777-1780).
Tuy La Sơn phu tử đã về ở ẩn, nhưng tiếng tăm thì
ai ai cũng biết, chấn động đến cả kinh kì, nào Hiệp
trấn Bùi Huy Bích tặng thơ, nào chúa Trịnh Sum mời
ra Kinh đô để trọng dụng.
Tuy nhiên, Nguyễn Thiếp can gián chúa Trịnh đừng
tiếm vị vua Lê, nhưng thấy không có ảnh hưởng, ông
lại trở về trại núi. Lúc nầy, Viên Quận công Quốc
sư quốc lão lại mời Cụ đến để hỏi chuyện tư tiên.
Tam cố thảo lư [1]
Vua Quang Trung đã ba lần mời Nguyễn Thiếp ra làm
quân sư, chính là để thu phục nhân sĩ Bắc Hà, vì
Nguyễn Thiếp là thầy giáo của nhiều triều thần Lê
Trịnh đương thời.
Năm 1786 tức niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 47, vua
Lê quá già yếu, chúa Trịnh Khải quá lộng hành. Trong
Nam thì Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đã lấy được thành
Phú Xuân, thừa thắng lấy cả Thăng Long với danh
nghĩa phù Lê diệt Trịnh.
Nguyễn Huệ được sắc phong "Nguyên suý phù
chính dực võ Uy quốc công" và lấy công chúa
Ngọc Hân.
Khi Bắc Bình vương Nguyễn Huệ khởi nghĩa từ miền
Trung rồi kéo quân ra Bắc đánh họ Trịnh, lúc đi
qua vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, nghe đại danh của tiên
sinh, bèn thân hành tới nơi cầu hiền và khẩn thiết
mời tiên sinh ra giúp việc nước. Nhưng tiên sinh
nhứt định từ chối lấy lẽ vì mình là thần tử nhà
Lê, và cũng tự nhận mình là một kẻ sĩ cao khiết
không muốn sống chung với bọn người bôn xu danh
lợi, vinh thân phì gia.
Bị tiên sinh từ khước, Nguyễn Huệ hỏi "Hay
là tiên sinh cho chúng tôi là đám người bình dân
vô học, không đủ khả năng mưu đồ quốc gia đại sự,
dẹp loạn yên dân?" Tiên sinh trả lời "Bỉ
nhân không có những nhận thức sai lầm lệch lạc như
thế bao giờ. Vì lịch sử từ ngàn xưa đã chứng minh:
Lưu Bang Hán Cao tổ cũng chỉ là một người bình dân;
Lưu Huyền Đức xuất thân chỉ là một người thợ giày;
Bình Định Vương Lê Lợi xuất thân cũng là một nông
dân áo vải đất Lam Sơn. Bởi vậy sự thành công hay
thất bại của anh em Ngài sau này, vấn đề chính yếu
không phải là ở chỗ là người bình dân hay quí phái,
mà là do tài đức và phương pháp làm việc của các
Ngài. Riêng bỉ nhân thì không thể nào ra giúp Ngài
được, vì ít nhiều bỉ nhân cũng đã là một thần tử
nhà Lê, và đạo làm người của một nhà Nho không cho
phép bỉ nhân làm như thế."[cần chú thích]
Lần nầy, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ kéo quân ra
Bắc đánh chúa Trịnh thua tơi bời, khi trở về miền
Trung lại một lần nữa ghé vào thảo lư của tiên sinh
để yết kiến.
Vừa trông thấy mặt tiên sinh, Bắc Bình Vương Nguyễn
Huệ nói "Nay tiên sinh đã chịu nhìn nhận tôi
là một tay anh hùng chưa?" Tiên sinh trả lời
một cách tự nhiên như không cần phải suy nghĩ "Ngài
có thể trở nên một người anh hùng cái thế, mà cũng
có thể là một tay gian hùng, vấn đề còn tuỳ thuộc
vào công việc làm tối hậu của Ngài sau lần này quyết
định." "Như thế có nghĩa là sao?"
Bắc Bình vương hỏi. "Điều đó thật rõ ràng như
ban ngày. Họ Trịnh là một thứ quân phiệt hoán đoạt,
lấn áp hết quyền hành nhà Lê, nay Ngài ra Bắc hà
đánh dẹp họ Trịnh, chỉ có mục đích phù Lê mà thôi,
như vậy Ngài là một vị anh hùng muôn thuở. Ngược
lại, nhè đúng lúc nội bộ rối ren của đối phương
để nổi lên giành quyền cướp nước cho mình và anh
em mình thôi, như vậy là kẻ gian hùng chứ sao?"[cần
chú thích]
Lại một lần nữa, Bắc Bình Vương ngỏ ý khẩn thiết
mời tiên sinh vào Trung giúp việc. Nhưng ông vẫn
từ chối, vẫn giữ mãi ý kiến lần trước.
Một thời gian sau, khi Bắc Bình vương ở Thuận Hoá
nghe tin Lê Chiêu Thống đã vội vã chạy sang Tàu
cầu viện, và hai trăm ngàn quân Mãn Thanh bắt đầu
kéo sang lãnh thổ Việt Nam, Bắc Bình Vương, sau
khi lên ngôi Hoàng đế, liền cất quân ra Bắc đối
phó với tình thế.
Khi vua chưa tới vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, Nguyễn
Thiếp Tiên sinh đã tự ý đi vào tận Hoành Sơn (nơi
giáp giới Quảng Bình, Hà Tĩnh) để đón tiếp.
Vừa gặp mặt vua Quang Trung, Nguyễn Thiếp nói "Hai
lần trước, sở dĩ tôi từ khước lời Ngài là vì vấn
đề vua Lê với chữ trung trong luân lí. Nay Lê Chiêu
Thống đã rước voi về giày mả tổ, ông ta đã trở thành
một tên phản quốc rõ ràng, thì nay vấn đề nhà Lê
không còn nữa. Là một thần dân có ít nhiều hiểu
biết, tôi có bổn phận phải hết sức giúp Ngài đánh
bại lũ giặc Mãn Thanh, để cứu lấy giang sơn và chủng
tộc."[cần chú thích]
Vua Quang Trung hết sức vui mừng, liền mời ông
ngồi vào ghế quân sư, như Lưu Bị nhà Hậu Hán đối
với Khổng Minh vừa từ thảo xá ra vậy.
Làm quân sư cho Hoàng đế Quang Trung
Khi thảo luận đến đại sự đánh quân nhà Thanh, Nguyễn
Thiếp đã trình bày "Cổ nhân nói: 'Sư xuất vô
danh, sự cố bất thành', nghĩa là xuất quân không
có chính danh nên việc không thành. Bây giờ, đại
quân của Hoàng đế ra Bắc Hà đánh giặc Mãn Thanh
cứu nước là danh chính ngôn thuận đối với quốc dân,
bởi lẽ Hoàng đế tượng trưng cho quốc quyền Việt
Nam, đại diện cho nhân dân Việt Nam, Lê Chiêu Thống
đã rước giặc Tàu về nước, thì không còn nhà Lê nữa."
Trước 200 nghìn quân Mãn Thanh xâm lăng, một lực
lượng hùng hậu của giặc, ông nói "Số quân của
Hoàng đế kéo từ miền trong ra đây chưa đủ để chống
đối với quân giặc, mà trở lại miền trong chiêu mộ
thêm binh thì thời gian không cho phép. Vậy Hoàng
đế phải tuyển mộ ngay quân lính ở đất Thanh Hoá,
Nghệ An, và Hà Tĩnh này, vì nơi đây là đất thượng
võ xưa nay, anh hùng nhiều, mà hảo hán cũng nhiều,
nơi đây mà ngày trước vua Trần Nhân Tông đã nói
khi nước ta bắt đầu chống giặc ngoại xâm Mông Cổ:
'Hoan Diễn do tồn thập vạn binh'."
Khi đề cập đến chiến lược, chiến thuật, ông trình
bày với vua Quang Trung "Quân Mãn Thanh vừa
kéo sang nước ta, chúng đang kiêu căng ngạo mạn
và khinh địch. Doanh trại, chúng chưa thiết lập
xong. Vậy chiến lược chiến thuật của ta là tốc chiến
tốc quyết thắng."
"Cổ binh thư đã nói 'Dĩ tật công lao giả thắng'
và 'Công kì vô bị, kích kì bất ý giả tất thắng'
cùng 'Tiên phát giả chế nhân, hậu phát giả chế ư
nhân'... Theo sự dự liệu của bọn tướng giặc Tàu,
ít ra cũng phải tới cuối tháng Giêng, quân ta mới
đến ngoài đó. Vậy ta phải làm thế nào cho quân ta
tới Bắc Hà và Đông Kinh (tức Hà Nội) trước sự dự
đoán của chúng, và đánh chúng ngay trước sự bất
ngờ. Vậy thì chuyển vận quân thế nào cho kịp?"
Vua Quang Trung hỏi.
Tiên sinh ứng khẩu trả lời ngay "Phải bằng
cách chạy mau, cứ hai người khiêng một người và
phải thay đổi nhau".[cần chú thích]
Người đời kể chuyện rằng trong đại công đánh bại
200 nghìn quân Mãn Thanh của vua Quang Trung Nguyễn
Huệ, vị tham mưu tối quan trọng vẫn là Nguyễn Thiếp
tiên sinh.
Sau khi giúp vua Quang Trung đánh bại giặc ngoại
xâm Mãn Thanh, Nguyễn Thiếp được nhà vua tôn làm
quân sư, vị cố vấn tối cao của triều đình. Những
sự cải cách rộng lớn về chánh trị, kinh tế, văn
hoá, xã hội trong triều đại nhà Tây Sơn, phần lớn
đều do Nguyễn Thiếp tiên sinh hoạch định.
Tháng 11 năm 1788, Nguyễn Huệ quyết định đóng đô
ở Nghệ An, giao cho trấn thủ Thận và cố vấn Nguyễn
Thiếp tổ chức xây dựng thành Phượng Hoàng Trung
Đô ở khu vực núi Dũng Quyết, vùng Bến Thủy, thành
phố Vinh ngày nay. Thành ngoài xây bằng đất và đá
ong, hình tứ giác, chu vi 2.820 m, bờ thành cao
3-4 m, diện tích 22 ha, bao quanh thành ngoại là
con hào rộng 30 m, sâu 3 m. Thành nội xây bằng gạch
vồ và đá ong, chu vi 1.680 m, với hai dãy hành lang
nối liền với điện Thái Hòa, nơi vua thiết triều.
Tại triều, La Sơn phu tử chủ trương dùng Việt ngữ,
dùng chữ Nôm trong các hạng công văn, sắc dụ để
thay thế chữ Hán.
Nguyễn Thiếp còn làm Viện trưởng Viện Sùng chính
và đã dày công phiên dịch các bộ sách Tứ thư (tức
Đại học, Luận ngữ, Mạnh tử và Trung dung) và Ngũ
kinh (tức Kinh Thi, Kinh Thượng Thư, Kinh Lễ ký,
Kinh Xuân Thu và Kinh Chu dịch).
Tiếc rằng những tác phẩm của La Sơn phu tử, vì
vua Quang Trung chết yểu, sau đó là triều nhà Nguyễn
bị ảnh hưởng Tống Nho, các sĩ phu cắm đầu vào chữ
Hán, thơ, phú, kinh nghĩa, tứ lục, nên những tác
phẩm có giá trị không được ấn hành và bảo tồn, đến
bây giờ không còn nữa.
Người ta truyền lại rằng hôm vua Quang Trung băng
hà, Nguyễn Thiếp tiên sinh thở dài não nuột nói:
"Đại sự hưu hỹ" nghĩa là "đại cuộc
thế là hỏng cả".
Có lẽ Nguyễn Thiếp đã biết rõ Nguyễn Quang Toản
là một người vô tài bạc đức, vô dụng cho đại cuộc,
không thể nối nghiệp lớn của thân phụ, cũng như
Khổng Minh Gia Cát Lượng không hề không biết con
người vô dụng của Hậu Hán chúa Lưu Thiện.
Tuy nhiên, cả hai người không thể vì tình tri ngộ
của chúa Lưu Bị và vua Quang Trung mà không tận
tâm tận lực giúp Lưu Thiện và Nguyễn Quang Toản.
Tới khi vua Gia Long đã cậy dựa vào được thế lực
ngoại bang do Bá Đa Lộc làm trung gian, nên thanh
thế càng mạnh mẽ, cơ đồ nhà Nguyễn Tây Sơn lâm nguy,
Nguyễn Thiếp đề nghị với Nguyễn Quang Toản hãy tạm
dời kinh đô ra vùng Nghệ Tĩnh, và lấy nơi đây làm
căn cứ địa. Nhưng Nguyễn Quang Toản không nghe.
Hôm vua Gia Long kéo quân tới chiếm kinh đô Phú
Xuân, trăm quan văn võ vua tôi nhà Tây Sơn đều bỏ
chạy cả. Chỉ có Nguyễn Thiếp vẫn điềm tĩnh ngồi
yên ở tư thất, không cần chạy đi đâu hết.
Hạ xong Phú Xuân thành, Gia Long sai người mời
tiên sinh tới hỏi chuyện. Vừa trông thấy tiên sinh,
vua Gia Long hỏi "Nghe đâu ông già làm quân
sư cho nguỵ quyền Nguyễn Huệ chống lại trẫm."
Tiên sinh bình tĩnh phúc đáp "Nguyễn Huệ là
một tay anh hùng tuấn kiệt của nước Việt Nam. Nếu
bảo rằng ông ấy có tội thì chỉ có tội riêng với
ngài, với họ Nguyễn Phúc mà thôi. Còn đối với dân
tộc Việt Nam, thì ông ấy là người có công rất lớn.
Công ấy là công đã đánh tan 200 nghìn quân Mãn Thanh,
nên tôi đã giúp ông ấy làm việc đó."[cần chú
thích]
Sau cùng, vua Gia Long ngỏ ý muốn mời Nguyễn Thiếp
làm cố vấn. Nhưng ông không nhận lời, viện lẽ tuổi
đã già, sức lực đã yếu kém.
Cuối cùng, vua Gia Long cấp phu cáng và hành lý
cho ông trở về quê nhà dưỡng lão cho tới lúc lâm
chung.
Đánh giá
Để qui định một mẫu người “Trượng phu quân tử Đông
phương”, các nhà Hiền triết ngày xưa đã đề ra ba
tiêu chuẩn:
-“Phú quý bất năng dâm” là giàu sang không làm
hoen ố căn bản đạo đức của một con người.
-“Bần tiện bất năng di” là nghèo hèn không làm
thay đổi những ý hướng, những sơ tâm hoài bão.
- “Oai vũ bất năng khuất” là không khuất phục trước
bất cứ một thế lực, một oai vũ nào. Ai thực hiện
đầy đủ ba tiêu chuẩn đó mới được gọi là người Đại
trượng phu.
Điểm qua những lời nói và việc làm của La Sơn phu
tử, xuyên qua ba khúc ngoặc lịch sử (Lê Mạt, Nguyễn
Huệ , Gia Long) chúng ta thấy rằng La Sơn phu tử
đúng là một mẫu người trượng phu quân tử Đông phương.
Thiệt vậy, khi đang làm một thần tử nhà Lê, được
Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ thỉnh làm quân sư, Phu
tử đã không vì cảnh phú quý ấy mà làm hoen ố căn
bản đạo đức của một con người (Vi thần tận trung).
Trong thời gian ẩn cư, Phu tử vẫn vui với cái sống
thanh cao đạm bạc, không vì hoàn cảnh đó mà thay
đổi sơ tâm hoài bão của một con người ẩn dật hiền
sĩ.
Trước những thế lực, những oai vũ của Bắc Bình
Vương Nguyễn Huệ (ở giai đoạn trước) và vua Gia
Long (ở giai đoạn sau), thuỷ chung Phu Tử vẫn giữ
trọn vẹn phong độ của một con người “Hiền sĩ”, làm
cho Nguyễn Huệ cũng như Gia Long, cả hai đều phải
mến phục.
Ngoài những đức tính đáng kính mến ở trên, La Sơn
phu tử còn để lại cho hậu thế chúng ta ba tấm gương
trong sáng, đó là:
Lập trường dân tộc
Sinh ra và lớn lên trong chế độ phong kiến, như
La Sơn phu tử không hề bị ràng buộc bởi ý thức hệ
phong kiến trung quân một cách mù quáng mà người
ta cho là ngu trung.
Nghĩa là khi Lê Chiêu Thống đã nhẫn tâm rước quân
ngoại bang về giày xéo trên đất nước rồi, thì Nguyễn
Tiên sinh quyết dứt khoát hẳn với nhà Lê để đứng
hẳn về lập trường dân tộc, và hết mình giúp vua
Quang Trung Nguyễn Huệ đánh giặc Mãn Thanh để cưú
nguy đất nước.
Căn bản văn hoá dân tộc
Là một người học giả thuần tuý Hán văn, chịu ảnh
hưởng văn hoá Trung Hoa sâu đậm, nhưng La Sơn phu
tử vẫn gìn giữ được trọn vẹn văn hoá truyền thống
dân tộc, cụ thể nhứt là việc Phu tử đã tận lực giúp
vua Quang Trung nhà Tây Sơn trong vấn đề cải cách
chữ Hán. Phu Tử nhứt quyết dùng tiếng mẹ đẻ (chữ
Nôm) trong mọi sinh hoạt văn hoá Việt Nam.
Vấn đề tri nhân và thức thời
Không chịu ra giúp Bắc Bình vương Nguyễn Huệ ở giai
doạn trước, mà Nguyễn Tiên Sinh lại cương quyết
ra giúp vua Quang Trung ở giai đoạn sau.
Tiên sinh đã tận tâm tận lực giúp vua Quang Trung
nhà Tây Sơn, mà lại từ khước giúp vua Gia Long họ
Nguyễn Phúc khi đã được hãnh diện lên voi.
La Sơn phu tử quả thật là một người có nhãn lực
truy nhân và thức thời vậy.
Cố nhân đã nói: “Thức thời vụ tại hồ tuấn kiệt”,
chính La Sơn phu tử là một kẻ tuấn kiệt của nước
nhà.
[sửa] Xem thêm
Giai thoại về Nguyễn Thiếp.
La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp (1723 - 1804)
Nguyễn Thiếp - một ẩn sĩ tài cao, đức trọng
La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp
Lấy từ “http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Thi%E1%BA%BFp”

|