| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Vì
lợi ích truyền đạt các kiến thức, các giá trị văn
học. Chúng tôi chân thành cảm ta những nguồn trích
dẫn. Chúng tôi rất tiếc không liên lạc để xin phép
đăng lại được. Xin lượng thứ. HNPĐ)

Ngô Thì
Nhậm - 吳時任
Câu
ứng đối nổi tiếng
Thơ
Ngô Thời Nhậm
Thơ
Ngô Thời Nhậm
Ngô
Thì Nhậm với nước cờ Tam Điệp
TỪ NGUYỄN TRÃI ĐẾN
NGÔ THÌ NHẬM VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN ĐỈNH NÚI YÊN TỬ
- Ẩn tiểu sử tác giả
Ngô Thì Nhậm 吳時任 (1745-1803) là một "Sĩ
phu Bắc Hà" kiệt xuất (người làng Tả Thanh
Oai, Hà Đông), đỗ tiến sĩ năm 1776. Ông từng làm
quan dưới thời Lê mạt, nhưng ngôi sao Ngô Thì Nhậm
chỉ thực sự bừng sáng rực rỡ khi ông được gặp gỡ
người anh hùng Nguyễn Huệ, tựa như Lã Vọng gặp Chu
Văn Vương thuở trước.
Với khối óc mẫn tuệ phi thường, Ngô Thì Nhậm
mau lẹ nhận chân được chân lí của thời đại mình:
Nguyễn Huệ chính là người anh hùng, là bậc minh
quân của dân tộc. Đó là mẫu người "anh hùng
áo vải", từ nhân dân mà ra, nhưng đã kết tinh
được toàn bộ tinh hoa của dân tộc và trở thành biểu
tượng cao nhất của dân tộc thời đại bấy giờ.
Triều đại Tây Sơn tiến bộ hơn, tất yếu sẽ thay
thế cho triều đại Lê - Trịnh đã đến kì mạt vận.
Tiêu chuẩn cao nhất đối với một sĩ phu chân chính
là phải xác định rõ con đường mình phải đi (từ bỏ
cái gì, theo cái gì?) và làm gì để cống hiến nhiều
nhất cho dân tộc mình?
Tư duy của Ngô Thì Nhậm rất chuẩn xác, do đó
hành động của ông trong cả cuộc đời cũng hoàn toàn
chuẩn xác. Ông là mẫu mực cao nhất của một trí thức
chân chính thời đại Tây Sơn.
Những đóng góp của ông cho người anh hùng Nguyễn
Huệ (cũng là cho đất nước) rất đáng kể, cả về chính
trị, ngoại giao lẫn quân sự. Ông đã bổ khuyết những
chỗ thiếu hụt của Quang Trung (do nhà vua xuất thân
từ tầng lớp bình dân, không thể có được vốn học
vấn uyên bác như ông). Có thể nói, sức mạnh anh
hùng vô song của Nguyễn Huệ cộng với trí tuệ viên
mãn của Ngô Thì Nhậm là những nhân tố cực kì quan
trọng khiến triều đại Tây Sơn đạt tới đỉnh cao hiển
hách, đã làm cho triều đình nhà Thanh vô cùng vị
nể.
Tài năng của Ngô Thì Nhậm còn được thể hiện
rõ nét ở một bình diện khác: Ông là một thi nhân
đích thực, chủ nhân của một gia tài văn chương đồ
sộ: 600 bài thơ và 15 tác phẩm lớn.
Phan Huy Ích đã nhận định về ông: "Tài
uyên bác thông đạt, trở thành ngọn cờ chót vót giữa
rừng nho chúng ta".
Thơ Ngô Thì Nhậm bao hàm nhiều mảng đề tài:
Những bài thơ tức cảnh cho thấy ông có khả năng
chộp bắt cái THẦN của mỗi đối tượng ông mô tả. Ví
dụ chỉ với hai câu thơ:
Khinh tuyết, ngạo sương, riêng bẩm tính
Khuôn thiêng khéo đã đúc nên dày.
đã khắc họa một ấn tượng mạnh về cốt cách của "cây
tùng đơn lẻ" - ngụ ý ca tụng cốt cách của một
đấng trượng phu chân chính.
Trong những bài thơ "ngôn chí", thơ
"tư tưởng", ông trình bày những tư tưởng
của một trí thức ở tầm cao của lịch sử, nêu bật
những gì ông chấp nhận và những gì ông phủ nhận
không khoan nhượng. Chẳng hạn, xét thời vua Lê -
chúa Trịnh - chúa Nguyễn, ông viết:
Vua - tôi đứng sững ba chân vạc,
Ông, tế (ông nhạc, chàng rể) hằn nhau, nửa cuộc
cờ!
...Cương thường muôn thuở còn bia miệng,
Hổ chọi, rồng tranh khéo vẽ trò!
Trong những bài thơ vịnh nhân vật lịch sử,
ông bộc lộ những tình cảm khâm phục, thương xót...
của mình với người xưa: Gia Cát Lượng, Giả Nghị,
Nhạc Phi, Chiêu Quân, Văn Thiên Tường, Tô Đông Pha...
Có thể dễ dàng nhận thấy ông tâm đắc.
Mảng thơ vô cùng quí giá của Ngô Thì Nhậm là
mảng thơ trữ tình, ở đó tình cảm đầy ắp của ông
như tuôn trào dưới ngòi bút. Chẳng hạn, trên đường
đi sứ Trung Hoa, gặp ngày sinh nhật của cha (Ngô
Thì Sĩ), nhớ đến cha đã mất, ông viết:
Xa xa xe hạc cách mây,
Lấy ai rượu thọ chén đầy dâng cha?
Rau thơm dâu cả ở nhà
Vắng tin mai nở, sứ xa cõi ngoài...
Ngoài thơ, Ngô Thì Nhậm còn viết phú, và những
bài "chiếu" làm thay vua Quang Trung,
(như Nguyễn Trãi xưa viết thay Lê Lợi) mà người
ta thấy ông đã lồng không ít những lý tưởng của
ông trong đó: Chiếu lên ngôi vua (1788), Chiếu cầu
hiền v.v...
Có lẽ điều đáng tiếc nhất trong văn nghiệp
của Ngô Thì Nhậm là ông đã không chú tâm sáng tác
"thơ Nôm", nền thơ dân tộc mà những bậc
tiền bối như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn
Bỉnh Khiêm... đã dày công vun đắp. Tuyển chọn một
số thi phẩm tiêu biểu viết bằng Hán văn của Ngô
Thì Nhậm, được các dịch giả am tường Hán học dịch
thành thơ Việt Nam, chúng tôi mong chuyển tải đến
quí độc giả cái hơi thở nồng nàn của tâm hồn và
trí tuệ một đấng sĩ phu kiệt xuất nửa cuối thế kỷ
XVIII mà tấm lòng son của ông còn rạng rỡ mãi với
sử xanh...
Thành phố Hồ Chí Minh tháng 06-1999
KIỀU VĂN
1. Ân thái sư Tỉ Can chi mộ 27. Hoá Châu kỳ
2 53. Tức cảnh kỳ 1
2. Đại phong 28. Kí lại bộ Tả Đồng Lôi Phong Hầu
54. Tức cảnh kỳ 2
3. Đề ngự bình đồ 29. Khẩu hành thụy nan 55. Tức
cảnh kỳ 3
4. Đề Nhạc Vũ Mục vương miếu 30. Khách quán trung
thu 56. Tái kinh Thiền Lâm tự
5. Đề Tỳ Bà đình 31. khâm ban nhật thị Thanh Di
điện cung ký 57. Tích vũ Huyền Trân
6. Đề Yển Thành Nhạc Vương miếu 32. Khiển hoài 58.
Thang Âm đạo trung, thu văn dã vọng
7. Đình tiền trì ngẫu hứng 33. Khiển muộn 59. Thạch
Long tuyền
8. Đăng Hoành Sơn vọng hải 34. Kinh Cát Thủy huyện
vấn Văn thừa tướng 60. Thị ngự chu quá Hà Trung
hồi cung ký
9. Cảm hứng 35. Lệ giang vãn diểu 61. Thụ Hàng thành
10. Cổ miếu 36. Lực tật thư hoài 62. Thu cúc
11. Cổ tự 37. Lãng ngâm 63. Thu châm
12. Cô chu 38. Ngôn hoài 64. Thu dạ
13. Cô tùng 39. Nguyệt dạ ngâm 65. Thu khuê
14. Chư Cát Vũ Hầu miếu 40. Nhật Lệ hải môn dạ phiếm
66. Thu nguyệt
15. Chiêu Quân mộ 41. Nhàn thuật 67. Thu thuỷ
16. Cung cận hoa 42. Như thử lương dạ hà ? 68. Thuỷ
thanh
17. Dạ phục độ Xích Bích giang khẩu 43. Nhuệ giang
tịch phiếm 69. Tiên khảo sinh thần cảm tác
18. Giang thiên vãn thiếu 44. Phụng chỉ trùng khai
Thiên Uy cảng cung kỉ 70. Trung thu
19. Giáng Hương 45. Phong Phạn Tự Tị Vũ 71. Vạn
Tùng sơn
20. Hạo Thành 46. Phong phàm quá hồ, kính dụng Lã
Tiên "Lãng ngâm phi quá Động Đình hồ"
thi cú 72. Vân Môn tự
21. Họa "Trùng dương tiểu chước" chi tác
47. Quá Chu Văn công miếu hữu hoài 73. Vãn du Pha
Tiên đình
22. Hữu sở tư 48. Quá Hành Sơn 74. Văn hải đào thanh
23. Hà Nam đạo trung 49. Quá Trường Sa ức Giả Nghị
75. Xuân mộ
24. Hoài nội kỳ 1 50. Sơn pha quy mã 76. Xuân ngâm
25. Hoài nội kỳ 2 51. Tam cố thảo lư 77. Yên Sơn
26. Hoá Châu kỳ 1 52. Tảo triều Trung Hòa điện tứ
nội, độc chiến thủ tấu nghị cung kỉ

|