|  

Lê
Văn Trương
Lê
văn Trương
bút hiệu Cô Lý
sinh năm 1906 tại làng Ðông Nhân (gần Hà Nội)
qua đời ngày 25 tháng11 năm 1964 tại Sài gòn.
sau năm 1954 ít viết
Tác
phẩm của Lê văn Trương:
Tuyển tập truyện ngắn :
Trước
cảnh hoang tàn Ðế Thiên Ðế Thích (Trung Bắc Tân
Văn Hànội - 1934)
Truyện dài: ( đã in thành sách)
Ðứa
cháu đồng bạc (Tân Dân - Hà Nội, 1939)
Tôi thầu khoán (Tân Dân - Hà Nội, 1940)
Một linh hồn đàn bà (Tân Dân - Hà Nội, 1940)
Một tội ác (Tân Dân - Hà Nội, 1941)
Một cuộc săn vàng (Tân Dân - Hà Nội, 1941)
Những con đường về (Tân Dân - Hà Nội, 1941)
Cô Thơm ( Duy Tân thư xã - Hà Nội, 1941)
Ðiệu đàn muôn thuở (Ðời Mới - Hà Nội 1942)
Ðầu bạc đầu xanh (Ðời Mới - Hà Nội, 1942)
Anh và tôi (Ðời Mới - Hà Nội, 1942)
Chồng chúng ta (hai quyển, Ðời Mới - Hà Nội, 1942)
Những kẻ có lòng (Ðời Mới - Hà Nội, 1942)
Hai người bạn (Ðời Mới - Hà Nội, 1942)
Kẻ đến sau (hai quyển Ðời Mới - Hà Nội, 1943)
Bóng hạnh phúc (hai quyển, Cộng Lực - Hà Nội 1942)
Sau phút sinh lý (Tân Dân Hà Nội 1942)
Sợ sống ( Lê Cường - Hà Nội 1942)
Những truyện trên "Phổ Thông bán nguyệt san",
xuất bản tại Hà nội và in trong khoảng 1937 - 1942:
Cô
Tư Thung (số 2)
Một người (hại tập, số 6 & 7)
Một người cha (số 12)
Một trái tim (số 15)
Con đường hạnh phúc (số 19)
Một lương tâm trong gió lốc (hai tập, số 21 &
22)
Trong ao tù trưởng giả (hai tập, số 28 & 29)
Ngựa đã thuần rồi, mời ngài lên (số 31)
Người con gái mới (số 38)
Tôi là mẹ (hai tập, số 43 & 44)
Cánh sen trong bùn (hai tập, số 51 & 52)
Bốn bức tường màu (hai tập, số 62 & 63)
Trường đời (ba tập, số 73, 74 và 75)
Nó giết người (số 84)
Người anh cả (ba tập, số ....)
Hai anh em (số 98)
Tiếng gọi của lòng (hai tập, số 106 & 107)
Lòng mẹ (hai tập, số 113 &114)
.............
Kỷ
niệm 100 năm ngày sinh và 42 năm ngày mất của nhà
văn Lê Văn Trương
Kỷ niệm 100 năm ngày sinh và 42 năm ngày mất của
nhà văn Lê Văn Trương, Nhà xuất bản Văn học vừa
xuất bản bộ sách Lê Văn Trương Tác phẩm chọn lọc.
Sách do Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn,
giới thiệu; gồm 2 tập gần 2000 trang khổ 16 x 24
Cm, bìa cứng in giấy đẹp, trình bày đẹp.
Nhà văn Lê văn Trương sinh ngày 02-2-1906 (Bính
Ngọ) tại Hà Nội, mất lúc 12giờ 30 ngày thứ ba, 13
tháng Giêng năm Giáp Thìn, nhằm ngày 25-2-1964)
tại căn nhà 100/67 đường Trần Hưng Đạo, Quận 2,
nay là Quận Nhất thành phố Hồ Chí Minh.
Sinh thời, Lê Văn Trương viết rất khỏe, đã xuất
bản trên một trăm tiểu thuyết có sức lôi cuốn nhiều
thế hệ bạn đọc. Sau đây là toàn văn Lời tựa của
nhà văn Triệu Xuân in trong bộ sách Lê Văn Trương
Tác phẩm chọn lọc.
NĂM
MƯƠI CHÍN NĂM SỐNG VÀ VIẾT
Lời tựa của nhà văn Triệu Xuân
Văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930-1945 nổi bật lên
hai văn đoàn. Văn đoàn thứ nhất có trên dưới chục
người, do nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam sáng
lập, mang tên Tự lực văn đoàn. Văn đoàn thứ hai,
thực ra chẳng có đoàn nào cả, chỉ có một người,
một mình một cõi nghênh ngang, nhưng số lượng tác
phẩm xuất bản, số lượng độc giả mê say tìm đọc không
thua kém gì văn đoàn thứ nhất, ấy là nhà văn Lê
Văn Trương. Trong lịch sử văn học Việt Nam từ năm
1930 đến nay, tài năng xuất chúng không ít, nhưng
tôi chưa thấy có nhà văn nào mà số kiếp lại lênh
đênh, ly kỳ như ông! Tính từ năm 1934, khi tác phẩm
đầu tay: tập truyện ngắn Những cảnh hoang tàn Đế
Thiên Đế Thích ra đời, , với 12 năm thực sự viết
văn, ông đã viết khoảng 120 tác phẩm, trong đó hầu
hết đã xuất bản! Trong Nhà văn hiện đại, quyển tư
tập thượng, Vũ Ngọc Phan cho rằng từ 1934 cho đến
khi tác giả viết về Lê Văn Trương, năm 1942, chỉ
tám năm, Lê Văn Trương đã cho xuất bản 52 tiểu thuyết!
Tất nhiên, thống kê này chưa thật đầy đủ, bởi Lê
Văn Trương có sách in ở rất nhiều báo, tạp chí,
tới 21 nhà xuất bản như sau này ông Nguyễn Ngu Í
đã công bố. Theo Nguyễn Ngu Í thì tổng số sách đã
xuất bản là 96 tác phẩm, sách chưa in là 29 cuốn,
chưa kể gần một chục bản thảo trước khi qua đời
(tháng 2 năm 1964), Lê Văn Trương bán cho các báo
và nhà xuất bản tại Sài Gòn, nhưng biệt tăm biệt
tích! Còn theo thống kê mà Lê Văn Trương công bố
với báo chí khi còn sống thì tổng số trước tác của
ông lên tới 247 cuốn! Giáo sư Hoàng Như Mai viết:
"Tổng số sách mà Lê Văn Trương sáng tác, có
nhiều cuốn hai ba tập, nếu chồng lên, phải cao hơn
hai mét!... Nước Pháp thường giới thiệu một nhà
văn của mình là Gioocgiơ Ximơnông, mỗi tuần hoàn
thành một cuốn tiểu thuyết. Thời kỳ viết hăng, Lê
Văn Trương cũng gần như vậy. Có lẽ cũng cần phải
nói rõ thêm, Lê Văn Trương trong bất cứ công việc
gì mà ông làm đều coi mình là một chiến sĩ, phải
chiến đấu, phải chiến thắng. Viết một bộ tiểu thuyết
dài hay một bài báo ngắn, luôn luôn ông nghĩ đang
đấu tranh với ai, với cái gì. Ông chỉ cho ngòi bút
nghỉ khi đích thân ông không hứng viết hoặc nhà
xuất bản không in kịp. Giá trị của một con người
được đo bằng sự cống hiến cho xã hội. Giá trị của
nhà văn tính ở những tác phẩm làm ra để phục vụ
độc giả (phục vụ theo nghĩa đúng). Lê Văn Trương
với những kết quả lao động nghệ thuật của mình xứng
đáng một chỗ đứng trên văn đàn1".
Lê Văn Trương quê gốc tỉnh Hà Đông, sinh năm Bính
Ngọ, 02-2-1906, trong một gia đình túc nho, tại
làng Đồng Nhân, nay thuộc khu vực phố Thịnh Yên,
quận Hai Bà Trưng, thủ đô Hà Nội. Cha ông đỗ tam
trường, mẹ ông cũng là bậc thâm nho, con gái một
gia đình khoa cử. Người cha cho con sống khá tự
do, nhưng người mẹ dạy dỗ các con khắt khe: "Nếu
làm nên vương tướng gì thì làm, bằng không, phải
giữ lấy nếp nhà"! Thuở nhỏ, Lê Văn Trương học
chữ Hán từ song thân, khi gia đình lên lập nghiệp
ở Bắc Giang, ông học Quốc ngữ và tiếng Pháp tại
đó. Lê Văn Trương thông minh tuấn tú, học giỏi,
thi đậu vào trường Bưởi (Lycée du Protectorat).
Năm 1923, Lê Văn Trương vừa mười bẩy tuổi, học năm
thứ hai, chứng kiến cảnh viên hiệu trưởng người
Pháp lăng nhục một học sinh người Việt là Sale Annamite!
(đồ Annam bẩn thỉu), ông liền cùng bạn bè thân hữu
tổ chức bãi khóa. Vì thế là bị đuổi học!
Lê Văn Trương tự học trong ba năm và thi đậu vào
ngành bưu điện năm 1926. Thời bấy giờ, được làm
công chức cho chính quyền thuộc địa lương bổng dư
dật lắm. Có nhiều nhà văn, nhà thơ lúc đó làm công
chức cho Pháp. Nhưng chính quyền thực dân không
buông tha Lê Văn Trương vì thành tích: từng tổ chức
bãi khóa chống người Pháp! Thế nên ông bị đẩy sang
tận Campuchia, làm việc ở thủ đô Phnôm Pênh được
một thời gian, ông lại bị chuyển lên Mongkolboray
làm Trưởng bưu cục xứ hoang vu, heo hút. Năm 1927,
may mắn mỉm cười với ông: Ông yêu và được một cô
gái xinh đẹp, nết na hiền thục, con nhà giàu có
đáp lại. Cô là Ngô Thị Hỷ, có cha người Bắc, mẹ
người Nam, sang Campuchia làm ăn từ lâu. Bà Hỷ sau
này theo ông đi kháng chiến, năm 1948 chết vì đạn
lạc của Pháp trong một trận càn quét. Lê Văn Trương
rất yêu thương, nhung nhớ và ơn sâu nghĩa nặng người
vợ cả và thường xuyên nhắc đến bà trong đời cũng
như trong văn.
Ba năm sau khi cưới vợ, Lê Văn Trương bỏ nghề bưu
điện, cùng vợ về sống ở Lovéa thuộc tỉnh Battambang
(Campuchia). Ông dốc vốn làm nghề khẩn hoang lập
đồn điền và trúng thầu xây dựng con đường xe lửa
nối thủ đô Phnôm Pênh với Battambang. Ngày khai
trương tuyến đường ấy, ông là lái buôn đầu tiên
thuê nguyên một đoàn tàu mười toa chở toàn bò từ
Battambang về thủ đô Campuchia. Từ đó ông hành nghề
thầu khoán, xây dựng hầu hết cầu cống quan trọng
ở Campuchia.
Cuộc khủng hoảng kinh tế 1931-1932 làm Lê Văn Trương
lao đao. Các nhà băng của Pháp đòi những khoản nợ
ông vay để khai hoang lập đồn điền. Ông dẫn vợ và
các con hồi hương. Những ngày mưa dài tới bốn, năm
tháng ở đất Cambốt đã nảy sinh trong ông khát vọng
viết văn viết báo. Ông tập tọng viết từ đó. Về Hà
Nội, ông lao vào viết. Ông Nguyễn Văn Vĩnh chủ bút
tờ nhật báo Trung Bắc tân văn mời ông giữ mục Trắng
đen. Ông giữ mục này, mỗi ngày tung ra một bài ngăn
ngắn, và ngay lập tức cái tên Cô Lý (Lý lẽ của một
người, chứ không phải cô gái tên Lý hay họ Lý) khiến
làng báo làng văn chú ý. Làm báo một năm, ông tập
trung cho việc sáng tác văn học. Giai đoạn này,
ông lấy người vợ hai, tên là Đào, vốn là hoa khôi
của vũ trường Fantasio, phố Hàng Bông. Bà vợ cả
Ngô Thị Hỷ quá yêu chồng, chiều chồng, thương con
nên có ghen tuông cũng dằn ở đáy lòng, chấp nhận
thực tế! Vừa làm báo, viết văn, đôi khi ông cùng
đệ nhị phu nhân đánh quả thuốc phiện ở mạn Bắc Giang,
và đã từng làm thầu xây dựng đường sắt Vân Nam,
xây dựng đường trong sân bay cho Tưởng Giới Thạch
ở Nam Trung Hoa!
Sau tập truyện ngắn đầu tay Trước cảnh hoang tàn
Đế Thiên Đế Thích được nhà Trung Bắc Tân văn của
Nguyễn Văn Vĩnh xuất bản (1934), nhà Tân Dân của
ông Vũ Đình Long chú ý đến ông, chèo kéo ông, để
rồi biết ông là con gà đẻ trứng vàng, đã vô cùng
chiều đãi ông. Lê Văn Trương trở thành thành viên
quan trọng hàng đầu của nhà xuất bản Tân Dân, cùng
với các nhà văn nổi tiếng như Tản Đà, Vũ Bằng, Nguyễn
Tuân, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng,
Lan Khai, Thanh Châu, Ngọc Giao, Tchya Đái Đức Tuấn,
Trần Huyền Trân, Nam Cao, Bùi Hiển, Mạnh Phú Tư,
Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, Như Phong, Kim Lân, Thâm
Tâm Nguyễn Tuấn Trình, v.v… Trên các cơ quan ngôn
luận của Tân Dân - nhà xuất bản lớn ở Việt Nam lúc
bấy giờ - như Tiểu thuyết thứ Bẩy, Phổ thông bán
nguyệt san, Ích hữu, Truyền bá, các tác phẩm của
Lê Văn Trương được in liên tục, hết cuốn này tới
cuốn khác. Tiểu thuyết thứ Bẩy và Phổ thông bán
nguyệt san tiếng là tờ báo, nhưng không hề có thông
tin thời sự, xã luận, không làm chức năng báo chí
mà chỉ in rặt tiểu thuyết, truyện ngắn! Bạn đọc
trông chờ từng số báo của Tân Dân để đón đọc tiểu
thuyết tôn vinh nhân vật người hùng của Lê Văn Trương.
Từ năm 1935 cho đến năm 1942, tám năm trời này là
giai đoạn Lê Văn Trương khởi sắc, thăng hoa nhất,
tiếng tăm nổi danh khắp nước. Nhiều người Việt Nam
sống và làm việc ở nước ngoài cũng đặt mua định
kỳ tác phẩm Lê Văn Trương. Nói như Nguyễn Ngu Í,
"đây là thời đại hoàng kim của tiểu thuyết
gia Lê Văn Trương".
Rồi ông Vũ Đình Long giao cho Lê Văn Trương làm
chủ bút tờ Ích hữu, ra số đầu tiên ngày 25-2-1936.
Đây thật sự là một tờ báo, với đủ các mục, có cả
mục học chữ Hán, thế nhưng phần quan trọng nhất,
ăn khách nhất của tờ Ích hữu vẫn là đăng tiểu thuyết!
Gần hai năm sau, Lê Văn Trương ra Ích hữu bộ mới,
số đầu tiên xuất bản ngày 8-12-1937, trong Ban biên
tập có Trương Tửu Nguyễn Bách Khoa, Lê Tràng Kiều,
Phạm Ngọc Khuê và Nguyễn Đình Lạp. Rất tiếc, báo
ra được sáu tháng, bắt đầu được chú ý thì đình bản!
Năm 1940, bà Ngô Thị Hỷ sanh con gái út, đặt tên
là Lê Thị Giáng Vân. Ái nữ Giáng Vân được cha mẹ
vô cùng cưng chiều. Cho đến lúc này, Lê Văn Trương
có năm con: bốn trai và gái út. Đây là giai đoạn
gia đình nhà văn sống vương giả, bà cả một dinh,
bà hai một dinh. Riêng bà hai, Lê Văn Trương lập
một trang trại ở Láng, giao cho trông nom để chuyên
thù tiếp bạn văn. Hàng chục nhà văn trở thành thực
khách thường xuyên của gia đình này. Có lúc, tại
trang trại Láng, gần hai chục người đến đây tá túc,
ăn uống và sáng tác, chỉ đến khi chủ nhân hết tiền
thì mới lánh đi một thời gian để rồi lại hội ngộ
ngay sau khi Lê Văn Trương nhận tiền nhuận bút tác
phẩm mới. Mỗi khi Lê Văn Trương nhận tiền nhuận
bút, ông rủ rê đàn em đi ăn nhậu, tom chát (hát
cô đầu), chơi tổ tôm, và hút hít cho đến kỳ sạch
bách số tiền nhuận bút mới thôi! Có một điểm tương
đồng giữa Lê Văn Trương và Vũ Bằng. Vào thời kỳ
cực thịnh tại Hà Nội, nhà văn Vũ Bằng cũng hào hiệp
cưu mang, giúp đỡ từ cơm áo, tài chính, đến gợi
ý, hướng dẫn về văn nghiệp cho rất nhiều nhà văn
mới vào nghề. Lê Văn Trương cũng thế, tuy thích
khoa trương hơn, ồn ào hơn Vũ Bằng, nhưng bản chất
hào hiệp, quý trọng nhân tài, trọng nghĩa khí, coi
thường danh vọng và tiền bạc ở Lê Văn Trương đã
khắc sâu trong óc trong tim hàng chục nhà văn. Con
người đã bộc lộ ý chí bất khuất trước cường quyền,
sớm dấn thân vào kiếp giang hồ ngay từ năm mười
chín tuổi, bôn ba khắp Đông Dương, sang tận Thái
Lan, từng buôn lậu, chủ thầu xây dựng cho Tưởng
Giới Thạch ở Trung Hoa, con người với trái tim nhạy
cảm, được giáo dưỡng theo truyền thống Nho gia,
hấp thụ nhanh chóng văn hóa văn minh Tây phương,
hẳn không phải bình thường! Ông, tự nhiên nhi nhiên,
trở thành Mạnh Thường Quân trong làng văn làng báo.
Một Lê Văn Trương cao lớn nghĩa hiệp, một Lê Văn
Trương trong đời thường thì ồn ã, thích phô trương,
chơi ngông, thích nói tục; trong văn chương thì
hơi cường điệu, thái quá tính cách nhân vật, con
người ấy hẳn không coi khuôn phép sáo mòn, cổ hủ
là gì! Được biết sau khi sống với người vợ hai,
ông còn yêu và được yêu bởi cô gái đẹp mỹ miều mới
mười bẩy tuổi. Người này được bà vợ cả quý mến.
Bà cả cùng bà hai đi cưới bà ba về cho chồng! Thế
nhưng Lê Văn Trương - rất không giống ai - không
bao giờ chịu có con với bất cứ người đàn bà nào
ngoài bà vợ cả! Chính ông đã khuyên nhủ người con
gái, người đàn bà thứ ba, gắn bó với ông vài năm
ấy, đi lấy chồng. Bà này, sau vô Sài Gòn, lập gia
đình và có con cháu phương trưởng. Trong đám tang
Lê Văn Trương, bà xuất hiện và không giấu giếm tình
yêu mãnh liệt với nhà văn!
Văn chương của họ Lê với lý tưởng người hùng trọng
Danh dự và Tổ quốc xuất hiện vào thời đoạn năm năm
sau cuộc khởi nghĩa Yên Bái bị dìm trong máu, những
chiến sỹ Quốc dân Đảng bị thực dân Pháp chặt đầu.
Phong trào Cộng sản đang còn trứng nước đã bị Pháp
đàn áp dã man khi nổ ra Xô Viết Nghệ Tĩnh. Thanh
niên Việt Nam, nhất là giới trí thức và hàng triệu
người dân thành thị ngơ ngác không biết chọn con
đường nào để sống và hy vọng, ước mong. Văn chương
Tự lực văn đoàn như gấm như hoa, đài các, in đậm
dấu vết của tầng lớp trưởng giả trong xã hội, đã
thu hút một phần công chúng văn học. Số còn lại,
gặp tiểu thuyết Lê Văn Trương như nắng hạn gặp mưa
rào! Những tiểu thuyết và truyện vừa: Cô Tư Thung,
Trường đời, Trận đời, Tôi là mẹ, Một lương tâm trong
gió lốc, Bốn bức tường máu, Những đồng tiền xiết
máu, Người anh cả, Một người, Một người cha, Một
trái tim, Cánh sen trong bùn, Cô giáo tỉnh lỵ, Kiếp
hoa rơi, Lịch sử một tan vỡ, Một tội ác, Một linh
hồn đàn bà, Anh và tôi, Trong ao tù trưởng giả,
Tiếng gọi của lòng, Anh Vẹo, Ông hoàng một đêm,
Người vợ lý tưởng, Người vợ hoàn toàn, Đứa con hạnh
phúc, Đứa cháu đồng bạc, Chồng chúng ta, v.v… đã
trở thành cái phao cứu sinh cho biết bao tâm hồn
con người vịn vào giữa cuộc đời đầy giông bão.
Chiến tranh thế giới thứ hai vào giai đoạn liệt,
giao thương Bắc Nam bị nghẽn, văn hóa đọc tạm thời
lắng xuống, người ta mải lo toan làm sao cho an
toàn tính mạng và kiếm sống, yên ổn gia đình… Bởi
thế, số lượng báo, sách phát hành giảm nhanh chóng.
Từ năm 1943, Lê Văn Trương viết ít và in ít hẳn
so với trước đó một năm. với nhiều nhà văn nhà thơ
nhiệt tâm với dân tộc, Lê Văn Trương hưởng ứng lời
kêu gọi Lê Văn Trương ra tờ báo Việt Nam hồn,
Năm 1953, vì lâm trọng bệnh, ông phải về Hà Nội
chữa trị. Về Hà Nội, ông chữa bệnh rồi cộng tác
với tờ báo Mới ở Sài Gòn của Phạm Văn Tươi và Lê
Văn Siêu. Trong thời gian này, Lê Văn Trương cho
xuất bản chín, mười cuốn tiểu thuyết mới viết, trong
đó có Cô em họ và Người của mùa xuân. Tháng Sáu
1954, trước khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Lê
Văn Trương vô Sài Gòn, tiếp tục làm báo, viết văn
và tái bản một số tác phẩm. Ông vô Sài Gòn một mình,
ở chung với Lê Văn Siêu tại tòa soạn báo Phương
Đông. Khi hai miền Bắc Nam bị chia cắt, vợ ông mới
vô theo, ở đường Arras, nay là Cống Quỳnh. Đầu năm
1956, họ mới mua căn nhà trong hẻm 100/67 Trần Hưng
Đạo. Thời gian đầu, Lê VănTrương còn rủng rỉnh tiền
bạc. Ông sắm xe hơi, thuê một phòng trong khách
sạn Nations đường Nguyễn Huệ để đến đó viết văn.
Ông cũng theo đuổi nghề thầu khoán, nhưng thất bại.
Thế rồi, không hiểu số phận xui khiến ra sao, ông
vô làm cho Nha chiến tranh tâm lý của chính quyền
Ngô Đình Diệm được vài tháng, rồi nghỉ. Kế đó, ông
làm việc cho Đài phát thanh Sài Gòn, cũng chưa đầy
nửa năm thì bị sa thải vì chính quyền Sài Gòn nghi
ông dính líu đến vụ đảo chính Ngô Đình Diệm. Vài
tháng sau khi nghỉ việc ở đài phát thanh Sài Gòn,
ông ốm nặng, sống trong nghèo túng, không tiền thuốc
thang, không tiền vô bệnh viện. Hàng ngày, ông lê
bước trên từng hè phố Sài Gòn, một tay chống can,
một tay ôm bản thảo đi bán hết tòa soạn báo này
tới nhà xuất bản khác, nhưng vô hiệu! Thật đáng
thương cho một nhà văn vang bóng một thời, từng
nghênh ngang một cõi, từng cưu mang biết bao nhà
văn nhà báo, nay mắc bệnh phổi cùng nhiều thứ bệnh
khác vô phương, cứu chữa, phải sống trong nghèo
túng. Bà vợ hai quê Nam Định được bạn bè giúp cho
ít vốn mua gạo về bán lẻ ở chợ đắp đổi qua ngày…
Đường cùng, ông kêu bán nhà. Nhà chưa bán được mà
ông sắp trút hơi thở tàn. Căn nhà ông mua ở số 100/67
đường Trần Hưng Đạo, phường Bùi Viện, khóm 8, Liên
gia 9, Quận Nhì (nay là Quận Nhất thành phố Hồ Chí
Minh), vốn là đất chú Hỏa (tư sản người Hoa, sở
hữu rất nhiều nhà đất tại Sài Gòn Chợ Lớn). Sau,
là đất công. Vậy mà, thương thay, trên bìa của tờ
khai gia đình (sổ đăng ký hộ khẩu), ông nắn nót
viết lên dòng chữ: Nhà, Đất của tôi! Trong tờ khai
gia đình, chỉ có tên hai người: 1- Lê Văn Trương,
2-2-1905, Hà Nội, nhân viên đài phát thanh Quốc
gia. 2- Nguyễn Thị Đào, 1919, Nam Định, buôn bán.
Thuật lại chuyện này, nhà văn Nguyễn Ngu Í xót xa
viết: "Đất của tôi, trong khi đất chẳng phải
của mình. Anh đã viết trong hồi trí chưa tỉnh nên
của người lầm tưởng của mình? Hay vì buồn thấy mình
trọn đời luân lạc, chẳng biết nhắm mắt ngày nào,
mà chẳng có lấy một tấc đất trong tay, đành dối
mình bằng bút mực?".
*
Nhà văn Nguyễn Ngu Í viết: Tôi may mắn gặp được
một trong những người con nuôi của anh, tên là Phú,
đã sống bên anh trong những ngày cuối cùngvà đã
đưa anh vào nhà thương.
- Cậu cháu đau nặng từ 28 Tết (thứ ba, 11-2-1964)-
Phú kể- Vì già có, vì ăn uống thiếu thốn có, lại
còn mắc bệnh ho nữa. Nhưng cậu cháu lại không nằm
nhà để tĩnh dưỡng, lại cố đi thăm các nhà báo quen
đã giao bản thảo để mượn ít tiền tiêu Tết, nhưng
chẳng gặp ai, trở về nhà, kiệt sức.
- Cháu có nhớ cậu thăm những ai và tên những bản
thảo gởi cho họ không?
- Cậu cháu tìm đến chú Mặc Thu, chú Nguyễn Vỹ và
ông Nguyễn Văn Ba. Còn tên tác phẩm, con chỉ nhớ
có một cuốn: Vĩ nhân trong đêm gởi chú Mặc Thu.
Chị Trương (bà hai) tiếp lời:
- Nhà em đau nặng từ 28 Tết, nhưng em đã rất lo
từ trên hai tháng trước. Em nhớ nhà em không làm
ở đài phát thanh Quốc gia được chừng một tháng thì
xảy ra cuộc đảo chánh mồng 1 tháng 11. Trước đó
mấy ngày, vào buổi trưa, một đứa con nuôi của nhà
em hốt hoảng chạy về cho em hay, nhà em té xỉu trước
rạp hát bóng Đại Nam, em chạy ra đưa nhà em về.
Nhà em đau nặng từ đấy. Đến mồng 9 Tết, anh chị
Đinh Hùng đến thăm. Thấy nhà em suy yếu quá, anh
Đinh Hùng hỏi có bằng lòng cho anh em đăng lên báo
nhờ bạn bè giúp để vào nằm nhà thương không. Nhà
em bằng lòng.
Phú tiếp: Bệnh tình cậu cháu càng nguy kịch, chưn
thì sưng lên, nhiều lúc sảng mê. Mợ cháu quyết định
bán nhà để có tiền đưa cậu vào bệnh viện. Ngày 22-2
tây, có anh Sa Giang Trần Tuấn Kiệt thay mặt chú
Nguyễn Vỹ đến thăm, thấy tình cảnh ấy, nói với cháu
cứ sửa soạn lần đi, ảnh về nói với chú Nguyễn Vỹ
đưa tiền để đưa cậu cháu vô nhà thương. Ảnh vừa
đi thì có người đến đặt cọc mười ngàn đồng để mua
nhà.
Chị Trương xen vô:
- Lúc ấy em không có ơ nhà. Nhà em mới lấy tiền
ấy bảo cháu Phú đưa vào nhà thương Đô Thành. Nằm
trên giường bệnh rồi, nhà em lấy mười ngàn bạc rải
ra chung quanh và trên mình. Chính lúc đó anh TrầnTuấn
Kiệt đến trao năm trăm bạc của chú Nguyễn Vỹ.
Người con nuôi nói tiếp:
- Nằm nhà thương mà cậu con bỏ đi ra ngoài thường
lắm. Bác sĩ bảo Đô Thành là nhà thương cứu cấp,
mà cậu cháu thì bị lao, nên đưa vô nhà thương Chợ
Rẫy. Trưa ngày 25-2, cậu cháu thấy mình khó sống,
bảo đưa về nhà gấp. Về nhà độ nửa giờ cậu cháu mất.
Nguyễn Ngu Í kết luận: Và anh đã chết âm thầm,
với tuổi già, với bịnh tật, với túng thiếu, với
dày vò, trong căn nhà hẹp.
Khi nhà thơ Đinh Hùng viết lời kêu gọi bạn hữu
góp tiền giúp Lê Văn Trương, đăng báo Người Việt
Tự do, ngày 27-2-1964 báo mới phát hành thì 12 giờ
30 trưa ngày 25-2 (tức ngày 13 tháng Giêng năm Giáp
Thìn, 1964), nhà văn đã trút hơi thở tàn, ngày 26
khâm liệm và mai táng tại nghĩa địa Phú Thọ Hòa
rồi!
Ngày ở Hà Nội, Lê Văn Trương rất mê tổ tôm. Vô
Sài Gòn, ông rất thích nuôi mèo. Trong căn nhà nhỏ
tồi tàn ở hẻm 100 Trần Hưng Đạo, ông nuôi tới ba
chục con mèo. Khi ông chết, mấy chục con mèo kêu
la thảm thiết rồi phủ phục liếm chân, tay ông. Tang
lễ xong, bà Trương dọn nhà về bên Khánh Hội, nhưng
đêm đêm người ta vẫn nghe thấy tiếng hàng chục con
mèo về gào lên thảm thiết ở quanh căn nhà trong
hẻm nay đã về tay chủ mới!
Sau ngày đất nước hòa bình thống nhất, các con
của nhà văn Lê Văn Trương từ Hà Nội vô sống tại
Sài Gòn đã cải táng và dời mộ cha về an táng tại
Gò Dưa, thuộc quận 12 thành phố Hồ Chí Minh. Ngày
xây ngôi mộ hoàn tất, Trần Văn Giàu, Giáo sư Hoàng
Như mai và nhiều bạn bè thân thiết đã đến viếng
Lê Văn Trương. Những tưởng nhà văn sẽ được yên giấc
ngàn thu từ đây. Nào ngờ, khu đất mà ái nữ của ông,
kỹ sư nông nghiệp Lê Thị Giáng Vân (nay đã nghỉ
hưu) mua, lại nằm trong khu vực giải tỏa để an toàn
lưới điện 500 KV. Thế là, số kiếp lênh đênh, lận
đận của nhà văn Lê Văn Trương, một lần nữa tiếp
tục bám riết lấy ông. Ông mất đã bốn mươi mốt năm
tròn mà nay lại phải đi tìm nơi an nghỉ mới! Chữ
đất của tôi mà ông viết nắn nót trên bìa tờ khai
gia đình xem ra vẫn mãi mãi chỉ là ước ao, chưa
thành hiện thực!
*Trong bài báo in trên tờ Tia Sáng, ngày 30-10-1953,
Lê Văn Trương viết về một tác phẩm của Triều Đẩu,
có đoạn: "Nếu ngòi bút phải là một cái máy
ảnh, nếu nghệ sĩ chỉ là thằng hề chạy theo mà nhai
lại cuộc đời cho chúng ta xem, thì đời không cần
nghệ sĩ. Chúng ta đòi hỏi ở nghệ sĩ một cái gì hơn
thế, chúng ta đòi hỏi ở nghệ sĩ những gì nó không
hẳn là sự thật, mà nó đúng hơn sự thật. Chúng ta
đòi hỏi ở nghệ sĩ những điển hình của sự sống không
phai nhạt đối với thời gian".
Phương pháp tư tưởng của Lê Văn Trương về điển
hình hóa trong văn học đã thể hiện rất rõ qua mấy
dòng này.
Thế còn Người hùng, Triết lý sức mạnh? Nhà xuất
bản Hương Sơn ở số 97 phố Hàng Bông Hà Nội, năm
1938 đã in bài diễn thuyết của Lê Văn Trương, tại
Hội Trí Tri, ngày 10 tháng Giêng năm 1938 nhan đề
Một phương châm xử thế hay Triết lý sức mạnh. (Bài
diễn thuyết này khi in thành sách đã bị kiểm duyệt
cắt bỏ khá nhiều khiến Lê Văn Trương vô cùng tức
giận, phải văng tục - cái tật cố hữu của ông- nhiều
lần)! Trong đó, Lê Văn Trương trình bày năm vấn
đề: Triết lý sức mạnh, Quan niệm về người hùng (homme
fort), Triết lý sức mạnh đem ứng dụng cho cá nhân,
Triết lý sức mạnh đem ứng dụng cho quốc gia và cuối
cùng là Những ảnh hưởng, lợi ích của triết lý sức
mạnh trong thực tế. Khi Lê Văn Trương tung ra triết
lý sức mạnh, không ít người thời ấy, nhất là những
đồng nghiệp ở các tờ báo, nhà xuất bản cạnh tranh
trên thị trường chữ nghĩa với ông hết lời đả kích,
cho rằng ông copy học thuyết của Nietzsch. Họ cho
rằng người hùng của ông chỉ là kẻ đạo đức giả, chỉ
là con nít ranh! Tại buổi thuyết trình này, Lê Văn
Trương giãi bày: "Tôi không học cái triết lý
ấy ở các sách, mà chính là tôi đã thâu thập được
nó ở trên trường đời cạnh tranh, trong bao nhiêu
năm luân lạc, trong bao nhiêu năm phấn đấu, trong
bao nhiêu năm đau khổ". Ông nhấn mạnh: "Triết
lý sức mạnh bắt nguồn ngay ở sự sống. Nó đột khởi
lên một cách rõ rệt ở những cuộc tranh đấu".
Lê Văn Trương cho đời là một cuộc tranh đấu không
ngừng… tất cả cuộc đời là hiện thân của triết lý
sức mạnh… Đường rừng cũng như đường đời, những con
đường vinh quang, rộng rãi chỉ để giành cho giống
khỏe. Tư duy như thế cho nên ông không ngừng cổ
vũ cho việc rèn luyện sức khỏe, bản thân ông từ
lúc lạc phách gia nhập chốn giang hồ đã học võ nghệ,
tập bắn súng, cưỡi ngựa (Lê Văn Trương bắn súng
bằng cả hai tay rất giỏi, phóng phi tiêu ở mọi tư
thế đều vào hồng tâm)… để có đủ điều kiện dấn thân
chấp nhận luật tranh đấu của loài người. Ông viết:
"luật tranh đấu làm cho giống người ngày một
tinh xảo, trái đất ngày một đẹp đẽ, sự sống ngày
một nhiều sinh thú và ý nghĩa". Ông là người
thiết tha yêu nước, vô cùng tự hào với truyền thống
dân tộc. Khi nói đến lịch sử vẻ vang của đất nước,
ông nhấn mạnh đến vai trò của sức mạnh nòi giống:
"Trong lịch sử ta có hai chiến công oanh liệt
tỏ cái sức mạnh xung thiên của giống nòi. Đó là
khi Trần Hưng Đạo đánh bại quân Nguyên, và Nguyễn
Quang Trung đánh bại quân Thanh". Coi Triết
lý sức mạnh như là phương châm sống, phương châm
xử thế, cắt nghĩa nguyên nhân mà dân tộc ta luôn
luôn chiến thắng quân xâm lược phương Bắc, Lê Văn
Trương kêu gọi mọi người noi gương cha ông đồng
tâm, đoàn kết: "Thấu triệt triết lý sức mạnh,
ông cha ta thắt chặt giải đồng tâm lại, tập trung
tất cả sinh lực của giống nòi lại, rồi hùa nhau
cùng hy sinh để mạnh, mạnh để đối ngoại, ông cha
ta đã biết đối đầu với sự thực tàn nhẫn bằng một
ý nghĩ tàn nhẫn: Một là còn với sự đắc thắng oanh
liệt, hai là ngã một cách vinh dự".
Nói đến tác phẩm văn học của Lê Văn Trương, có
không ít người phê phán gay gắt: ông viết ẩu, câu
cú dây cà ra dây muống, thích trực ngôn, luận thuyết
dài dòng… Những người chê bai đều xuất phát từ việc
phê phán cái Triết lý sức mạnh của họ Lê. Thật bất
hạnh cho Lê Văn Trương, cái mà ông đề cao lên thành
triết lý thì chính ông đã tự coi là, và chỉ là,
một phương châm xử thế! Vậy mà người đời hết chê
ông ảnh hưởng Nietzsch lại bảo ông vơ lấy phân tâm
học của Freud! Người ta phỉ báng ông bởi cái mà
ông gọi là triết lý ấy không có cơ sở triết học
và nhân vật văn chương của ông chỉ là những minh
họa tồi cho cái lý thuyết chắp vá kia mà thôi!
May thay, không phải ai cũng phủ nhận Lê Văn Trương!
Ngay từ năm 1940, trước Vũ Ngọc Phan hai năm, Lan
Khai đã viết một cuốn sách nhan đề: Lê Văn Trương,
mớ tài liệu cho văn học sử Việt Nam, Nxb Minh Phương
ấn hành tại Hà Nội. Sau này, tại Sài Gòn, Nguyễn
Vỹ viết chân dung Lê Văn Trương trong tập Văn Thi
sĩ tiền chiến, in rải rác trên tạp chí Phổ thông
của Nguyễn Vỹ, ông Nguyễn Hùng Trương, chủ Nhà sách
Khai Trí in thành sách năm 1970. Cả Lan Khai lẫn
Nguyễn Vỹ đều đánh giá cao tài năng, phẩm cách và
thẳng thắn nói rõ những hạn chế, những thói tật
của Lê Văn Trương. Một tác phẩm văn học ra đời,
khen chê là chuyện bình thường. Thế nhưng công chúng
yêu văn học và bản thân tác giả bao giờ cũng mong
có được sự khen chê một cách khoa học và công tâm.
Sinh thời, Lê Văn Trương không mấy quan tâm đến
những lời chê bai mình. Ông sống như mình muốn,
thích làm, thích viết những gì mình khoái. Văn ông
chính là con người ông, chân thực, không giả tạo.
Đây là ngoại hình nhà văn: "Ngoài ba mươi tuổi,
tầm vóc cao nhớn, dáng đi lừ lừ như con cá trắm
lội, với một màu da bánh mật, gương mặt rắn câng,
một cái trán hẹp1 của người thiết thực, đôi mắt
sâu gườm gườm và những cái nhìn nhanh như chớp.
Miệng không rộng, môi trên hơi vểnh lên nổi một
chiếc răng cửa khểnh"... "Bất cứ lúc nào
và ở đâu ông nói nhiều hơn ai hết… Không nói, Lê
Văn Trương rất có thể chỉ là một mớ tro tàn".
(Lan Khai, sách đã dẫn). Nguyễn Vỹ viết: "Lê
Văn Trương chửi thề toang toác chẳng sợ ai cười…
chuyên môn nói tục nói phét, chỉ được cái thành
thật không làm hại ai cả"! Lan Khai cho rằng
lý thuyết của Lê Văn Trương là "một cuộc cách
mạng tinh thần dựa trên thiên hướng và ánh sáng
của Khổng học". Về điểm này, Lan Khai quả là
người thấu hiểu Lê Văn Trương. Hầu như tư tưởng
của hầu hết những tác phẩm văn học quan trọng của
Lê Văn Trương đều thấm đẫm lòng nhân ái, bừng sáng
nhân nghĩa lễ trí tín. Những nhânvật chính trong
Người anh cả, Tôi là mẹ, Trường đời, Trận đời, Một
người… đều sống, hành động theo thiên hướng và ánh
sáng của Khổng học. Cắt nghĩa tại sao Lê Văn Trương
đã một mình nghênh ngang, văn chương "dây cà
ra dây muống" mà chinh phục được quá nhiều
bạn đọc thời ấy, Lan Khai viết: "Ông đã đem
tới cho tâm hồn quần chúng xứ này một sự bồng bột
mới sau khi nó đã bị những vết thương đẫm máu làm
tê tái và đã bị xâm chiếm bởi cái trống rỗng sau
một sự cười cợt kéo dài quá cái hạn định hợp với
lẽ phải… Ông đã tỏ ra săn sóc đến cái phần hồn của
quần chúng hơn tất cả các văn sĩ hiện tại, săn sóc
một cách đôn đốc, hăng hái, mê say". Lan Khai
có lý khi cho rằng Lê Văn Trương chinh phục bạn
đọc bắt đầu bằng việc tự thể hiện những khao khát
trong tâm hồn mình đi tới thể hiện cái khát khao
của muôn người. Một nhà văn, bất cứ ở thời đại nào,
đất nước nào, nếu làm được như thế, thành công là
tất yếu!
Những nhân vật như Linh trong Một người, Trọng
Khang trong Trường đời, Vĩnh trong Tôi là mẹ… là
những mẫu người sống theo tam bất: Bần tiện bất
năng di, phú quý bất năng dâm, uy vũ bất năng khuất.
Họ coi thường tiền tài danh vọng mà chỉ trọng danh
dự, vượt lên tất cả để sống cho ra một con người.
Nhà văn Nguyễn Ngu Í thuật lại lời của Triều Đẩu:
"Non ba mươi năm trước tôi là một quan phán
bất đắc dĩ. Anh còn lạ gì cái cảnh thiệt thòi, lắm
khi tủi nhục của người công chức thời thuộc Pháp
ở Nam hay ở Bắc gì cũng thế. Giữa lúc ấy, tôi đọc
tiểu thuyết Một người của Lê Văn Trương. Linh, viên
tham tá trẻ tuổi con nhà giàu, vì đôi lỗi lầm nhỏ,
bị viên sếp người Pháp mắng nặng lời và tát tai.
Linh xấu hổ xông lại toan làm dữ, thì viên sếp hồi
tâm xuống nước, rồi dọa: Tôi sẽ cách chức anh! Linh
đáp ngay: Tôi không cần! Ngay từ bây giờ, tôi sẽ
từ giã cái địa ngục mà người ta coi tôi như chó
lợn này. Cha dọa dẫm, mẹ năn nỉ, Linh nhứt định
thôi việc, nhận sống đời thiếu thốn gian lao của
một người trai trọng danh dự… Cái phản ứng quyết
liệt và khí phách của Linh đã gây một niềm hào hứng
đặc biệt trong giới anh em công chức trẻ lúc bấy
giờ. Chúng tôi coi Linh như người lý tưởng và coi
tác giả Một người là thần tượng" (Sống và viết
với… sách đã dẫn). Nhà văn Ngọc Giao viết: "Số
lượng tác phẩm khổng lồ của Lê Văn Trương, trước
khi in, tôi đều đọc bản thảo, thật tình, chưa hề
bắt gặp một truyện nào thiếu đạo đức, vắng cái hào
khí của con người đất Việt1". Sau khi chồng
qua đời, bà Trương kể với Nguyễn Ngu Í: "Cách
đây khoảng bẩy tháng, có một ông cụ ở Pháp về, tìm
đến tận nhà, hết lời ngợi khen và cảm ơn nhà em:
Nhờ quyển Sợ sống của nhà em mà con trai cụ ấy nên
người. Thấy nhà hư, cụ biếu năm ngàn đồng để sửa
chữa, thỉnh thoảng đem xe hơi đến rước nhà em đi
chơi. Nhà em rất sung sướng khi thấy tác phẩm của
mình có ảnh hưởng xây dựng như thế".
Có thể dẫn ra - từ những tài liệu sưu tầm được
về Lê Văn Trương - rất nhiều những ý kiến của các
nhà văn, nhà báo và của bạn đọc ca ngợi Lê Văn Trương
cùng tác phẩm của ông.
Vũ Ngọc Phan mặc dù phê phán gay gắt, khắt khe,
bắt bẻ từng câu từng chữ hơi cứng nhắc, máy móc,
thậm chí đánh giá không công bằng về Lê Văn Trương;
vẫn phải dành tới 41 (bốn mươi mốt) trang in cho
họ Lê (Trong khi chỉ mười trang cho Nhất Linh).
Có những tìm tòi, cách tân trong khi viết như kể
chuyện với tiết tấu nhanh, dùng thủ pháp điện ảnh
trong tiểu thuyết, dùng những hình ảnh, tu từ hơi
quá lên một chút, hơi cường điệu quá mức để thể
hiện tính cách nhân vật… đều bị Vũ Ngọc Phan chê
bai, phủ nhận. Tất nhiên cụ Vũ có cái lý của mình,
bởi những năm 1934-1942, kỹ thuật viết tiểu thuyết
ở ta như thế nào, loại tiểu thuyết đăng báo được
sản xuất như thế nào, thị trường chữ nghĩa cạnh
tranh như thế nào… phải đặt tác phẩm của họ Lê vào
bối cảnh đó chúng ta mới hiểu vì sao Vũ Ngọc Phan
không ưa văn của Lê Văn Trương. Ngày nay đọc lại
Vũ Ngọc Phan, chúng ta thấy những khuôn mẫu, tiêu
chí về văn chương, về tiểu thuyết mà Vũ Ngọc Phan
đòi hỏi tác giả của người hùng phải đạt tới, xem
ra khá là áp đặt, thiếu sức thuyết phục đối với
phong cách Lê Văn Trương! Kết thúc bốn mươi mốt
trang về Lê Văn Trương, vào lúc Lê Văn Trương nổi
danh nhất, hưng thịnh nhất, Vũ Ngọc Phan đánh giá
văn nghiệp Lê Văn Trương bằng một câu: "Văn
ông chỉ là một thứ văn hoạt, thứ văn dễ hiểu cho
người trung lưu trí thức, không có gì đặc sắc"!
Quá nhiều những lời đồn đại về Lê Văn Trương, đơn
giản là vì ông quá nổi tiếng. Có những lời thêu
dệt vì quá yêu, nhưng không thiếu gì những lời dèm
pha ác ý. Thị trường chữ nghĩa thời đó đương nhiên
là có sự cạnh tranh ác liệt. Cái sự nói xấu nhau
tránh sao khỏi! Nhưng cứ đọc khoảng ba chục cuốn
chất lượng nhất trong số hơn một trăm cuốn đã in,
còn tới ngày nay, thì không thể nào phủ nhận được
rằng Lê Văn Trương là người viết nhiều nhất trong
số các nhà văn Việt Nam, rằng ông thực sự là một
tài năng, là người có nhân cách và lòng nghĩa hiệp.
Về mặt lao động, ông xứng đáng được ghi vào sách
kỷ lục: Nhà văn Việt Nam lao động văn chương năng
suất cao nhất!
Sinh thời, ông làm việc hùng hục như trâu cày suốt
ngày đêm, tất nhiên trừ những lúc đi tom chát hay
tổ tôm. Ông đọc rất nhiều sách Đông Tây kim cổ,
sống hết mình, chiêm nghiệm cuộc đời với trái tim
mẫn cảm. Tuy thế, khi trò chuyện với bạn bè, ông
ít khoe kiến thức. Ông có tác phong viết văn rất
khoa học: Suy nghĩ kỹ trong đầu, nghĩ cho chín,
thật chín rồi tự gọt rũa, cũng ở trong đầu, cho
đến khi nào ông hài lòng thì mới ngồi vào bàn viết.
Ông chuyên viết bằng tay. Từ năm 1934 cho đến năm
1964 là ba chục năm, nhưng kỳ thực thời gian thực
sự sáng tác văn học chỉ có hơn hai chục năm mà ông
đã xuất bản được 200 cuốn, (và gần bốn chục cuốn
chưa in - như Lê Văn Trương đã công bố khi trả lời
phỏng vấn của Nguyễn Ngu Í), viết bằng tay, không
dùng máy chữ, thì quả là một kỳ tích!
Tiểu thuyết của một thời, sách viết cho một số
tầng lớp người như thị dân, trung lưu, trí thức
đọc, người của một thời, văn chương giải trí cho
một thời… Đó là những câu người ta thường nói về
Lê Văn Trương. Nhưng không vì thế mà những giá trị
chân chính, những đóng góp thật sự và quý giá của
Lê Văn Trương cho văn học Việt Nam bị mai một, lu
mờ. Giáo sư Nhà giáo Nhân dân Trần Văn Giàu kể rằng
ông và bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, nhà sử học Trần Huy
Liệu là bạn thân với Lê Văn Trương, đọc khá nhiều
sách của nhà văn. Ông Trần Huy Liệu, Bộ trưởng Bộ
Thông tin Tuyên truyền thời ấy rất tin cậy, quý
mến Lê Văn Trương, đã hướng dẫn Lê Văn Trương ra
tờ báo Việt Nam hồn, một tờ báo tiến bộ ủng hộ Việt
Minh, chống Pháp. Ông Trần Huy Liệu từng tặng nhà
văn một khẩu Browning để Lê Văn Trương phòng thân.
Khi việc khai thác mỏ vàng Chợ Bến bị đình lại,
Lê Văn Trương gia nhập quân đội, cùng với con trai
trưởng Mạc Lân ở Tiểu ban Văn nghệ Phòng chính trị
Liên khu Ba. Ông trân trọng những người viết trẻ,
thường xuyên hướng dẫn nghề nghiệp cho họ, khuyên
họ muốn viết tốt phải sống thật! Lê Văn Trương chiến
đấu vô cùng dũng cảm. Theo nhà văn Yên Thao kể1,
sau một trận chiến đấu, ông đã được đọc lá thư của
người đại đội trưởng chứng nhận: "Nhà văn Lê
Văn Trương là một người văn võ toàn tài. Khi chiến
đấu, chiến sĩ bắn súng máy bị thương, Lê Văn Trương
đã lao tới sử dụng súng máy thành thạo, tiếp tục
tiêu diệt giặc. Tôi rất cảm phục ông…".
Theo nhà văn Yên Thao, Lê Văn Trương viết báo,
viết truyện về bộ đội, về nhân dân kháng chiến.
Thế nhưng… tác phẩm của ông không được sử dụng.
Tiểu thuyết Sứ mệnh lịch sử, các phóng sự: Tôi làm
phóng viên, B 12… viết ra phải xếp xó! Tiểu ban
Văn nghệ tổ chức đọc duyệt tập thể, có cả một hai
nhà văn từ Trung ương dự. Lê Văn Trương bị phê phán
là tự nhiên chủ nghĩa, thậm chí còn những lời bất
nhã, chụp mũ khác! Một người có cá tính và tên tuổi
như ông, đi kháng chiến, đâu thể nào đòi hỏi ngay
ông phải có lập trường quan điểm của giai cấp vô
sản, đâu thể nào đòi hỏi ngay lập tức về những trang
viết phải hướng vào công nông binh! Ông đau lắm!
Ông đi theo Việt Minh, theo cụ Hồ, bỏ lại tất cả,
bỏ đời sống vương giả ở Hà Nội, ông đến với kháng
chiến bằng cả tấm lòng, đưa cả vợ con theo, sẵn
sàng hiến dâng sinh mạng cho Tổ quốc! Thế mà ông
không được tin dùng! Chán nản, thất vọng, tác giả
của tiểu thuyết người hùng vốn là người có trái
tim đa cảm và mềm yếu! Ông giã từ những cuộc họp
hành, kiểm điểm, phê phán… về sống với các con ở
Đầm Đa. Đúng lúc đó, ông bị một cái nhọt ở giữa
sống lưng, nó nhanh chóng bung ra bằng miệng bát
(hậu bối). Ở chiến khu, làm sao mua được thuốc kháng
sinh như Pênêxilin, Xtreptômixin… Thế là ông phải
về Hà Nội, chấp nhận mang tiếng là dinh tê về thành.
Bất đắc dĩ ông phải về, còn vợ con, ông cấm vợ con
không được về sống ở vùng tề! Số phận đưa đẩy, giữa
năm 1954, ông vào Sài Gòn làm báo, làm thầu khoán,
để rồi… ra đi trong túng thiếu, cô độc. Thời hoàng
kim ở Hà Nội, ông cưu mang hàng mấy chục bạn viết.
Đám tang ông, ngoài người vợ hai, người con nuôi,
vài người trong họ, chỉ có một vài bạn viết văn,
làm báo. Mấy đoàn hát ở gần nhà ông cho mượn xe
đưa đám và một số nghệ sĩ đến viếng, tiễn ông đến
nghĩa địa Phú Thọ Hòa. Sân khấu cuộc đời ông, tấn
trò đời mà ông thủ diễn sau năm mươi chín năm vinh
quang và cay đắng đã hạ màn. Trong cảnh hạ màn tang
thương ấy, chỉ có tiếng ba chục con mèo mà ông yêu
thương gào khóc vĩnh biệt nhà văn!
Tôi được đọc tiểu thuyết của Lê Văn Trương lần
đầu tiên năm 1970, khi đang học khoa Ngữ Văn Đại
học Tổng hợp Hà Nội. Thời ấy, tác phẩm Lê Văn Trương
không được giảng dạy trong nhà trường. Ở đại học,
chúng tôi chỉ được học phớt qua về ông với những
lời phê phán là chính. Tôi được một ông thầy quý
mến, cho mượn khá nhiều sách, có cả những sách in
ở Sài Gòn gửi qua đường Paris về nước như Vòng tay
học trò, có cả những bản dịch tác phẩm văn học hiện
sinh Pháp mà bấy giờ chưa được xuất bản như Buồn
nôn, Trong khi chờ Gôđô, Nữ danh ca đầu hói, Những
chiếc ghế... Trong số sách mà tôi được Giáo sư cho
đọc, có mấy cuốn của Lê Văn Trương. Tôi đọc một
mạch, một ngày một đêm hết ba cuốn. Sau, tôi tìm
đọc Lê Văn Trương tại Thư viện Trung ương, cũng
nhờ Giáo sư giới thiệu nên được đặc cách làm thẻ
đọc hạn chế, tức sách cấm! Bây giờ thì không còn
chuyện cấm đọc Lê Văn Trương nữa. Ít người được
đọc cho nên ai nói gì về văn chương của họ Lê tôi
cũng chỉ biết nghe. Khi được đọc rồi, tôi mới hiểu,
thì ra con người và tác phẩm Lê Văn Trương (cùng
với nhiều nhà văn khác) không hoàn toàn như những
điều đã được nghe, được học! Năm 1993, khi hợp tác
với NXB Văn hóa Thông tin in cuốn Bốn mươi năm nói
láo của Vũ Bằng (sau khi phát hành một tuần thì
bị ngưng phát hành!), tôi đã nghĩ tới chuyện rồi
đây phải lần lượt xuất bản các tác phẩm của Vũ Bằng,
Lê Văn Trương và những nhà văn anh tài khác. Tác
phẩm của họ là tài sản vô giá của dân tộc. Số phận
của các nhà văn ấy vô cùng cay đắng, lênh đênh,
lận đận. Hậu thế cần hiểu rõ những giá trị đích
thực để lớp bụi thời gian không thể làm lu mờ những
gì là tinh hoa của đời sống tinh thần người Việt
Nam.
Lê Văn Trương - Tác phẩm chọn lọc gồm hai tập,
ra đời vào đúng dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh (02-2-1906)
và 42 năm ngày mất của nhà văn (Ngày 13 tháng Giêng
năm Giáp Thìn nhằm ngày 25-2-1964). Hoàn thành bộ
sách này, tôi vô cùng cám ơn chị Lê Thị Giáng Vân,
kỹ sư nông nghiệp, con gái út của nhà văn Lê Văn
Trương; chân thành cám ơn các giáo sư văn học, sử
học, các nhà văn, nhà báo, các bạn đồng nghiệp đã
tận tình cung cấp tư liệu, giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình làm sách.
NGÔ THANH HƯƠNG

|