| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

LÊ
QUÝ ĐÔN - Nhà bác học tài năng
Danh
Nhân Việt Nam Lê Quý Đôn
Nhà
bác học Lê Quý Đôn
Lê Quý Đôn (1726 - 1784) quê tại Diên Hà, trấn Sơn
Nam Hạ (nay thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình).
Ngay từ nhỏ, ông đã nổi tiếng thông minh, năm 27
tuổi đỗ Đình Nguyên, làm tới chức Bồi tụng. Ông
được coi là nhà bác học lớn nhất của Việt Nam trong
lịch sử trung đại, là tác giả của 40 bộ sách gồm
hàng trăm quyển viếtvề nhiều lĩnh vực khác nhau.
Ngoài ra, ông còn có cuốn Quế Đường thi tập với
nghệ thuật thơ phong phú, đa dạng, tư tưởng sâu
xa.
Lê Quý Đôn nguyên là Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu,
hiệu Quế Đường, sinh ngày 2-8-1726, trong một gia
đình khoa bảng; cha là tiến sĩ Lê Trọng Thứ, quê
tại làng Diên Hà, trấn Sơn Nam Hạ, nay là thôn Phú
Hiếu, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
Ngay từ nhỏ ông đã nổi tiếng thông minh, chăm học.
Năm 14 tuổi, Lê Quý Đôn theo cha lên học ở kinh
đô Thăng Long. Lúc ấy cậu bé 14 tuổi đã học xong
toàn bộ sách kinh, sử của Nho gia. 18 tuổi, Lê Quý
Đôn thi Hương đỗ Giải nguyên. 27 tuổi đỗ Hội nguyên,
rồi đỗ Đình Nguyên Bảng nhãn. Sau khi đã đỗ đạt,
Lê Quý Đôn được bổ làm quan và từng giữ nhiều chức
vụ quan trọng của triều Lê - Trịnh, như: Hàn lâm
thừa chỉ sung Toản tu quốc sử quán (năm 1754), Hàn
lâm viện thị giảng (năm 1757), Đốc đồng xứ Kinh
Bắc (năm 1764), Thị thư kiêm Tư nghiệp Quốc tửGiám
(năm 1767), Tán lý quân vụ, Thị phó đô ngự sử (năm
1768), Công bộ hữu thị lang (năm 1769), Bồi tụng
(Phó thủ tướng) (năm 1773), Lại bộ tả thị lang kiêm
Tổng tài quốc sử quán (năm 1775), Hiệp trấn tham
tán quân cơ Trấn phủ Thuận Hóa (năm 1776), Hiệp
trấn Nghệ An (năm 1783), Công bộ thượng thư (năm
1784)...
Lê Quý Đôn mất ngày 1-5-1784 tại quê mẹ, làng Nguyên
Xá, huyện Duy Tiên (nay thuộc Hà Nam). Thi hài ông
được đưa về mai táng ở quê nhà.
Trong cuộc đời làm quan của Lê Quý Đôn, có mấy
sự kiện sau có ảnh hưởng lớn đối với sự nghiệp trước
tác, văn chương của ông. Đó là chuyện đi sứ Trung
Quốc năm 1760 - 1762. Tại Yên Kinh (Bắc Kinh), Lê
Quý Đôn gặp gỡ các sứ thần Triều Tiên, tiếp xúc
với nhiều trí thức nổi tiếng của nhà Thanh, bàn
lận với họ những vấn đề sử học, triết học... Học
vấn sâu rộng của ông được các học giả Trung Quốc,
Triều Tiên rất khâm phục. ở đây, Lê Quý Đôn có dịp
đọc nhiều sách mới lạ, kể cả sách của người phương
Tây nói về địalý thế giới, về ngôn ngữ học, thủy
văn học... Đó là các đợt Lê Quý Đôn đi công cán
ở các vùng Sơn Nam, Tuyên Quang, Lạng Sơn những
năm 1772, 1774, làm nhiệm vụ điều tra nỗi khổ của
nhân dân cùng tệ tham nhũng, ăn hối lộ của quan
lại, khám đạc ruộng đất các vùng ven biển bị địa
chủ, cường hào địa phương man khai, trốn thuế...
Chính nhờ quá trình đi nhiều, thấy nhiều, nghe nhiều,
biết nhiều việc đời như vậy mà kiến thức Lê Quý
Đôn trở nên phong phú vô cùng. Ông viết trong lời
tựa sách Kiến văn tiểu lục: "Tôi vốn là người
nông cạn, lúc còn bé thích chứa sách, lúc trưởng
thành ra làm quan, xem lại sách đã chứa trong tủ,
vâng theo lời dạy của cha, lại được giao du nhiều
với các bậc hiền sĩ đại phu. Thêm vào đấy phụng
mệnh làm việc công, bốn phương rong ruổi: mặt bắc
sang sứ Trung Quốc, mặt tây bình định Trấn Ninh,
mặt nam trấn thủ Thuận Quảng (Thuận Hóa, Quảng Nam).
Đi tới đâu cũng để ý tìm tòi, làm việc gì mắt thấy
tai nghe đều dùng bút ghi chép, lại phụ thêm lời
bình luận sơ qua, giao cho tiểu đồng đựng vào túi
sách".
Ngoài đầu óc thông tuệ đặc biệt cộng với vốn sống
lịch lãm và một nghị lực làm việc phi thường, phải
kể đến thời đại mà Lê Quý Đôn sống. Và ông là đứa
con đẻ, là sản phẩm của thời đại ấy kết tinh lại.
Lê Quý Đôn sống ở thế kỷ thứ 18 thời kỳ xã hội
Việt Nam có nhiều biến động lớn. Trong lòng xã hội
Việt Nam đầy mâu thuẫn khi ấy đang nảy sinh những
mầm mống mới của thời kỳ kinh tế hàng hóa, thị trường
trong nước mở rộng, thủ công nghiệp và thương nghiệp
có cơ hội phát triển... Tình hình đó đã tác động
mạnh mẽ tới đời sống văn hóa, tư tưởng, khoa học.
ở thế kỷ 18, xuất hiện nhiều tên tuổi rực rỡ như
Đoàn Thị Điểm, Ngô Thì Sĩ, Nguyễn Gia Thiều, Đặng
Trần Côn, Lê Hữu Trác... Đồng thời các tri thức
văn hóa, khoa học của dân tộc được tích lũy hàng
ngàn năm tới nay đã ở vào giai đoạn súc tích, tiến
đến trình độ phải hệ thống, phân loại. Thực tế khách
quan này đòi hỏi phải có những bộ óc bách khoa và
Lê Quý Đôn với học vấn uyên bác của mình đã trở
thành người "tập đại hành" mọi tri thức
của thời đại. Có thể nói, toàn bộ những tri thức
cao nhất ở thế kỷ thứ 18 đều được bao quát vào trong
các tác phẩm của Lê Quý Đôn. Tác phẩm của ông như
cái mốc lớn đánh dấu thành tựu văn hóa của cả một
thời đại với tất cả những ưu điểm cùng nhược điểm
của nó.
Tác phẩm của Lê Quý Đôn thống kê có tới 40 bộ,
bao gồm hàng trăm quyển, nhưng một số bị thất lạc.
Những tácphẩm tiêu biểu của Lê Quý Đôn còn giữ được
có thể kể ra như sau:
- Quần thư khảo biện, tác phẩm chứa đựng nhiều
quan điểm triết học, lịch sử, chính trị được viết
trước năm ông 30 tuổi.
- Vân đài loại ngữ, Lê Quý Đôn làm xong lúc ông
30 tuổi. Đây là một loại "bách khoa thư",
trong đó tập hợp các tri thức về triết học, khoa
học, văn học... sắp xếp theo thứ tự: Vũ trụ luận,
địa lý, điển lệ, chế độ, văn nghệ, ngôn ngữ, văn
tự, sản vật tự nhiên, xã hội... Vân đài loại ngữ
là bộ sách đạt tới trình độ phân loại, hệ thống
hóa, khái quát hóa khá cao, đánh dấu một bước tiến
bộ vượt bậc đối với nền khoa học Việt Nam thời phong
kiến.
- Đại Việt thông sử, còn gọi Lê triều thông sử,
là bộ sử được viết theo thể ký truyện, chép sự việc
theo từng loại, từng điều một cách hệ thống, bắt
đầu từ Lê Thái Tổ đến Cung Hoàng, bao quát một thời
gian hơn 100 năm của triều Lê, trong đó chứa đựng
nhiều tài liệu mới mà các bộ sử khác không có, đặc
biệt là về cuộc kháng chiến chống Minh.
- Kiến văn tiểu lục, là tập bút ký nói về lịch
sử và văn hóa Việt Nam từ đời Trần đến đời Lê. Ông
còn đề cập tới nhiều lĩnh vực thuộc chế độ các vương
triều Lý, Trần, từ thành quách núi sông, đường xá,
thuế má, phong tục tập quán, sản vật, mỏ đồng, mỏ
bạc và cách khai thác cho tới các lĩnh vực thơ văn,
sách vở...
- Phủ biên tạp lục, được viết trong thời gian Lê
Quý Đôn làm Hiệp trấn Thuận Hóa. Nội dung ghi chép
về tình hình xã hội. Đàng Trong từ thế kỷ thứ 18
trở về trước.
Công trình biên soạn lớn nhất của Lê Quý Đôn là
bộ Toàn Việt thi lục 6 quyển, tuyển chọn 897 bài
thơ của 73 tác giả từ thời Lý đến đời Lê Tương Dực
(1509 - 1516). Lê Quý Đôn hoàn thành Toàn Việt thi
lục năm 1768, dâng lên vua, được thưởng 20 lạng
bạc.
Về sáng tác văn xuôi, theo Phan Huy Chú, Lê Quý
Đôn có Quế Đường văn tập 4 quyển, nhưng sách này
đã mất. Về sáng tác thơ, Lê Quý Đôn để lại có Quế
Đường thi tập khoảng vài trăm bài làm ở trong nước
và trong thời gian đi sứ Trung Quốc.
Nhận xét tổng quát về thơ Lê Quý Đôn, Phan Huy
Chú viết: "Ông là người học vấn rộng khắp,
đặt bút thành văn. Cốt cách thơ trong sáng. Lời
văn hồn nhiên..., không cần suy nghĩ mà trôi chảy
dồi dào như sông dài biển cả, không chỗ nào không
đạt tới, thật là phong cách đại gia".
Quan niệm về thơ của Lê Quý Đôn được tổng hợp lại
như sau: "Làm thơ có 3 điểm chính: một là tình,
hai là cảnh, ba là việc. Tiếng sáo thiên nhiên kêu
ở trong lòng mà động vào máy tình; thị giác tiếp
xúc với ngoài, cảnh động vào ý, dựa cổ mà chứng
kim, chép việc thuật chuyện, thu lãm lấy tinh thần...
đại để không ngoài ba điểm ấy".
Đây là những tiêu chuẩn về thơ mà Lê Quý Đôn đề
ra cho quá trình sáng tác của mình. Đọc thơ Lê Quý
Đôn, chúng ta thấy thơ ông thật phong phú đa dạng,
sâu sắc về tư tưởng, nghệ thuật và để lại trong
lòng ta những xúc động đẹp đẽ, sâu xa:
Thành cổ lộng
Thành hoang tường đổ đã bốn trăm năm,
Dây dưa, dây đậu leo quấn xanh tốt.
Sóng biết đã rửa sạch nỗi hận cho vua Trần,
Cỏ xanh khó che lấp sự hổ thẹn của Mộc Thạnh.
Sau trận mưa bò vàng cầy bật gươm cũ,
Dưới trăng chim lạnh kêu bên lầu tàn.
Bờ cõi cần gì phải mở rộng mãi
Đời Nghiêu Thuấn xưa chỉ có chín châu thôi.

|