2.
VAI TRÒ CỦA VIỆC “KẾT ẤN” TRONG
KHÍ CÔNG & TĨNH TỌA TỰ CHỮA BỆNH
3 Y
Lý Dưỡng Sinh Trị Bịnh
4 NHU
KHÍ CÔNG QUYỀN SỐ I
5 Phật triển
thiên thủ Pháp
6
Nên thông hiểu 3 chữ : TINH,
KHÍ, THẦN
7 12 BÀI LUYỆN
TẬP THÂN THỂ
8 VÉN
BỨC MÀN BÍ MẬT CỦA CHÙA THIẾU LẤM
9 Bài
khí công 'Hạc trắng gọi mặt trời'
10
Thái Cực Quyền Và Khí Công Có Khác Nhau Không ? Hai
Môn Này Có Bổ Túc Cho Nhau không ?
KHÍ CÔNG DƯỠNG
SINH
I. Khí công là gì?
"Khí" người Trung Hoa phát âm là "Chi"
hay "Qi", "Ki" ở người Nhật Bản,
"Ghee" ở người Đại Hàn và "Prana"
ở người Ấn Độ. "Khí" nghĩa thông thường có
liên quan đến "Không khí" hoặc "Chất
Hơi", một chất không hình, dễ di động, dễ phân
tán, dễ tích tụ, tính co dãn có thể tạo nên sức ép lớn
mạnh, tùy theo số lượng của nó.
"Công" do chữ "công phu", người
Trung Hoa phát âm là "Kungfu", có nghĩa là
việc làm được thực hiện trong một số lượng thời gian.
Do đó, "khí công" có thể hiểu là một tiến
trình hít thở không khí, để gia tăng nguồn sinh lực
của thể chất lẫn tinh thần trong con người. Trong đó,
"dưỡng khí" (oxygen)được hấp thụ qua không
khí, và "thán khí" (carbon dioxide) được loại
trừ ra ngoài cơ thể. Đây là hai yếu tố chính yếu trong
việc gia tăng nguồn sinh lực cơ thể.
Trong võ thuật cổ truyền đông phương, khí công còn
được gọi là "nội công", một công phu tập luyện
"tán tụ nội khí", triển khai tối đa sức mạnh
thể chất lẫn tinh thần, để áp dụng vào kỹ thuật chiến
đấu, cũng như gia tăng sức khỏe thân tâm.
II. Lược Sử Khí Công:
Trong ý nghĩa quân bình hơi thở, khí công được bắt
nguồn từ thuở xa xưa, từ khi có sự hiện diên loài người
trên quả đất này. Căn cứ vào văn hóa cổ truyền đông
phương, khí công đã được áp dụng qua các phương pháp
thực hành, và triết lý dẫn đạo, hầu hết, trong ba môn
học: Y học, Đao học, và Võ học.
Theo y như Hoàng Đế Nội Kinh (2697 – 2597 B.C. trước
Tây Lịch), và sách Dịch Kinh (2400 B.C. trước Tây lịch),
nền tảng Đông Y học được dựa trên lý thuyết nguồn khí
lực, Âm Dương và Ngũ Hành để lý giải, điều trị bệnh
tật và tăng cường sức khỏe con người.
Vào thời nhà Thương (1783 – 1122 B.C trước Tây lịch),
người Trung Hoa đã biết dùng những dụng cụ bén nhọn
bằng đá, để châm chích vào các huyệt đạo trên cơ thể,
nhằm gây ảnh hưởng đến sự dẫn truyền nguồn khí lực,
trong việc trị bệnh cho con người.
Vào thế kỷ thứ 6 trước Tây lịch, trong cổ thư Đạo Đức
Kinh, tác giả Lão Tử, một nhà hiền triết Trung Hoa,
đã đề cập đếnn vai trò hơi thở trong kỹ thuật luyện
khí, để giúp con người kéo dài tuổi thọ. Sử liệu Trung
Hoa cũng cho thấy rằng các phương pháp luyện khí đã
có nhiều tiến bộ, vào thời Xuân Thu và Chiến Quốc (770
– 221 B.C. trước Tây lịch). Sau đó, trong thời nhà Tần
đến nhà Hán (221 B.C. trước Tây lịch đến 220 A.C. sau
Tây lịch), một số sách dạy luyện khí công đã được biên
soạn bởi nhiều vì y sư, thiền sư và đạo sĩ. Các phương
pháp truyền dạy tuy có khác nhau, nhưng vẫn có chung
những nguyên lý vận hành khí lực trong cơ thể.
Vào thế kỷ thứ ba sau Tây lịch, nguyên lý về khí lực
đã được minh chứng hiệu quả bởi y sư Hoa Đà, qua việc
áp dụng kỹ thuật châm cứu, để gây nên tình trạng tê
mê cho bệnh nhân, trong lúc giải phẫu. Cũng như, ông
đã sáng chế những động tác tập luyện khí "Ngũ Cầm
Hí", dựa theo tính chất và động tác của 5 loại
thú rừng như: Cọp, Nai, Khỉ, Gấu và Chim.
Vào năm 520 – 529 sau Tây lịch, tổ sư Bồ Đề Đạt Ma,
người Ấn Độ, tại Tung Sơn Thiếu Lâm Tự, tỉnh Hồ Nam,
ngài đã soạn ra sách Dịch Cân Kinh, đ dạy các môn đồ
phát triển nguồn khí lực, tăng cường sức khỏe trên đường
tu đạo, cũng như, thân thể được cường tráng, gia tăng
sức mạnh trong việc luyện võ.
Về sau, dựa vào nguyên lý khí lực này, các đệ tử Thiếu
Lâm đã sáng chế thêm những bài tập khí công như: Bát
Đoạn Cẩm, Thiết Tuyến Nội Công Quyền, Nội Công Ngũ Hình
Quyền...
Theo truyền thuyết, vào triều đại nhà Tống (950 – 1279
sau T.L.), tại núi Võ Đang, đạo sĩ Trương Tam Phong
sáng chế bài nội công luyện khí Thái Cực Quyền, gồm
những động tác giúp người tập luyện cường kiện sức khỏe
thân tâm.
Về sau, có rất nhiều bài tập khí công được sáng chế
bởi nhiều võ phái khác nhau. Dần dần, các võ phái nhỏ,
ít người biết đến, đều bị mai một, cùng với những phương
pháp truyền dạy bị lãng quên trong quá khứ. Đến nay,
một số ít các bài võ luyện khí công còn được ghi nhận
qua một số tài liệu hạn hẹp của Trung Hoa như: Dịch
Cân Kinh, Bát Đoạn Cẩm, Thiết Tuyến Nội Công Quyền,
Nội Công Ngũ Hình Quyền, Thái Cực Quyền thuộc ba hệ
phái của Trần Gia, Dương Gia và Vũ Gia, Bát Quái Quyền,
Hình Ý Quyền, Lục Hợp Bát Pháp Quyền...
III. Triết Lý Khí Công
A. Vũ trụ quan
Theo quan niệm Đông phương, khởi nguyên sự hình thành
của vũ trụ, vạn vật được bắt nguồn từ một khối "Khí"
đầu tiên gọi là "Thái Cực", bành trướng vô
cùng tận. Sau tiến trình nội tại, khối "Khí"
này được phân thành hai nhóm khí đối nghịch nhau: "Khí
Âm" và "Khí Dương", được gọi là "Lưỡng
Nghi". Hai nhóm "Khí Âm" và "Khí
Dương" này chạm vào nhau, để sanh ra khí thứ ba,
mà Lão Tử gọi là "Xung Khí". Từ đó, vũ trụ,
vạn vật được hình thành. Đạo đức Kinh có ghi: "Đạo
sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn
vật, vạn vật phụ âm nhi bão dương, xung khí dĩ vi hòa."
Học giả Trương Hoành Cừ có nói:
"- Khí tụ lại thành hình, khí tán đi hình loại,
muôn vật trở lại Thái Hư." Vạn vật biến chuyển,
thay đổi không ngừng theo định luật phổ quát mà Kinh
Dịch có ghi: "- Sinh, Trưởng, Thâu, Tàng."
Cũng như, Phật Giáo quan niệm: "-Sinh, Trụ, Dị
Diệt." Do đó, khí là nguồn gốc, là sinh lực của
vạn vật và vũ trụ.
Hai tính chất căn bản là Âm và Dương của khí được quân
bình, nằm trong ba loại khí tổng quát: Thiên Khí, Địa
Khí và Nhân Khí.
Thiên Khí đến từ vũ trụ thiên nhiên, với lực sống động
vĩ đại huyền diệu, giúp cho đại vũ trụ thiên nhiên được
vận chuyển trong một trật tự tuần hoàn. Thí dụ: Mặt
trăng, mặt trời, thái dương hệ, tất cả bầu trời không
gian vô tận...đều là những nguồn chứa thiên khí. Thiên
khí đóng một vai trò quan trọng, ảnh hưởng lớn đến thời
tiết, khí hậu và thiên tai. Thí dụ như những hiện tượng
gió thổi, mưa rơi, bão tố, sấm sét...d xảy ra đều nhằm
mục đích tái tạo sự quân bình Âm Dương trong thiên khí.
"Địa Khí đến từ quả đất, cũng như từ sự thấm những
nhuần, hoặc ảnh hưởng tác dụng của thiên khí trên quả
đất. Địa khí còn được sinh ra bởi từ trường của quả
đất, cũng như, hơi nóng được phát ra từ trong lòng đất.
Những vùng đất thường xảy ra núi lửa, hay những đường
rạn nứt trong lòng đất, để tạo nên những tai họa động
đất, chính làn nơi phát ra nguồn địa khí. Sự di chuyển
của địa khí được thể hiện qua các hiện tượng như: đất
cát di chuyển theo dòng nước lũ, để mang bồi đắp tạo
nên những nơi cồn đảo. Trái lại, những vùng mất đất
sẽ trở thành sông sâu, lớn rộng. Mặt khác, trong lúc
có nhiều mưa, mặt đất trở nên đầy nước ngập lụt. Trái
lại, khi khí trời khô, nóng gắt, hạn hán, mặt đất trở
nên khô cằn, nứt nẻ. Tất cả những hiện tượng nói trên
đều tạo nên sự thay đổi địa khí, do bởi sự mất quân
bình âm dương tính trong địa khí.
"Nhân Khí" là sinh lực con người.`con người
là một tiểu vũ trụ, nằm trong sự chi phối của đại vũ
trụ thiên nhiên. Do đó, nhân khí phải chịu ảnh hưởng
vào thiên khí và địa khí.
B. Nhân Sinh Quan
Con người khi còn là thai nhi trong bụng mẹ, được nuôi
dưỡng bằng nguồn sinh lực (Nhân Khí) của bà mẹ, qua
đường cuống rốn thai nhi. Sau khi chào đời, qua tiếng
khóc đầu tiên, hài nhi biết hít thở, hấp thụ nguồn Thiên
Khí từ bên ngoài. Nguồn thiên khí đầu tiên này, khi
được vào trong cơ thể hài nhi, biến thành nguồn "Dinh
Khí", và tác dụng làm nguồn sinh lực (Nhân Khí)
của bà mẹ sãn có trong hài nhi, trở thành "Vệ Khí"
được thể hiện bởi hai dòng: khí nóng (Dương) và khí
lạnh (Âm). Dòng khí nóng (Dương) chạy lên phần trên
cơ thể đến các bộ phận: tim gan, phổi và não bộ trong
khi dòng khí lạnh (Âm) chạy xuống phần dưới cơ thể,
đến các bộ phận: bụng dưới, thận, sinh dục và hai chân.
Tiếp theo, sự sinh tồn của hài nhi cần phải được nuôi
dưỡng bởi nguồn Nhân Khí từ bên ngoài, do ảnh hưởng
của Thiên Khí và Địa Khí, qua môi trường không khí trong
sạch , nước uống và thực phẩm (đọn vật và thực vật).
Nguồn Nhân Khí (sinh lực) này được lưu chuyển điều hòa,
trong những đường ống ngang dọc của hệ thống Kinh, Mạch,
Lạc, Huyệt, để liên hệ đến các tạng phủ (các bộ phân
như: Tim, phổi, bao tử, lá mía, ruột già, ruột non,
gan, thận, túi mật và bàng quang...)
Vớ tuổi thọ tăng dần, các đường ống dẫn khí lực này,
càng ngày trở nên trì trệ, yếu kém, trong việc cung
cấp sinh lực (Nhân Khí) nuôi dưỡng cơ thể, do đó, sức
khỏe con người dễ trở nên suy yếu, bệnh tật, nếu không
được bồi dưỡng đúng mức.
Để tái tạo sức khỏe bình thường, việc khai thông hệ
thống kinh mạch , cũng như, quân bình Ân Dương tính
trong nguồn sinh lực (nhân khí) rất cần thiết cho cơ
thể con người. Ơû điểm này, Đông Y Học đã áp dụng một
trong những trị liệu pháp như: dược phẩm (thuốn hóa
học ở các lá, thân và rễ cây), Châm cứu pháp, Án ma
pháp (thuật xoa bóp trên các kinh mạch, và ấn ép trên
các huyệt đạo), Khí công trị liệu (phương pháp hô hấp)
và tể dục dưỡng sinh (áp dụng các động tác vận chuyển
để đả thông kinh mạch)...
Trong phép dương sinh, người ta cần phải biết sống
hòa hợp với luật thiên nhiên, để khia thác tối đa lợi
thế của Thiên Khí và Địa Khí, trong việc giữ quân bình
âm dương tính cho Nhân Khí của con người. Từ đó, sức
đề kháng trong cơ thể được kiện toàn, sẵn sàng tiêu
trừ các mầm móng bệnh chứng, có thể xảy ra cho con người.
Ngoài ra, viện tập luyện khí công rất ích lợi, giúp
cho Nhân Khí được điều hòa, làm chậm sự thoái hóa của
các tế báo trong cơ thể, cũng như, điều hợp thuận lợi
với Thiên Khí và Địa Khí từ bên ngoài.
IV.Phương Thế Thực Hành
Trong khí công gồm có ba loại thở căn bản: thở sâu
(hay thở thấp, hoặc thở Đan Điền), thở Ngực (hay thở
trung bình) và thở cao. Để thực tập các bài khí công,
học viên có thể áp dụng một trong ba tư thế chánh yếu
như: thế đứng, thế ngồi và thế nằm. Trong mổi tư thế
chánh này còn được chia ra kàm nhiều tư thế phụ như
sau:
Với tư thế đứng còn có thế đứng tự nhiên, thế đứng
chân trước chân sau, và thế đứng trung bình tấn (hai
chân dang rộng ra hai ben trái phải).
Với tư thế ngồi gồm có tư thế ngồi tréo chân như: ngồi
Kiết Già, ngồi Bán Già, ngồi Xếp Bằng (ngồi tréo tự
nhiên) và ngồi quỳ gối.
Với tư thế nằm gồm có nằm thẳng người với lưng tựa
phía dưới.
Trong các tư thế đứng, ngồi, và nằm, tư thế đứng mang
lại nhiều ích lợi hơn. Cho nên, các tư thế đứng đã đã
được áp dụng tối đa trong các bài tập khí công của quyền
thuật gia. Sau đây là những ích lợi của tư thế đứng:
- Tư thế đứng rất thuận tiện, khi tập ở những nơi công
cộng,ngoài trời, nơi có không khí trong lành như: công
viên, đồng cỏ, rừng cây, bờ hồ, bờ sông, bờ biển, và
các vùng ngoại ô....
- Tư thế đứng còn giúp cho máu lưu thông dễ dàng trong
hệ thống tuần hoàn. Do đó, nguồn khí lực dễ chuyển dẫn
đến các bộ phận trong khắp cơ thể.
- Ngoài ra, tư thế đứng tránh được tình trạng ru ngủ
như ở hai tư thế ngồi và nằm. Cho nên, học viên có đủ
thời gian hoàn tất việc tập luyện.
V. Hiệu Quả Của Khí Công
Việc tập luyện khí công có thể tạo ra những tác động,
ảnh hưởng tốt đẹp, giúp ích cho chức năng sinh lý của
các bộ phận trong cơ thể như: bộ phận hô hấp, bộ phận
tiêu hóa, hệ thống tuần hoàn máu, và thần kinh hệ,...Cũng
như, tái tạo sự hoạt động của nhiều triệu mao quản bị
đình trệ, và làm chậm sự thoái hóa của các tế bào trong
cơ thể.
Trong phép trị bệnh, việc áp dụng khí công đều đặn,
cùng với thói quen ẩm thực hợp phép kiêng cử, cơ thể
tái tạo sức khỏe bình thường cho bệnh nhân về các chứng:
áp huyết cao hay thấp, bệnh tim, bệnh về đường máu,
bệnh suyễn, bệnh táo bón, bệnh tiêu hóa, bệnh nhức đầu,
bệnh nhứ mỏi khớp xương và bắp thịt...
Ngoài ra, việc tập luyện khí công còn giúp ích cho
học viên gia tăng sức mạnh tinh thần như: tập trung
tư tưởng, tính tự chủ, tự kiểm soát nội tâm, tâm hồn
thanh tịnh, và bình tĩnh để có một đời sống tình cảm
an hòa, khắc phục được những trở ngại bất thường trong
đời sống loạn hàng ngày. Để đạt được thành quả trong
lúc tập luyện khí công, tùy theohoan cảnh, học viên
nên tuân hành nghiêm chỉnh theo một thời dụng biểu tập
luyện đều đặn hàng ngày, với những bài tập thích nghi,
từng bước một, tuần tự tiến hành. Nếu vội vã, đốt giai
đoạn tập luyện, sức khỏe của học viên dễ bị tổn thương.
Cũng như, trong giai đoạn đầu tiên tập khí công, học
viên nên cẩn thận tránh những khuyết điểm. Việc tập
luyện sai phép có thể tạo nên những biến chứng, gây
ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe, và làm trở ngại cho
cơ thể trong việc tập luyện.
HÔ HẤP TRONG KHÍ CÔNG
· Ý NIỆM VỀ KHÍ:
Đối với người Tây phương, "Khí" được hiểu
bằng những danh từ như: Energy, Vital Energy, Life Force,
Bio-Force, Electromagnetism... Cũng như "Animal
Magnetism" ở Úc châu do Mesmer, "Odic Force"
ở Đức do Baronvon Reichenbach, "Orgone Energy"
ở Mỹ do Wilhelm Reich, "Bioplamsm" ở Nga Sô
do Inyushin.
"Khí" (Energy) tức là năng lực, năng lượng.
Khí thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như :Nhiệt
năng, cơ năng, quang năng, điện năng, hóa năng, năng
lực tinh thần,...
Khí và vật có sự liên hệ mật thiết với nhau. Khí cấu
tạo ra vật, và cùng kết hợp với vật. Vật hoạt động sinh
ra khí. Cũng như, cơ quan có sự liên hệ mật thiết với
cơ năng. Cơ năng quyết định sự hình thành và phát triển
cơ quan. Cơ quan ssinh hoạt biến thành cơ năng. Nhà
khoa học Einstein đã giải thích sự liên hệ giữa khí
và vật bằng phương trình E = mc 2. năng lượng khí bằng
khối lượng nhân với bình phương tốc độ ánh sáng. Năng
lượng khí và khối lượng vật chỉ là một, nhưng p hai
hình thức khác nhau. Khi khối lượng vật chất bị phá
hủy, kết quả sẽ sinh ra năng lượng khí được tỏa ra.
Về phương diện sinh lý, cơ thể con người là một thể
chất hóa hợp của những tế bào, phân tử, nguyên tử khác
nhau. Tùy theo những yếu tố và điều kiện sống chung
quanh (như: thực phẩm, nước uống, không khí, thời tiết,
xã hội...), nguồn năng lực (khí) trong cơ thể được gia
tăng, hay bị suy giảm. Trong đời sống hàng ngày, nguồn
năng lực (Khí) đóng một vai trò rất quan trọng, trong
sự liên quan mật thiết giữa cơ thể và tâm trí con người.
Cũng như, hơi thở qua việc hô hấp không khí là một yếu
tố quan trọng nhất, trong tiến trình phát sinh năng
lực (Khí) con người. Qua tiến trình hô hấp không khí,
dưỡng khí (oxygen) trong không khí được gạn lọc như
một nhiên liệu căn bản, dùng đốt cháy thực phẩm, để
sinh ra năng lực (khí), thán khí (carbon dioxide), và
nước, theo phương trình hoá học như sau:
Food + Oxygen ® Energy + Carbon Dioxide + Water
(Đồ ăn) + (Dưỡng khí) ® (Năng lực) + (Thán khí) + (Nước)
năng lựv (khí) được sinh ra từ phản ứng hóa học của
dưỡng khí và đồ ăn, được dùng bồi dưỡng, điều hòa nhiệm
vụ não bộ, và các bộ phận trong cơ thể, cũng như, tạo
nên một sức mạnh chịu đựng, dẻo dai về thể chất lẫn
tinh thần. Để có nguồn năng lực (khí) sung mãn, trong
đòi sống khỏe mạnh, ngoài hai yếu tố cần thiết phải
có như dưỡng khí (Oxygen) (trong khí trong lành), và
thức ăn tươi tốt (đầy đủ chất dinh dưỡng), người ta
cần phải có thêm những yếu tố hỗ trợ khác, không kém
phần quan trọng như: nước uống tinh khiết, ánh sáng
mặt trời, nghỉ ngơi tịnh dưỡng, tâm trí quân bình, và
vận động thể dục...
· HÔ HẤP VÀ SỰ SỐNG:
Hô hấp (hít thở) không khí đóng một vai trò quan trọng
nhất, trong sự sống con người. Do đó, hô hấp là để sống,
sống cần phải hô hấp, vì hô hấp tạo nên hơi thở, và
nguồn sinh lực (khí) trong con người. Nếu hơi thở chấm
dứt, tiếp theo, sự chết đến ngay với con người.
Sau một công việc mệt nhọc, hay một ngày lao tâm, lao
lực, người ta áp dụng một số phương pháp hô hấp (hít
thở) không khí đúng cách. Kết quả nhận thấy cơ thể khỏe
mạnh, tinh thần tươi tỉnh. Sinh lực được phục hồi, nhờ
vào sự biến năng của dưỡng khí (oxygen), được không
khí mang vào cơ thể.
Hơi thở của một người khỏe mạnh bình thường được gọi
là hơi thở tự nhiên, cần phải hội đủ bốn đặc tính: yên
lặng, thanh thản, nhẹ nhàng, và điều hòa. Hơi thở của
họ biểu lộ một cách dễ dàng, nhẹ nhàng, liên tục, không
cảm thấy mệt mỏi, không bị ràng buộc bởi bất cứ điều
kiện nào, kể cả việc ý thức về hơi thở. Nói một cách
khác, hoi thở khỏe mạnh tự nhiên là hơi thở không dài,
không ngắn, êm đềm, và đều đặn. Khi đạt được hơi thở
như thế, người ta cảm thấy nhận được sự khỏe khoắn,
nhẹ nhàng trong cơ thể, tình cảm an hòa, tinh thần bình
tĩnh, trong một linhhồn minh mẩn.
Tuy nhiên, đối với người bệnh hoạn, sức khỏe yếu kém,
hơi thở của học thường có vẻ mệt nhọc, do sức cố gắng
mà ra. Hơi hít vào vô cùng ngắn, thở ra thường kéo dài,
đôi khi, ngược lại. Những người có hơi thở mất bình
thường như thế, thể chất và tinh thần của họ trở nên
yếu đuối, đời sống tình cảm bất an, để đưa đến những
nỗi lo âu, buồn nản, thiếu ý chí kiên nhẫn, trong công
việc hàng ngày. Tiếp tục như thế, trong một thời gian
lâu dài. Điều kiện sức khỏe thể chất lẫn tinh thần của
họ sẽ gặp nhiều khó khăn. Do đó, hơi thở của những người
này cần được chăm sóc cẩn thận, trong lúc tập luyện
khí công. Dần dần, với thời gian, khí công có thể giúp
họ phục hồi được hơi thở tự nhiên, khỏe mạnh bình thường.
Nhịp độ thở trung bình của một người khỏe mạnh bình
thường là mười tám hơi thở (ra vào) trong một phút.
Trong tiến trình tập luyện khí công, thời gian cho mỗi
hơi thở (ra vào) càng lúc cần được kéo dài thêm. Vì
vậy, khi đến giai đoan tiến bộ, học viên nên tập để
nhịp độ thở trung bình giảm xuống, nghĩa là giảm dần
số lần của hơi thở (ra vào) trong một phút.
Các nhà thiền sư, đạo sĩ thường tập giữ cho nhịp độ
thở (ra vào) từ 5 xuống tới 2 hơi thở (ra vào) trong
một phút. Với tư thế ngồi thiền tịnh tâm, họ có thể
tập kéo dài trong 30 phút. Có hai cách thông thường
để giữ cho nhịp độ thở giảm xuống như: tạo nên hơi thở
nhẹ nhàng, hay đưa hơi thở sâu xuống bụng dưới (đan
điền).
· BỘ MÁY HÔ HẤP TRONG KHÍ CÔNG:
Đối với học viên mới nhập môn khí công, điều quan trong
nhất là việc hiểu biết về sinh lý căn bản của các bộ
phận liên quan đế tiến trình hô hấp của con người như
sau:
· Nhiệm vụ của phổi:
Bộ máy hô hấp của con người gồm có hai lá phổi, và
những bộ phận trung gian, để dẫn không khí ra vào hai
lá phổi như: mũi, miện, yết hầu, thanh quản, khí quản
và cuống phổi. Hai lá phổi được nằm ở hai bên đường
trung tuyến trong lồng ngực, và ngăn cách bởi quả tim.
Lá phổi bên phải gồm có ba thùy. Lá phổi bên trái có
hai thùy.
Nơi tận cùng của ống khí quản được tiếp nối với hai
cuống phổi lớn, và các động mạch, để dẫn vào bên trong
hai lá phổi trái phải. Từ đó, hai cuống phổi lớn và
các động mạch, càng vào bên trong phổi, càng được phân
chia thành nhiều chùm nhánh nhỏ dần, để dẫn đến tận
cùng những túi nhỏ chứa không khí (gọi là Khí bào).
Bên trong mỗi lá phổi, được cấu tạo bởi vô số, khoảng
600 triệu túi nhỏ chứa không khí (Khí bào), chia thành
hiều chùm khí bào, đi song song với nhiều chùm mạch
máu lớn nhỏ chằng chịt. Phổi được cấu tạo bởi những
mô mềm xốp, co dãn và có nhiều lỗ hình thức như một
tổ ong. Mỗi túi nhò khí bào chứa đựng một phần không
khí được hít vào. Từ đó, dưỡng khí (oxygen) được thấm
xuyên qua thành của các phế mao quản. Sau đó, máu hữu
dụng hóa dưỡng khí (oxygen) và thải trừ thán khí (carbon
dioxide) cùng những chất cặn bã, do máu góp nhặt được
trong hệ thống. Nếu thiếu sự hiện diện của máu, những
túi nhỏ khí bào sẽ bị thất thoát nguồn dưỡng khí (oxygen),
và được thay vào bằng thán khí (carbon dioxide).
Thể tích của hai lá phổi ở người trưởng thành, trung
bình chứa từ 4 đến 6 lít không khí, hoặc tương đương
với số lượng không khí được chứa trong quả bóng rổ (basketball).
Nếu những mô tầng của hai lá phổi được tráng mỏng ra
trên mặt phẳng, diện tích của nó có thể phủ lên một
nửa sân chơi quần vợt.
Bên ngoài mỗi lá phổi được bao phủ bởi mặt trong của
màng phổi vững chắc. Mặt ngoài của màng phổi này được
dính vào thành trong lồng ngực. Vùng ở giữa màng phổi
là một chất nước nhờn, để cho hai lá phổi di chuyển
linh động, trong lúc hít thở không khí.
· Vai trò hoành cách mô:
Thân người được chia làm hai phần: phần trên là lồng
ngực, phần dưới là bụng. Hai phần này được ngăn cách
bởi một "Hoành Cách Mô" (một màng thịt gân
có hình nón chóp bầu). Sự co dãn của lồng ngực và hoành
cách mô đã đóng một vai trò chủ yếu trong tiến trình
hít thở không khí.
Lồng ngực chứa đựng hai lá phổi và tim, được bao phủ
bởi bộ xương sườn và xương ức. Khi hít hơi vào, hai
lá phối bắt đầu nở lớn dần dần và gây nên sự kích thích
các bắp thịt liên tiếp giữa các xương sườn. Chính các
bắp thịt này tác dụng tạo nên sự di động của bộ xương
sườn, để cho lồng ngực được căng phồng lên. Do đó, bên
trong lồng ngực có thêm một khoảng trống đủ sức chứa
thể tích gia tăng của hai lá phổi. Đây là loại thở bằng
ngực (hay thở trung bình), không có sự ảnh hưởng của
hoành cách mô. Phần chủ yếu là sự dãn nở lớn tối đa
của lồng ngực, để đạt được một số lượng dưỡng khí (oxygen)
lớn nhất, trong một thể tích không khí tối đa ở vào
vùng giữa của hai lá phổi.
Đối với loại thở sâu (hay thở thấp, Đan Điền), khi
hít hơi vào, không khí không bị dừng lại ở vùng giữa
của hai lá phổi như nói trên, nhưng không khí được đưa
sâu xuống phần dưới của hai lá phổi. Đồng thời tạo nên
một sức ép trên mặt chóp bầu của hoành cách mô, khiếncho
hoành cách mô bị đẩy thấp xuống phía bụng dưới, khoảng
4 phân (centimeters). Động tác này tạo nên một khoảng
trống, giữa mặt trên hoành cách mô và phía dưới của
hai lá phổi. Do đó, không khí gia tăng làm cho phần
đáy của hai lá phổi, dãn nở thêm xuống phía dưới. Trong
khi đó, tất cả những túi nhỏ khí bào, ở vùng dưới hai
lá phổi, phải hoạt động tích cực, để có một sự dãn nở
lớn gia tăng tối đa. Được như thế, các túi nhỏ khí bào
mới đạt được một thể tích tồn trữ không khí tối đa.
Điều này rất quan trọng, vì cần phải có một số lượng
dưỡng khí (oxygen) tối đa, để thay vào chỗ của số thán
khí (carbon dioxide) cần được loại bỏ ra ngoài, cũng
như cần một số dưỡng khí (oxygen) để dùng vào việc tác
dụng phản ứng biến thể trong phổi.
Ngoài ra, sức ép của hoành cách mô hướng xuống bụng
dưới, đã khiến cho một số máu dư đang ứ đọng trong các
nội tạng, và màng ruột được ép dồn vào bên trong các
tĩnh mạch. Cũng như, tạo nên sự kích thích cho đôi dây
tah kinh thái dương, giúp cho tâm trí trở nên thanh
tịnh.
Không khí được thổ ra là buớc sau cùng cần thiết, trong
tiến trình hô hấp. Song song với không khí được thở
ra, hai lá phổi co thắt nhỏ lại dần dần, cùng lúc với
lồng ngực hạ thấp xuống, vì các bắp thịt giữa bộ xương
sườn giảm dần tính kích thích, rồi trở lại bình thường.
Do đó, sức ép của hoành cách mô bị mất ảnh hưởng, rồi
hoành cách mô bật hướng lên, theo sức đàn hồi tự nhiên.
Đồng thời tạo nên một sức đẩy hướng thượng, tác động
vào phần đáy của hai lá phổi, giúp gia tăng sức ép từ
dưới đáy phổi, tống mạnh không khí dơ bẩn, còn ứ đọng
lại từ đáy phổi ra ngoài.
( sưu tầm từ "Khí Công Dưỡng Sinh"
của Vũ Đức Hiền Âu)
Chữa bất lực bằng khí công
Đáp ứng nhu cầu phong phú của đời sống con người, cổ
nhân đã sáng tạo và vận dụng nhiều bài tập khí công
giúp ích cho chuyện ''phòng sự'', nhất là chứng bất
lực. Thực tế chứng minh, một bài khí công hợp lý, niềm
tin và sự kiên trì luyện tập có thể cải thiện tình hình,
thậm chí phục hồi hoàn toàn chức năng sinh lý của nhiều
đấng mày râu.
Bài tập khí công chữa bất lực được các tác giả Trung
Quốc nghiên cứu ứng dụng trên một nhóm bệnh nhân liệt
dương tuổi từ 25 đến 48, người mắc bệnh lâu nhất là
10 năm, ngắn nhất là 1 năm. Sau 6 tháng luyện tập, 58,3%
khỏi hoàn toàn, 41,7% cải thiện tình trạng bệnh, không
có trường hợp nào thất bại. Người ta cũng nhận thấy,
bài tập không chỉ có lợi cho người bị bất lực mà còn
có tác dụng điều trị hội chứng suy nhược thần kinh,
góp phần bảo vệ và nâng cao sức khoẻ.
Chuẩn bị
- Giải quyết vệ sinh cá nhân.
- Lựa chọn tư thế phù hợp. Có thể nằm hoặc ngồi trên
ghế tựa; tốt nhất là nằm ngửa trên giường, hai chân
duỗi thẳng và hơi dạng tự nhiên, hai tay để xuôi theo
thân mình hoặc đặt trên đùi, toàn thân ở trạng thái
duỗi mềm, tâm thần yên tĩnh, thư giãn trong3-5 phút.
Tiến hành
Lần lượt thực hiện các thao tác theo thứ tự sau:
- Hai mắt khép hờ, tập trung tâm ý vào đan điền (vùng
dưới rốn ở sau lưng) rồi từ từ chủ động thở ra bằng
các cơ vùng bụng sao cho thành bụng càng ép sát lưng
càng tốt. Sau đó chầm chậm hít vào hết cỡ, ngừng thở
một lát rồi lại từ từ thở ra theo chu trình ban đầu.
Thực hiện 3 chu trình như vậy gọi là ý thủ đan điền.
- Sau thao tác đầu tiên nói trên, thường vùng đan điền
có cảm giác nóng lên, lúc này lại tập trung tâm ý hướng
từ đan điền thẳng tới mệnh môn (điểm đối diện với rốn
ở sau lưng, xác định bằng cách vạch một đường vòng từ
rốn vòng ngang ra sau lưng). Thao tác này họi là ý thủ
hội âm.
- Sau khi thủ ý hội âm có thể xuất hiện hiện tượng
cương cứng lên hoặc có cảm giác muốn xuất tinh, tiếp
tục thực hiện thao tác gọi là luyện tinh hoá khí được
đặc trưng bằng 4 chữ Hô, Thiếp, Đề, Bế.
Trước tiên, cần ý thủ đan điền rồi hướng tâm ý từ dương
vật xuống hội âm, lại từ hội âm hướng xuống xương cùng
cụt, đồng thời mím môi nghiến chặt răng, lưỡi áp sát
lên hàm trên, duỗi cứng tay chân, nhíu hậu môn, sau
đó tiếp tục hướng tâm ý từ xương cùng dọc theo cột sống
hướng lên trên, vòng qua đầu tới thượng đan điền (ở
giữa 2 mắt), lưu lại đây giây lát rồi cuối cùng trở
về đan điền (vùng dưới rốn). Thực hiện 3 chu trình như
vậy.
- Cuối cùng là thao tác ''thủ công'', tập trung tâm
ý xung quanh đan điền, đầu tiên xoay trong từ trong
ra ngoài, từ trái sang phải 36 vòng, sau đó ngược lại
từ ngoài vào trong, từ phải sang trái 24 vòng, kết thúc
bằng động tác xoa tay và xoa mặt.
Ths. Hoàng Khánh Toàn, Khoa học & Đời sống
Thái Cực Quyền Và Khí Công Có Khác Nhau Không ? Hai
Môn Này Có Bổ Túc Cho Nhau không ?
TCQ không phải khí công mà là
quyền thuật . Có người dựa vào yêu cầu "tâm tĩnh"
và "động tác và hô hấp kết hợp với nhau" mà
bảo rằng TCQ là một hình thức của khí công . Nhận định
này sai . TCQ chủ yếu là một loại vận động nhằm rèn
luyện thân thể . TCQ và Thiếu Lâm quyền cùng thuộc vào
loại vận động thể dục . TCQ và khí công khác nhau .
Các điểm khác nhau là :
1. TCQ lấy "động" làm chủ , là một bài quyền
được tạo thành bởi nhiều tư thế ưu mỹ . Khí công thì
lấy "tĩnh" làm chủ . Tuy có biện biệt thành
tọa công , trạm công , và ngọa công , nhưng lúc vận
dụng , bất kỳ hình thức khí công nào cũng đều nhằm yêu
cầu "nhập tĩnh" .
2. Lúc luyện tập , TCQ yêu cầu "tinh thần nội
liễm" , "tư tưởng tập trung" là biểu
hiệu của "động trung cầu tĩnh" . Lúc luyện
khí công , hô hấp kéo dài và dưới ảnh hưởng của sự hô
hấp mà sự tuần hoàn của máu được xúc tiến , tác dụng
chuyển hóa tăng nhanh . Như lúc luyện tĩnh tọa , bề
ngoài trông thấy rất an tĩnh nhưng trong thân thể là
cả một hòa điệu của sự hoạt động sinh lý . Khí công
biểu hiệu cho "tĩnh trung cầu động" .
3. Lúc tập TCQ , động tác và sự hô hấp kết hợp với
nhau một cách tự nhiên . Sự co , duỗi , lớn , nhỏ của
động tác TCQ ảnh hưởng đến không khí trao đổi trong
lúc vận động , làm cho dung lượng khí trao đổi tương
ứng với động tác không bằng nhau .
Còn phương thức hô hấp của khí công , tuy có chia
ra thành thuận hô hấp , nghịch hô hấp và hô hấp tự nhiên
. Nhưng bất luận dùng phương pháp nào thì cũng đều là
sự hô hấp có quy luật , đòi hỏi phải đều đặn , khó kết
hợp với động tác .
4. TCQ có ba loại tác dụng : kiện thân , khước bệnh
,và kỹ k...(là chiến đấu) , trong khi đó khí công chỉ
có hai tác dụng đầu . Về phương diện trị liệu các bệnh
mạn tính như sưng dạ dày , xệ dạ dày , huyết áp cao
, khí công có hiệu quả hơn , cho nên mới được mệnh danh
là "khí công liệu pháp" , trong khi đó TCQ
chỉ được gọi là "y liệu thể dục" .
TCQ và khí công đều có giá trị y liệu và kiện thân
, cho nên có thể đồng thời luyện chúng để lấy sở trường
của cả hai . Luyện khí công (như tĩnh tọa chẳng hạn)
, tuy có thể thông qua sự hô hấp theo cách thức nhất
định là cho máu tuần hoàn nhậm lẹ và tác dụng chuyển
hóa trong cơ thể xảy ra mau chóng , nhưng thân thể vốn
dĩ thiếu hoạt động , nên không thể rèn luyện gân cốt
bắp thịt . Ðể bù vào khuyết điểm này , người tập khí
công có thể tập TCQ để các bộ phận cơ thể có cơ hội
hoạt động . Những người bệnh đang dùng khí công liệu
pháp để điều trị mà tập thêm TCQ là tốt nhất , bởi vì
trên phương diện y liệu thể dục thì những người ấy đâu
còn thích hợp với các loại vận động kịch liệt nữa .
Thật vậy , lấy TCQ làm loại vận động phụ trợ cho khí
công liệu pháp để điều trị người bệnh thì hiệu quả rất
tốt , làm giảm rất nhanh quá trình điều trị . Ðối lại
, tình trạng "tâm tĩnh" củ lúc luyện TCQ có
tác dụng ức chế đối với vỏ đại não không mạnh bằng lúc
luyện khí công . Ðối với các bệnh mạn tính , dùng khí
công điều trị thì có kết quả nhanh hơn .
Vì vậy , người có bệnh mạn tính nên luyện khí công
làm chính , và luyện TCQ để phụ trợ thì kết quả rất
tốt . Người mạnh khõe , nhất là người lao động trí óc
và người già cũng nên kiêm luyện hai môn này , ích lợi
vô cùng .
|