| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Vì
lợi ích truyền đạt các kiến thức, các giá trị văn
học. Chúng tôi chân thành cảm ta những nguồn trích
dẫn. Chúng tôi rất tiếc không liên lạc để xin phép
đăng lại được. Xin lượng thứ. HNPĐ)

Đào Trinh Nhất
Tiểu sử Ðào Trinh
Nhất
(trích Liêu Trai Chí Dị, nguyên tác của Bồ
Tùng Linh, bản dịch của Ðào Trinh Nhất, in lại ở
hải ngoại nhưng không đề nhà xuất bản cũng như năm
in. Trong đó có gần 4 trang ghi lại "Tiểu truyện
tác giả." *).
Tiên sinh họ Đào húy Trinh-Nhất sanh năm Canh Tí
(1900) tại Thuận-Hóa (Trung-Việt), quán xã Thượng-phán,
huyện Huỳnh-côi, tỉnh Thái-bình, mất trong một gian
nhà nhỏ ở xóm Hòa-hưng, Sài-gòn, hồi chiều thứ sáu
ngày 18 tháng giêng năm Tân-mão (23-11-1951, thọ
52 tuổi. Con trưởng cụ đình-nguyên nhị-giáp tiến-sĩ
Đào-Nguyên-Phổ, rể cụ cử Lương-Ngọc-Quyến, sẵn thừa
hưởng một gia giáo văn-học truyền-thống, tiên-sinh
kiêm thông Hán-học, Pháp-học, thêm có văn tài, có
sáng kiến, trong ngót 30 năm, đã để lại nhiều thành
tích trong làng văn, làng báo.Tiên-sinh làm chủ
bút, nếu không là chủ bút thì cũng là một phụ bút
đắc lực cho nhiều nhật báo, tuần báo, tạp chí.
Từ năm 1920-1921, tiên-sinh bắt đầu bước vào làng
báo, biên tập Hữu-thanh tạp-chí và Thực-nghiệp dân-báo.
Rồi làm Trung-hòa nhật báo cơ quan ngôn-luận của
nhà Chung. Sau đó làm báo Đông-Pháp tức là phần
phụ trương viết bằng Việt ngữ của tờ báo Pháp France
Indochine.
Năm 1924-1925 vào Nam, làm sôi nổi dư luận Lục-tỉnh
bằng cuốn Thế-lực khách-trú và vấn-đề di-dân vào
Nam-kỳ.
Năm 1925-1926, tiên-sinh du-học Pháp. Năm 1929
về nước, ở luôn trong Nam làm báo, làm sách cho
đến năm1939 bị trục xuất về Bắc.
Trong khoảng 10 năm đó, ở Sài-Gòn, tiên sinh đã
làm báo Phụ-nữ tân văn, báo Công-luận, báo Thần-chung,
báo Đuốc nhà Nam, báo Tân Văn, báo Việt-nam, báo
Điễn-tin.
Sau hết là báo Mai, chính của tiên-sinh toàn quyền
làm chủ (1937-1938).
Về Bắc, tiên-sinh làm báo Trung Bắc chủ nhật (1940-1945).
Tài nghệ năng lực làm báo của tiên-sinh bắt đầu
xuất hiện rõ ràng ở báo Mai, để rồi phát triển dồi
dào ở Trung-Bắc chủ nhật.
Sau năm 1945-1947, chạy loạn về, tiên-sinh làm
báo Ngày mới, báo Việt thanh (Bắc), và đến năm 1948
làm báo Cải-tạo ở Hà-hội và sau thời-kỳ trở vào
Gài-gòn làm trong bộ Ngoại-giao Nguyễn-Phan-Long
(1949-1950), tiên-sinh viết nhiều bài lẻ tẻ ở báo
Ánh sáng, báo Sài-gòn mới, báo Dân-thanh cho đến
ngày lâm-chung.
Thời kỳ đặc sắc nhất trong đời làm báo của tiên-sinh
là lúc làm báo Mai và Trung Bắc chủ nhật.
Từ phương diện tài liệu văn nghệ ở nội dung đến
phương diện kỹ thuật ấn loát ở ngoại dung, ai cũng
nhìn nhận tiên-sinh thật là một nhà báo có sáng
kiến, có biệt tài làm cho một tờ báo nổi tiếng và
hấp dẫn độc giả.
Tác phẩm của tiên-sinh :
Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam-kỳ.(Thụy
ký - Hà-nội, 1924)
Thần tiên kinh (Dịch của A lan Kardec, 1930)
Nước Nhựt bổn 30 năm duy tân (Đắc-lập - Huế, 1936)
Cô Tư Hồng (1942)
Kẻ bán trời, Con quỷ phong lưu, Bùi thị Xuân
Lê văn Khôi (1941-1945)
Việt sử giai thoại (1943)
Vương An-Thạch (1943)
Con trời ngã xuống đất đen (1944)
Chu Trần tinh-hoa (1944)
Vương Dương Minh (1943-1945)
vân vân …
Tiên-sinh vốn là nhà báo làm văn cho nên hầu hết
các tác phẩm của tiên-sinh đều đăng từng kỳ một
trong các báo rồi sau mới in sách.
Sách Liêu trai chí dị này, tiên-sinh mới dịch được
nửa bộ, đang đăng báo thì tiên-sinh từ trần.
*
Tiên-sinh có nhiều bút hiệu, tùy tính cách mục
báo đang chủ biên, tùy tên báo đang biên tập.
Tiên-sinh có tên tự là chính Quán-Chi. Chữ này
xuất xứ ở sách tứ thư : Ngô đạo nhất dĩ Quán chi.
Biệt hiệu : NAM CHÚC là dịch ra Hán-tự chữ Đuốc
nhà Nam tên báo.
VIÊN-NẠP là nói lái chữ Việt-nam, cũng tên báo.
HẬU-ĐÌNH, khi làm thay cho LAN-ĐÌNH chủ bút báo
Tin-điển (Hậu có nghĩa là nối theo). Lại còn bút
hiệu TINH-VỆ, BẤT-NHỊ, HỒNG-PHONG. Có khi ký hẳn
một ẩn danh để đánh lạc độc giả :
TRƯƠNG VĂN THU
Cô PHẠM VÂN ANH
*
Được tin tiên-sinh mất, trong Nam ngoài Bắc làng
báo, làng văn đều tỏ tình mến tiếc. Báo Tiếng-dội
(Sài-gòn) chủ xướng việc xây mộ cho tiên-sinh.
Báo Cải-tạo (Hà-nội) tổ chức ngày lễ truy điệu
long trọng và cho ra một số báo đặc biệt đầy đủ
về tiên-sinh (Cải-tạo số 134 ngày 10-111(nc)-1951).
Các báo đều có nói nhiều về thân thế, văn nghiệp
tiên sinh, đăng đủ điếu từ, đối phúng, văn tế, thơ
viếng.
Tấm Gương Thu Hình - Bát Đại Vương
ĐÀO TRINH NHẤT dịch
Lâm Thao Phùng sinh, tên thật là gì, người thuật
chuyện không nhớ, chỉ biết chàng vốn dòng dõi thế
gia nay đã sa sút rồi. Có người chài lưới thiếu
nợ chàng mà không trả nổi, hễ lần nào bắt ba ba
cùng loài cua đinh cũng đem biếu chàng. Có lần biếu
con ba ba cực to, trán có đốm trắng, chàng thấy
hình dạng lạ lùng, liền thả ra sông.
Sau đó có dịp đi thăm con rể trở về đến bờ sông
Hoàng Hà trời đã chạng vạng, thấy một người say
rượu, hai ba tiểu đồng theo sau, ngất ngưởng đi
từ đầu kia tới, giáp mặt chàng hỏi chàng là ai đi
đâu vậy? Chàng trả lời là kẻ đi đường. Người say
giận nói:
- Chàng có tên họ gì, sao lại nói cụt ngủn là kẻ
đi đường?
Đường xa trời tối, chàng sốt ruột đi về, cho nên
chẳng buồn trả lời, cứ phăng phăng đi qua. Người
say càng giận, nắm chặt lấy áo chàng không cho đi,
mùi rượu xông lên sặc sụa. Chàng rất khó chịu mà
cố sức gỡ mình ra không được bèn nói xẵng:
- Nhà ngươi tên chi?
Người say đáp giọng lè nhè:
- Ta là Lệnh Doãn cũ ở Nam Đô. Mà chú hỏi làm chi.
Chàng nói:
- Thế gian có thứ Lệnh Doãn như vậy, thật là chửi
thiên hạ. Ấy, may là Lệnh doãn cũ, phải là Lệnh
doãn mới, dễ thường phải giết hết người ta chăng?
Người say giận lắm, toan giở võ ra với chàng. Chàng
dõng dạc nói:
- Ta đây là Phùng mỗ, không chịu anh đánh đâu.
Nguời say nghe nói, liền đổi giận làm vui, cúi mọp
xuống lạy mà nói:
- Ngài là ân nhân của tôi, vừa rồi đường đột, xin
đừng chấp trách.
Đoạn, trỗi dậy bảo tiểu đồng đi mau về nhà trước
dọn rượu. Chàng từ chối không được, nắm tay cùng
đi vài dặm, đến một xóm nhỏ. Vào trong thì nhà cửa
sang trọng, như phủ đệ qúy nhân. Sau khi thấy chủ
nhân đã tỉnh rượu, chàng mới hỏi thăm tên họ là
gì. Chủ nhân nói:
- Thú thật với ông xin ông chớ kinh hãi. Tôi là
bát Đại Vương ở sông Thao đây. Mới đây, Thanh Đồng
ở Sơn Tây mời đi uống rượu trở về có hơi quá say,
nên mới xúc phạm tôn nhan, nghĩ rất hổ thẹn.
Chàng biết là yêu quái nhưng thấy tình ý niềm nở
cho nên chẳng sợ hãi. Giây lát tiệc bày linh đình,
mời chàng uống rượu nói chuyện. Bát vương uống cực
hăng một hơi đã cạn luôn mấy ly lớn. Chàng sợ hắn
lại say, sinh sự rắc rối như hồi nãy, bèn giã đò
mình say đòi đi nằm. Bát vương hiểu ý, cười nói:
- Ông sợ tôi say quá hóa cuồng chăng? Xin ông chớ
lo. Phàm người say nói xằng làm bậy, mà bảo rằng
qua sáng mà tỉnh rượu, không còn nhớ gì việc mình
là, ấy là nói dối, nhưng đối với người trưởng giả
như ngài, thật không dám làm điều vô hạnh. Tại sao
ngài cự tuyệt tôi như thế?
Chàng nể lòng, lại ngồi xuống, nghiêm sắc mặt can
gián:
- Ông đã tự biết mình lầm lỗi, sao không sử đổi
đi?
Bát vương đáp:
- Lão phu hồi làm Lệnh Doãn, say sưa be bét còn
quá ngày nay. Từ ngày chọc giận Thượng đế, bị đày
ở cù lao, cố chừa thói cũ, được hơn mười năm. Nay
nghĩ mình già yếu sắp sửa vào hòm, mà tấm thân còn
vất vả chẳng được vẫy vùng, cho nên thói cũ lại
muốn trở lại mà không tự biết đó thô. Nay được ngày
khuyên bảo, tôi xin vâng lời.
Còn đang nói chuyện, thì nghe thấy tiếng chuông
chùa xa đã gõ. Bát vương đứng dậy cầm tay chàng
nói:
- Tôi cùng ngài tụ họp không được lâu, vậy có một
vật báu, xin tặng ngài để báo đáp ơn xưa. Vật này
chẳng nên mang lâu. chừng được như nguyện rồi, xin
trả lại cho tôi.
Nói đoạn, khạc trong miệng ra một hình nhân bé tí
hon, độ chừng một tấc, rồi móng tay nọn rạch cánh
tay chàng đau như xé ruột, vội vàng đặt hình nhân
lên trên mà đè thật mạnh. Khi buông tay thì hình
nhân đã lọt vào da thịt, mà dấu móng tay còn rành
rành. Chàng sợ hãi cuống quít, Bát vương cười mà
không đáp, chỉ nói rằng:
- Ngài nên đi thôi.
Đoạn tiễn chân chàng ra cửa. Bát vương trở lại.
Chàng ngoảnh lại, xóm làng nhà cửa đều biến mất,
duy một con ba ba đang bò xuống sông, chàng sửng
sốt giây lâu tự nghĩ vật báu mới cho tất là ngọc
ba ba.
Từ đó cặp mắt cực sáng; phàm chỗ nào có châu báu,
dù ở suối vàng cũng trông thấy. Ngay đến vật gì
thuở nay không từng biết bao giờ cũng ứng khẩu nói
ra đích danh. Nhờ vậy mà đào lên được mấy trăm bạc
chôn giấu ngay trong buồng ngủ, thành ra sự ăn tiêu
hơi phóng túc.
Sau có người bán ngôi nhà cũ, chàng dòm thấy tiền
bạc chôn giấu nhiều lắm, bèn mua giá đắt để làm
nhà ở. Dần dà giàu có ngang bậc vương hầu, phàm
loại ngọc quý trong thiên hạ, nhà chàng sưu tập
tích súc đủ cả.
Trong số đó có một tấm gương, sau lưng chạm trỏ
hình chim phượng và bà Tương Phi, bề mặt chiếu sáng
tới ngót một dặm, rõ ràng từ mảy tóc sợi lông, có
thể đếm được.
Nhất là mỹ nhân nào soi gương này, tức thời hình
dạng in vào gương, chùi lau cách gì cũng không mất
được. Nếu người đó thay quần áo khác mà soi lại,
hoặc một mỹ nhân khác soi thì hình ảnh in trước
mới được mất đi.
Lúc bấy giờ, bà chúa Ba, con gái Túc vương ( tức
là Túc Trang Vương), hoàng tử thứ mười bốn của Thái
tổ nhà Minh nhan sắc tuyệt đẹp, chàng vẫn nghe danh
mộ tiếng. Nhân dịp bà chúa đi chơi núi Không Động,
chàng đi trước, lén núp trong hang, rình khi chúa
ở trên kiệu bước xuống, lấy gương ra thu hình ảnh
rồi mang về.
Chàng về, đặt gương trên bàn, nhìn kỹ, thấy mỹ nhân
ơ trong, tay cầm khăn, miệng mỉm cười và mấp máy
muốn nói, làn sóng mắt cũng long lanh muốn động,
chàng mừng quá giấu kỹ một nơi.
Hơn một năm, vợ ngồi lê đôi mách, nói lộ chuyện
ấy ra, lọt đến tai Túc phủ.
Túc vương cả giận, bắt giam chàng lại, đòi lấy tấm
gương và định đem đi chém. Chàng hối lộ rất nhiều
cho một vị thân tín trong phủ, nhờ băn tin với Túc
vương rằng:
- Nếu vương tha thì của gì báu nhất trên đời, muốn
có cũng dễ. Bằng không, tôi chỉ chết là cùng, sự
đó lại chẳng ích lợi gì cho vương.
Túc vương muốn tịch thu gia sản và đày chàng đi
xa. Chúa Ba nói:
- Hắn đã dòm con rồi, dù hắn chết mười phần, cũng
không gội rửa cái nhơ bẩn này, chi bằng gả con cho
hắn là hơn.
Vương không nghe. Chúa đóng cửa không chịu ăn. Vương
phi lo quá, hết sức nói với vương, bấy giờ vương
mới chịu thả chàng ra khỏi ngục, lại sai người thân
ngỏ ý với chàng. Chàng từ chối:
- Vợ tôi lấy từ thuở hàn vì, nghĩa không sao bỏ
đặng. Tôi thà chết, chứ không dám phụng mạng. Nếu
vương cho tôi chuộc tội thì hết nhà hết cửa cũng
cam.
Vương giận lắm, lại bắt chàng giam ngục.
Bà vương phi vời vợ chàng vào trong cung, toan đánh
thuốc độc cho chết. Nàng đem chiếc giá gương bằng
san hô làm lễ ra mắt, lời lẽ cực mềm mỏng. Vương
phi rất vui lòng, sai giáp mặt Chúa Ba, chúa cũng
ưng ý, đính ước làm chị em, rồi sai người vào ngục
dụ dỗ chàng nữa. Chàng nhắn bảo vợ: “Con nhà vương
hầu, không nên kể trước sau mà bàn chuyện lớn bé
được”.
Vợ không nghe, cứ việc sắm lễ vật, đưa nộp vương
phủ. Số người mang đội lễ có hàng ngàn, nhiều thứ
châu báu quý ngọc lạ, nhà vương không biết tên gì.
Vương mừng thả chàng về làm lễ cưới với chúa. Hôm
chúa về nhà chồng, cũng đem gương báu cùng về.
Một đêm chàng nằm một mình, mộng thấy Bát vương
nghênh ngang đi vào nói:
- Món đồ tôi tặng năm xưa, giờ nên trả lại. Mang
nó trong mình lâu quá tổn hao tâm quyết và haị mạng
nữa.
Chàng xin vâng, muốn cầm giữ Bát vương ở lại uống
rượu chơi, nhưng Bát vương từ chối:
- Thôi, rượu thì tôi xin kiếu. Từ lúc nghe lời ông
khuyên can, tôi bỏ dứt hơi men, được ba năm rồi.
Đoạn há miệng cắn vào tay chàng. Đau quá chàng tỉnh
dậy, xem cục thịt nổi đã tiêu mất rồi. Từ đó y như
người bình thường.

|