| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Nhân
ngày mất của Học giả Đào Trinh Nhất ( 23-03-1951)
Tiểu
sử Ðào Trinh Nhất
(Trích từ "Ngục Trung Thư" nguyên
tác bằng Hán văn của Phan Bội Châu, bản dịch của
Ðào Trinh Nhất * )
Ðào Trinh Nhất sinh năm 1899 tại Thái Bình. Ông
là con của Cụ Ðào Nguyên Phổ. Phu nhân của ông là
bà Lương Thị Hòa (con gái Cụ Lương Ngọc Quyến và
là cháu nội Cụ Lương Văn Can).
1921-1925 : Viết báo Hữu Thanh, Thực Nghiệp Dân
Báo và France-Indochine ở Hà Nội .
14/11/1925 : Tới Saigon, làm thư ký tại Chez Phan
Chu Trinh, số 5 Catinat (đường Tự Do).
22/3/1926 : qua Pháp.
15/4/1926 : Tới Paris liên lạc với Nguyễn Thế Truyền
và Nguyễn Như Phong. Viết báo Việt Nam Hồn.
5/1927 : Trở về VN.
1930-1931 : Chủ bút báo Ðuốc Nhà Nam (Flambeau d'Annam)
của Bùi Quang Chiêu.
2/1936 : Xuất bản tờ Mai, tấn công Ðại Hội Ðông
Dương.
25/7/1939 : Bị trục xuất về Bắc.
1944-1945 : Cộng tác với báo Nước Nam của Lương
Ngọc Hiền tại Hà Nội.....
Tiểu sử Ðào Trinh Nhất
(trích Liêu Trai Chí Dị, nguyên tác của Bồ Tùng
Linh, bản dịch của Ðào Trinh Nhất, in lại ở hải
ngoại nhưng không đề nhà xuất bản cũng như năm in.
Trong đó có gần 4 trang ghi lại "Tiểu truyện
tác giả." *).
Tiên sinh họ Đào húy Trinh-Nhất sanh năm Canh Tí
(1900) tại Thuận-Hóa (Trung-Việt), quán xã Thượng-phán,
huyện Huỳnh-côi, tỉnh Thái-bình, mất trong một gian
nhà nhỏ ở xóm Hòa-hưng, Sài-gòn, hồi chiều thứ sáu
ngày 18 tháng giêng năm Tân-mão (23-11-1951, thọ
52 tuổi. Con trưởng cụ đình-nguyên nhị-giáp tiến-sĩ
Đào-Nguyên-Phổ, rể cụ cử Lương-Ngọc-Quyến, sẵn thừa
hưởng một gia giáo văn-học truyền-thống, tiên-sinh
kiêm thông Hán-học, Pháp-học, thêm có văn tài, có
sáng kiến, trong ngót 30 năm, đã để lại nhiều thành
tích trong làng văn, làng báo.Tiên-sinh làm chủ
bút, nếu không là chủ bút thì cũng là một phụ bút
đắc lực cho nhiều nhật báo, tuần báo, tạp chí.
Từ năm 1920-1921, tiên-sinh bắt đầu bước vào làng
báo, biên tập Hữu-thanh tạp-chí và Thực-nghiệp dân-báo.
Rồi làm Trung-hòa nhật báo cơ quan ngôn-luận của
nhà Chung. Sau đó làm báo Đông-Pháp tức là phần
phụ trương viết bằng Việt ngữ của tờ báo Pháp France
Indochine.
Năm 1924-1925 vào Nam, làm sôi nổi dư luận Lục-tỉnh
bằng cuốn Thế-lực khách-trú và vấn-đề di-dân vào
Nam-kỳ.
Năm 1925-1926, tiên-sinh du-học Pháp. Năm 1929
về nước, ở luôn trong Nam làm báo, làm sách cho
đến năm1939 bị trục xuất về Bắc.
Trong khoảng 10 năm đó, ở Sài-Gòn, tiên sinh đã
làm báo Phụ-nữ tân văn, báo Công-luận, báo Thần-chung,
báo Đuốc nhà Nam, báo Tân Văn, báo Việt-nam, báo
Điễn-tin.
Sau hết là báo Mai, chính của tiên-sinh toàn quyền
làm chủ (1937-1938).
Về Bắc, tiên-sinh làm báo Trung Bắc chủ nhật (1940-1945).
Tài nghệ năng lực làm báo của tiên-sinh bắt đầu
xuất hiện rõ ràng ở báo Mai, để rồi phát triển dồi
dào ở Trung-Bắc chủ nhật.
Sau năm 1945-1947, chạy loạn về, tiên-sinh làm
báo Ngày mới, báo Việt thanh (Bắc), và đến năm 1948
làm báo Cải-tạo ở Hà-hội và sau thời-kỳ trở vào
Gài-gòn làm trong bộ Ngoại-giao Nguyễn-Phan-Long
(1949-1950), tiên-sinh viết nhiều bài lẻ tẻ ở báo
Ánh sáng, báo Sài-gòn mới, báo Dân-thanh cho đến
ngày lâm-chung.
Thời kỳ đặc sắc nhất trong đời làm báo của tiên-sinh
là lúc làm báo Mai và Trung Bắc chủ nhật.
Từ phương diện tài liệu văn nghệ ở nội dung đến
phương diện kỹ thuật ấn loát ở ngoại dung, ai cũng
nhìn nhận tiên-sinh thật là một nhà báo có sáng
kiến, có biệt tài làm cho một tờ báo nổi tiếng và
hấp dẫn độc giả.
Tác phẩm của tiên-sinh :
Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam-kỳ.(Thụy
ký - Hà-nội, 1924)
Thần tiên kinh (Dịch của A lan Kardec, 1930)
Nước Nhựt bổn 30 năm duy tân (Đắc-lập - Huế, 1936)
Cô Tư Hồng (1942)
Kẻ bán trời, Con quỷ phong lưu, Bùi thị Xuân
Lê văn Khôi (1941-1945)
Việt sử giai thoại (1943)
Vương An-Thạch (1943)
Con trời ngã xuống đất đen (1944)
Chu Trần tinh-hoa (1944)
Vương Dương Minh (1943-1945)
vân vân …
Tiên-sinh vốn là nhà báo làm văn cho nên hầu hết
các tác phẩm của tiên-sinh đều đăng từng kỳ một
trong các báo rồi sau mới in sách.
Sách Liêu trai chí dị này, tiên-sinh mới dịch được
nửa bộ, đang đăng báo thì tiên-sinh từ trần.
*
Tiên-sinh có nhiều bút hiệu, tùy tính cách mục
báo đang chủ biên, tùy tên báo đang biên tập.
Tiên-sinh có tên tự là chính Quán-Chi. Chữ này
xuất xứ ở sách tứ thư : Ngô đạo nhất dĩ Quán chi.
Biệt hiệu : NAM CHÚC là dịch ra Hán-tự chữ Đuốc
nhà Nam tên báo.
VIÊN-NẠP là nói lái chữ Việt-nam, cũng tên báo.
HẬU-ĐÌNH, khi làm thay cho LAN-ĐÌNH chủ bút báo
Tin-điển (Hậu có nghĩa là nối theo). Lại còn bút
hiệu TINH-VỆ, BẤT-NHỊ, HỒNG-PHONG. Có khi ký hẳn
một ẩn danh để đánh lạc độc giả :
TRƯƠNG VĂN THU
Cô PHẠM VÂN ANH
*
Được tin tiên-sinh mất, trong Nam ngoài Bắc làng
báo, làng văn đều tỏ tình mến tiếc. Báo Tiếng-dội
(Sài-gòn) chủ xướng việc xây mộ cho tiên-sinh.
Báo Cải-tạo (Hà-nội) tổ chức ngày lễ truy điệu
long trọng và cho ra một số báo đặc biệt đầy đủ
về tiên-sinh (Cải-tạo số 134 ngày 10-111(nc)-1951).
Các báo đều có nói nhiều về thân thế, văn nghiệp
tiên sinh, đăng đủ điếu từ, đối phúng, văn tế, thơ
viếng.
............................
(*) Cả hai tài liệu trên chia sẻ từ anh Trần Ngọc
Điển. Anh Điển là cựu học sinh Taberd, tác giả bài
"Lược sử dòng Sư huynh La San ở Việt Nam"
đã đang trên VietSciences số tháng 8 năm 2005. Xin
thành thật cám ơn anh Điển đã chia sẻ thông tin
quý báu này. (ERCT)
...........
* Vài hàng về tác giả Đào Trinh Nhất (thông tin
chia sẻ của anh T Đ A - Exryu USA)
- Đào Trinh Nhất là học giả, nhà báo. Sinh năm
1900, mất ngày 21-3-1951
Ông viết nhiều về các phong trào chống Pháp như
Cần Vương, Đông Kinh Nghĩa Thục, cuộc khởi nghĩa
của Phan Đình Phùng, nhà yêu nước Phan Bội Châu,
... Ông cũng có dịch thơ của những người cách mạng
chẳng hạn như bài thơ dịch sau đây:
- Bài Thơ Tuyệt Mệnh -
Học hải cầm thư lịch kỷ thu
Nam Quan hồi thủ tứ du du
Bách niên Tổ Quốc quy Hồ Lỗ
Thất xích tàn khu phó bích lưu
Tư thế bất phùng minh thánh hữu
Lai sinh thả báo phụ huynh cừu
Thử hồi hoạch yết Lam Sơn Đế
Hoán khởi trùng tiêm Pháp tặc đầu
- Lương Ngọc Quyến -
Bể học xông pha trải bấy lâu
Thân tù ngoảnh lại nghĩ mà đau
Trăm năm -dất Tổ về quân Mọi
Bảy thước thân tàn mặc nước trôi
Bạn tốt đời nay sao vắng cả
Thù nhà kiếp trước chớ quên -dâu
Bao giờ gặp -được Lam Sơn Đế
Quyết mượn oai linh chém Pháp đầu .
- -Đào Trinh Nhất dịch -

|