| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Vì
lợi ích truyền đạt các kiến thức, các giá trị văn
học. Chúng tôi chân thành cảm ta những nguồn trích
dẫn. Chúng tôi rất tiếc không liên lạc để xin phép
đăng lại được. Xin lượng thứ. HNPĐ)

Danh
sĩ Đào Tấn
Nhân
ngày mất của danh sĩ Đào Tấn ( 23-8-1907)
1907: Ngày mất Đào Tấn, danh sĩ, nhà soạn tuồng
cận đại, dòng dõi Lộc Khê hầu Đào Duy Từ, tự Chỉ
Thúc, hiệu Tô Giang, tiểu hiệu Mai Tăng, Mộng Mai.
Ông quê ở làng Vĩnh Thịnh, tổng Nhân Ân, phường
Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Theo gia phả họ Đào ở
làng Vĩnh Thịnh, tên họ Đào Tấn có lót chữ Đăng,
tức Đăng Tấn. Ông sinh ngày 25 tháng 02 (âm lịch),
tức ngày 02.04.1845. Ông là con ông Đào Đức Ngạc,
và bà Hà Thị Loan.
Năm 1867, ông đỗ cử nhân, làm tổng đốc Nghệ An,
từng bốn lần làm thượng thư triều Nguyễn. Ông nổi
tiếng thanh liêm, công bình, giỏi văn chương, thích
soạn tuồng hát. Chính ông sáng lập ra môn hát bội
ở Bình Định và lập một trường dạy kịch nghệ g̣ọi
là Học bộ đình.
Các tác phẩm: “Mộng mai thi tồn”, “Mộng mai từ
lục”, “Mộng mai ngâm thảo”, “Mộng mai văn sao” viết
bằng chữ Hán. Các vở tuồng: “Quần trân hiếu thoại”,
“Tứ quốc lai vương”, “Tam bảo thái giám hữu bửu”,
“Cổ thành”, “Quan công quá quan”, “Tân dã, Hoàng
Phi Hổ quá quan”, “Trầm hương các”, “Hộ sanh đàn”,
“Khuê các anh hùng”...
Giai thoại về Đào Tấn
Đào Tấn (1845 - 1907) tự là Chí Thúc, hiệu Mai
Táng và Mộng Mai. Ông sinh trưởng trong một gia
đình nông dân nghèo ở làng Vinh Thạnh, Tuy Phước,
Bình Định. Đào Tấn là học trò ưu của Tú tài Nguyễn
Diêu, một nhà soạn tuồng nổi tiếng. Noi gương và
chịu trực tiếp ảnh hưởng của thầy, Đào Tấn học tập
viết tuồng hồi còn rất trẻ. Năm 22 tuổi, ông đậu
cử nhân, 26 tuổi làm Hiệu thư trong Nội các Huế,
chuyên soạn thảo kịch bản tuồng cho Hoàng gia theo
lệnh Tự Đức. Năm 1874, ông được bổ nhiệm tri phủ
Quảng Trạch, sau thăng đến Phủ doãn Thừa Thiên (1878).
Vừa làm quan ông vừa phụng chỉ soạn các vở tuồng.
Vua Tự Đức mất, ông cáo quan về nghỉ, nhưng rồi
lại được gọi ra làm quan. Sau, ông đã ngấm ngầm
giúp đỡ Phan Bội Châu chống Pháp. Năm 1907, ông
lâm bệnh nặng và mất, thọ 62 tuổi.
Hoạt động văn học nghệ thuật của Đào Tấn hết sức
phong phú, đa dạng. Ông để lại vài chục vở tuồng,
có vở còn diễn đến bây giờ như Tam nữ đồ vơng,
Sơn Hậu, Đào Phi Phụng. Trong lịch sử tuồng Việt
Nam, Đào Tấn là người viết nhiều nhất và cũng là
người thành công nhất. Ngoài tuồng, ông còn sáng
tác thơ văn. Tại Bình Định, người ta lập đền thờ
ông, xem ông là ông tổ của ngành hát bội.
* * *
Nét chữ đáng giá
Đào Tấn không những nổi tiếng soạn tuồng giỏi
mà còn nức danh văn hay chữ tốt.
Lúc làm quan ở Quảng Ngãi, ông có một người bạn
là Võ Văn Nho ưa ăn ngon. Còn quan Tổng đốc Quảng
Ngãi là Lý Định Chi thì lại rất ưa chuộng nét chữ
tài hoa của Đào Tấn. Cứ chỗ nào có bút tích Mộng
Mai là Lý mua lại hoặc đổi các thứ để lấy. Do vậy,
thường ngày Nho hay đến xin Mộng Mai tiên sinh
viết cho vài câu thơ vào một tờ giấy điệp. Nho mang
thơ đến dinh quan tổng đốc. Lý liền mang thịt dê
ra đổi.
Một bạn thân khác của Đào Tấn là Hà Văn Đại biết
chuyện nói đùa với ông:
- Ngày xa Vương Hi Chi (người viết chữ đẹp nổi
tiếng thời xưa bên Trung Quốc) dùng chữ đổi ngỗng.
Nay chữ của Mộng Mai tiên sinh đổi được thịt dê!
Đến ngày sinh nhật Mộng Mai, Võ Văn Nho nhân đó
viết thư chúc mừng, mong được thư trả lời để
lại mang thư đi đổi thịt. Nhưng lần này Đào Tấn
không viết thư trả lời. Người nhà của Nho cầm
thư giục mãi, ông cười bảo:
- Anh về bảo Văn Nho, bữa nay kiêng không sát sinh!
Ý ông nói hôm nay là ngày lành không giết hại súc
vật nên không thể viết thư cho anh đi đổi thịt
dê được.
Nét chữ Đào Tán còn gỡ nợ cho một anh nhà nghèo
nữa.
Bữa ấy, nhân ngồi làm việc ở một công đường, có
một người đến kiện với quan: nguyên anh ta cho
bạn vay hai quan tiền, đã mấy năm nay rồi mà đòi
mãi anh bạn vẫn cù nhầy không trả, xin quan xét
xử giùm.
Mộng Mai cho gọi bị cáo đến xét hỏi. Anh ta bèn
tha:
- Bẩm quan. Nhà con xa nay chuyên làm nghề bán
quạt để sinh sống. Rủi năm kia cha con chết, thời
tiết lại ma luôn nên bán quạt ế, con kiếm không
đủ đành phải mắc nợ số tiền đã vay để làm tang cho
cha.
Đào Tấn hỏi người đi kiện, thấy đúng như vậy,
lại cảm vì người mắc nợ hiền lành, thực thà, rồi
bảo:
- Nhà ngươi đem số quạt ế đến đây ta bán giùm
cho.
Anh ta sợ hãi bán tín bán nghi, nhưng phải tuân
lệnh. Đào Tấn lựa ra 20 chiếc quạt phất lụa trắng,
cầm bút viết chữ lên quạt hoặc là vẽ công, trúc,
tùng, mai… Xong, ông bảo:
- Thôi, bây giờ nhà ngươi có thể đem quạt ra bán
trả nợ được rồi.
Anh ta đem quạt ra cổng, đã có nhiều người chờ
để mua rồi. Chỉ loáng cái là hết. Nhiều người đến
sau, không mua được, đứng tiếc ngơ tiếc ngẩn. Anh
ta bán quạt xong, thanh toán hết nợ nần, vô cùng
cảm tạ Mộng Mai.
* * *
Một bài thơ tuyệt tác
Hồi làm tri phủ Duy Xuyên (Quảng Nam), các nhân
sĩ rất kính trọng Đào Tấn, thường mời ông uống
rượu, đề thơ tặng. Có rất nhiều người được ông
tặng thơ, nhất là các cô đào hát. Trên quạt, trên
khăn, trên thắt lưng, giải áo các cô… chỗ nào cũng
có bút tích và thơ Mộng Mai.
Năm Giáp Thìn, Đào Tấn được lệnh về kinh. Trong
bữa tiệc chia tay, cô đào Lý Kỳ đến xin lưu bút
kỷ niệm. Đào Tấn nhìn nàng, sững hồi lâu, nghĩ:
"Một cô gái xinh đẹp thế này mà ta ở Duy Xuyên
khá lâu sao bây giờ mới gặp". Ông bảo Lý Kỳ
mài mực, mang bút đến.
Mộng Mai chấm bút, viết vào tấm khăn lụa của nàng:
Dịch:
Mộng Mai ở Duy Xuyên chín tháng
Vì sao không biết nàng Lý Kỳ?
Viết xong hai câu, ông buông bút, tiếp tục uống
rượu. Có người bạn trong tiệc hỏi ông:
- Thơ phải có bốn câu, sao mới viết được một nửa
đã thôi?
Đào Tấn vẫn uống rượu, vui cười không nói gì.
Tiệc tàn, nàng Lý Kỳ nhắc ông, ông cười:
- Ta suýt quên mất là bài thơ còn bỏ dở.
Ông lại cầm bút lên viết
Dịch:
Theo quan Tây Xuyên xa họ Đỗ
Hải đường đẹp nhưng không đề thi.
Đào Tấn mượn chuyện Đỗ Phủ: mẹ Đỗ Phủ tên là Hải
Đường. Nhà thơ làm thơ hoa gì cũng ngâm vịnh, nhưng
không bao giờ ngâm vịnh Hải Đường vì kiêng tên
mẹ. Nhưng hoa Hải Đường không vì Đỗ Phủ không
đề thơ mà giảm mất vẻ đẹp rực rỡ. Cũng như nàng
Lý Kỳ vậy, tuy ta không được gặp, không làm thơ
tặng nàng bao giờ nhưng cũng không vì thế mà làm
giảm vẻ đẹp của nàng.
Mọi người vỗ tay khen ngợi Mộng Mai:
- Thật là một bài thơ tuyệt tác.
* * *

|