Ngô Tất Tố
DAO CẦU THUYỀN TÁN
TÔI CÒN SỐNG VÌ KHÔNG
UỐNG THUỐC
Hôm sau bệnh
tôi đã khỏi, mới đến thăm bạn thì anh Xuân vẫn cứ
bồ hôi ướt đầm, chân tay vật vã không lúc nào yên.
ông bà hơi sợ, lại cho mời ông lang đến. Theo lệ,
cụ lang ra bộ trầm tĩnh nắm vào cổ tay bệnh nhân,
rồi bảo nhà chủ:
- Mạch cậu ta đã bớt nhiều lắm rồi đấy, còn cái
bồ hôi thì không ngại gì, tôi cho uống một thang
"Ngọc bình phong" là khỏi.
Ngài lại ngoảnh vào mặt tôi và tiếp: - Chắc là thầy
cũng không biết thuốc "Ngọc bình phong"
là thuốc cầm bồ hôi rất diệu. Nó chỉ có ba vị hoàng
kỳ, phòng phong, cam thảo mà thôi, nhưng hay lắm,
hay vì hoàng kỳ dùng với phòng phong:
Thánh nhân dạy rằng:
"Hoàng kỳ úy phòng phong, đắc phòng phong kỳ
lực dũ đại" nghĩa là hoàng kỳ thì sợ phòng
phong, mà được phòng phong thì sức nó càng lớn.
Thầy tính tôi có nhớ sách không? Nếu làm thuốc mà
không nhớ sách thì giết người ta đấy".Rồi cụ
lang mới sai lấy giấy kê đơn. Bấy giờ tôi cũng phục
sách, tin rằng anh Xuân uống thang thuốc ấy sẽ khỏi.
Chẳng ngờ anh ta rủi quá, không chịu theo sách mà
ốm thành ra thuốc tuy cắt vào sách mà bệnh vẫn không
chuyển, bồ hôi vẫn ra, nước vẫn khát, lưỡi sắp đổi
ra màu đen và khô như ngói. Cái lo của cha mẹ cũng
theo cái bệnh của con mà tăng lên, ông bà bàn nhau
đổi tay, sai người mời thầy lang khác.
Thăm bệnh, thăm mạch xong rồi cụ lang này phải giữ
đúng "luật" thầy lang, mắng luôn cụ lang
trước không biết làm thuốc, bệnh là bệnh âm hư mà
dám dùng những tứ tô, phòng phong, láo quá. Rồi
cụ kê cho một cái đơn cụ gọi là bài lục vị, cụ dặn
ba thang thì khỏi. Người nhà theo đúng lời cụ. Uống
hết thang thứ nhất, chẳng biết thuốc trúng bệnh
hay anh Xuân đã hết bồ hôi mà không thấy bồ hôi
nữa, nước cũng đỡ khát nhưng lưỡi lại đen thêm,
và cả ngày nằm lá bì không cựa. Đến thang thứ hai
thì các chứng cũ vẫn nguyên, lại phát thêm chứng
đầy, nhưng người nhà vẫn tưởng là bớt. Uống thang
thứ ba thì bụng phát trướng, trước còn bí tiểu tiện,
sau rồi bí cả đại tiện. Bấy giờ ông bà đã rối như
canh hẹ, mới thải cụ lang ấy, đồng thời rước hai
cụ lang khác. Cái lệ cụ lang đến sau vẫn phải công
kích cụ lang chữa trước là cố nhiên rồi. Hai cụ
này cũng không đồng ý kiến với nhau. Cụ thứ nhất
bảo bệnh nhân mạch trầm vi, đó là hỏa suy, dương
hư, theo như sách Phùng thị đã dạy, phải dùng Bát
vị xung sâm, mà phải có quế thật tốt mới được.
Cụ thứ hai nói cả hai tay mạch đều khẩn thực, nó
là nhiệt tà uất kết, phải hạ mới khỏi. ấy mưới rầy,
cùng một cái phập phồng ở mạch máu, mà một cụ gọi
là trầm vi một cụ gọi là khẩn thực, chính cái tay
của người có bệnh lại không biết cãi, thì biết nghe
ai bây giờ. Thế nhưng hai cụ vẫn cứ cãi nhau, cụ
thứ hai bảo uống sâm quế thì chết, cụ thứ nhất bảo
hạ thì không gỡ được. Rút cục, cụ thứ nhất thắng,
vì đã nói đến sách Phùng thị, thứ sách mà nhà chủ
nói là môn vương đạo. Vả lại, thuốc có sâm quế,
nhiều vị trọng, khiến cho người nhà dễ tin. Uống
một thang, chỉ thấy hai mắt đỏ ngầu, còn các chứng
vẫn đâu đóng đấy. Uống một thang nữa, đại tiện vẫn
bí như trước, lại thêm được chứng nói mê nói sảng,
hơi thở cực to và mau. ông bà lúc này mới tin lời
cụ lang thứ hai hôm nọ nói phải, lật đật sai người
đi rước cụ đến. Đắc thế, cụ mắng chủ nhà, cụ mắng
các bạn đồng nghiệp, tưởng như khí tức sắp bốc lên
tận mây xanh. Nhà chủ nằn nì mãi, cụ mới hơi dịu
nét mặt và rung đùi nói mát:
- Tôi kệ bài tiểu thừa khí mà dùng năm đồng phác
tiêu, ba đồng đại hoàng, ông bà có bằng lòng không?
Nhà chủ lúc ấy chỉ một mực nâng cụ lên bậc cứu dân
độ thế mà xin cụ cứu cho con mình, chứ còn dám nói
gì nữa. Thuốc sắc rồi, anh Xuân không còn đủ sức
mà húp, người ta phải lấy thìa mà đổ vào miệng cho
anh. Hay lắm!
Thuốc đi khỏi họng độ ba tiếng đồng hồ, bụng anh
Xuân thấy réo ầm ầm, rồi thì đại tiện cứ ra, trướng
bớt, thở bớt.
Nhưng từ đó thì anh hóa ra người trống tràng, đại
tiện cứ tự do mà chảy ra nhiều. Cụ lang xoay xỏa
hết ba thang thuốc, mà cái quái vật ấy không nể
mặt cụ, nó cứ luôn luôn tìm đường đi ra. Anh Xuân
thì da thịt đã tiêu tan đi hết, trong bụng lại thấy
đau. Ông bà hồn vía chẳng còn, không biết lấy thuốc
đâu cho con. Nhân có người bạn đọc cái quảng cáo
của dược phòng nọ, thấy nói ông chủ dược phòng giỏi
lắm, chứng gì cũng chữa được hết, ông bà tức tốc
cho mời đến ngay. Nắn cổ tay, sờ bụng, thấy nói
đau bụng, ông chủ dược phòng bảo luôn là đau dạ
dày phòng tích, không cần phải uống thuốc chén,
chỉ dùng vài chục ve thuốc chữa dạ dày của mình
là khỏi. ông bà nóng ruột, thấy nói sao thì vơ lấy
vậy, sai ngay tôi đến dược phòng ấy mua 20 ve một
lúc.
Tôi ngờ quá, trước khi cho anh Xuân uống, tôi hãy
nếm thử, thấy nó mằn mặn như vị thuốc muối bicarbonate
de soude, chua chua như vị sơn trà, thơm thơm như
vị mạch nha, ngòn ngọt như vị cam thảo, thả vào
nước thì nó vàng lòe như sắc hoàng liên. Anh uống
hết ba ve, bệnh tình vẫn không giảm chút nào, nghĩa
là đại tiện mãi không cầm được, mà người thì cực
kỳ suy nhược. Lại vì một cái quảng cáo khác, ông
bà cho mời một ông chủ y quán khác cứu cho con mình.
ông này cả quyết là không việc gì, chỉ uống một
liều thuốc viên là khỏi, nhưng thuốc đắt lắm, một
đồng hai viên, một liều năm viên. Con như thế ai
còn tiếc tiền, một đồng một viên chứ 10 đồng một
viên, ông bà cũng lấy. Lấy thuốc về, tôi lại nhấm
thử, thì toàn là xái thuốc phiện, anh Xuân uống
hết năm viên thì đại tiện cầm hẳn, nhưng bụng lại
trướng lên bằng cái trống. Thế rồi sau một ngày
nữa bạn tôi tắt nghỉ. Thương hại thay! Tôi với bạn
cùng chung một bệnh, kẻ không uống thuốc thì khỏi,
một kẻ từng trải năm sáu ông lang, tống vào bụng
bao nhiêu thứ thuốc thì phải bỏ cha bỏ mẹ mà đi...
Ai giết anh Xuân? Hẳn là những ông "cứu thế
độ dân" ấy. Cái chết của anh Xuân đã định cho
tôi một câu kết luận về bọn "dao cầu thuyền
tán" hiện thời. Tôi kết luận rằng: vô số ông
chủ của vô số "dao cầu thuyền tán" kia,
họ chỉ cần có người ốm để bán thuốc, chứ họ không
cần chữa bệnh, trái lại họ lại có tài làm cho bệnh
lớn ra. Ai uống thuốc của họ mà khỏi, chỉ là sự
ngẫu nhiên. Thế nhưng làm sao họ vẫn sống, sống
một cách phát đạt? Trong lúc kinh tế khủng hoảng
này, buôn bán nghề gì cũng bị thua lỗ, duá có những
kẻ mở hàng thuốc thì đều "tấy" cả, "tấy"
một cách không ai ngờ. Một kẻ kiết xác đóng vai
ông lang trong vài năm, đã thấy họ có tiền mua nhà,
mua đất, tậu ô tô, dấn vốn có hàng nghìn hàng vạn.
Thì ra họ dùng toàn ngón "bịp", bịp bằng
quảng cáo nói một cách vô liêm sỉ, bịp bằng cửa
hàng đồ sộ, bịp bằng lọ thuốc, hộp thuốc chế theo
kiểu Tây, bịp bằng lời nói khôn khéo quáến rũ người
bệnh. Mỗi lần họ bịp, ấy là mỗi mạng người chết.
Chung quanh lưỡi dao cầu, bánh xe thuyền tán của
họ, "đống xương vô tội đã cao bằng đầu..."
hết: TÔI CÒN SỐNG VÌ KHÔNG UỐNG THUỐC,
xem tiếp: CHỮA KHOÁN HẾT CÁC BỆNH

Về trang chủ
XEM
TIẾP
|