Liên hệ

 
 


 

 

 

MỘT SỐ NÉT ĐẶC SẮC TRONG THƠ CAO BA QUÁT.

THỬ TÌM HIỂU THÊM VỀ CHUYẾN ĐI CÔNG VỤ Ở HẠ CHÂU CỦA CAO BÁ QUÁT

Khi nhà nho chống tham nhũng

Cao Bá Quát - nhà thơ lớn thế kỷ 19

Thơ Việt Cổ Điển : Thi Hào Cao Bá Quát

Tế Cao Bá Quát Nhắn Nguyễn Du - Bùi Chí Vinh

Cao Bá Quát: Kẻ sĩ mang trái tim hoa mai

THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP
Cao Bá Quát (1809? -1855) tự Chu Thần sinh tại Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội, mất giữa trận tiền Quốc Oai trong cuộc khởi nghĩa chống triều đình thời Tự Đức... Tự Đức tru di ba họ Cao Bá Quát, thu hồi tiêu hủy văn chương ông. Nhưng ông được lòng dân bảo vệ: một rừng truyền thuyết ca ngợi tài thơ, lòng dũng cảm, trí thông minh và tinh thần thương dân yêu nước của ông. Tác phẩm của ông còn được lưu đến nay là 1353 bài thơ, 21 bài văn xuôi, một số bài ca trù và khá nhiều câu đối.

Thập tải luân giao cầu cổ kiếm (Mười năm giao thiệp tìm gươm báu)

Nhất sinh đê thủ bái mai hoa (Một đời chỉ cúi trước hoa mai)

Đôi câu đối ấy đã thâu tóm khá đầy đủ hoài bão và phẩm chất Cao Bá Quát. Lúc trẻ Cao Bá Quát cũng như trăm nghìn sỹ tử khác mong học giỏi đỗ cao để giúp đời. Trong thơ thấy rõ cái hăng hái thường tình ấy Trên đường công danh đã mấy ai nhàn/ Mũ lọng nhộn nhịp ta cũng đi đây. Nhưng cũng nhận ra ngay trong cơn hăng hái trên đường đi thi ấy cái khí phách khác thường của ông:

Sóng biển trào lên như đầu bạc lô nhô

Gió giận dữ đánh chìm cả những chiếc thuyền to

Chớp giật sấm ran ai nấy đều xanh mắt,

Giữa cảnh, con chim hải âu vẫn nhởn nhơ

Sau này trong truyền thuyết về Cao nhiều giai thoại cũng vẽ nên sự bình thản của ông giữa gian lao như hải âu giữa bão: Một chiếc cùm lim chân có đế/ Ba vòng xích sắt bước thì vương.

Khí phách ấy bắt nguồn từ chất tâm hồn của Cao Bá Quát. Tâm hồn ấy cao rộng. Qua núi Dục Thúy: Ta muốn trèo lên đỉnh núi cao ngất kia/ Hát vang lên để gửi tấm lòng vào mây nước. Tâm hồn ấy giàu năng lực bên trong, chấp nhận cái khó của đường đời:

Bãi cát dài, bãi cát dài!

Bước một bước lại như lùi một bước.

Trong tình cảnh oan khốc bị giam cầm, tra tấn chỉ vì tội sửa vào bài thi cho một thí sinh có tài vô ý phạm trường quy, ông tỉnh táo và can đảm coi việc mình làm là việc thiện, mà việc thiện thì ở hoàn cảnh nào cũng nên làm. Ông coi công lý thời ấy như cái máy làm nhục người (Bài thơ tả cái cùm). Ông nhìn thẳng vào chiếc roi da đang quật nhoang nhoáng vào người mình, ông tả nó và tả chính tâm trạng mình, như một cuộc đọ sức. Cái việc tả chính xác với các chi tiết nghiêm lạnh cho thấy ai vững hơn ai:

Roi quất nhoang nhoáng bay đi liệng lại như ánh chớp.

Lúc giơ lên như hai con thuồng luồng quật vào bờ ao lở

Lúc ngừng như nước lạnh đổ vào nồi nước sôi (...)

Ở nơi góc đài những giọt sương trong cũng vì ta mà bay lên

Roi song rủ xuống thôi không hăng như trước nữa

Chắp tay đứng, ruột mềm quặn lại như cuốn vào ngón tay được.

Ông nhìn sông dài như lưỡi kiếm dựng giữa trời xanh. Ông hỏi hoa sen ngươi có hồng bằng mặt rượu của ta không? Ông thấy núi như chiếc chén xà cừ của khách say. Khí phách, tài tử như Cao Bá Quát lại là người thắm thiết tình cảm, đặc biệt tình cảm gia đình. Ông có những câu thơ thương vợ thương con tình cảm chân thực, ngôn ngữ mộc mạc, hình như ông không muốn vẻ đẹp của tài thơ làm mờ đi nét thực của cảm xúc. Một số truyền thuyết muốn nhấn mạnh khí phách Cao Bá Quát đã mô tả ông có tính cách ngang tàng khinh bạc, coi nhẹ tình cảm, e không đúng. Cao Bá Quát khí phách nhưng đa cảm, đó là sự phong phú của tâm hồn ông. Thương xót người thân và thương xót mọi người nghèo khổ, bị ức hiếp. Hãy nghe ông mời một người đói cùng ăn Than ôi hãy ngừng lệ/ Một bữa ta tạm mời/ Đời người như quán trọ/ Ung dung nào mấy ai/ Thong thả đừng nuốt vội/ No ứ dễ hại người. Cao Bá Quát đã thấy nguồn gốc nỗi khổ ấy, không dễ nói thẳng ra, nhưng ông đã tìm cách nói:

Nghe nói xe Rồng vừa ngự tới

Cung vua sẵn đó lại cung vua

Tâm sự nhà nho Cao Bá Quát rối bời: Tâm sự và tóc có chi phải so sánh vắn dài/ Đến lúc đã rối bời thì cùng rối bời như nhau. Rối bời vì ái quốc thì không thể trung quân.

Cuối đời, những bài thơ Cao Bá Quát càng nặng trĩu nội tâm. Không chỉ buồn thương, mà có buồn thương cũng không chỉ vì thân danh mình lận đận. Hoài bão của con người một đời chỉ cúi trước hoa mai rộng xa hơn nhiều. Trước cảnh đời ngang trái ấy ông không thể làm tấm bia không chữ, (Thế sự hà kham một tự bi). Ông phải có thái độ, nhưng thái độ ấy không thể nói trong thơ. Ông như cái hạt sen ôm tấm lòng đắng ngắt chỉ mình mình biết (Liên tử hữu tâm tri độc khổ). Đêm xuân đọc sách mà như đối thoại với người xưa (Bùi ngùi xuân này ngồi đối diện với người xưa) mà như giao lưu với vũ trụ (Dưới có người không ngủ/ Trên có vì sao muốn rơi). Trong bài Tiễn Nguyễn Trúc Khê ra nhận chức tại phủ Thường Tín, ý chí hành động của Cao Bá Quát đã rõ, sau khi nhắc đến Chu An, Nguyễn Trãi, ông viết:

Khách nam nhi chẳng vì thế thái

Đem thân ra đỡ lấy cương thường

Năm 1853 Cao Bá Quát đã trở thành một trong những người lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương. Bối cảnh lịch sử chưa đủ chín để cuộc khởi nghĩa thành công. Nhưng Cao Bá Quát đã trở thành hình tượng sáng chói của lớp nhà thơ hoạt động, từ thơ mà thành chiến sỹ, lấy máu để diễn tả cao nhất cảm xúc của chính mình.
.

Đến Làng Đông Du, Đêm Ngủ Dỗ

Đầu sông đứng ngóng quê hương
Quê hương đâu phải dặm trường xa xôi,
Cớ sao mãi chẳng tới nơi,
Vừa đi vừa đứng bồi hồi làm sao?
Thiếu người cáng võng, phải đâu
Cũng không chờ đợi bạn bầu những ai.
Từ khi vướng lấy lụy đời
Nửa bầu máu nóng nhường vơi vơi dần.

Đường đời biển ảo phong vân
Việc đời ấm lạnh bao giờ đổi thay
Mũ treo còn chửa hẹn ngày,
Cỗng sài nào biết sau này nơi nao!

Nghiệp xưa vườn ruộng dăm sào
Rêu hoang cỏ dại ai nào ngó coi!
Họ hàng người cũng thưa rồi
Bữa cơm dưa muối thết mời vẫn chưa.

Biệt ly biết đến bao giờ!
Thà im im bắt, nói ra ngại lời
Trời tây bóng đã xế rồi
Vẫn còn nấn ná quê người một thân.

Đời người thấm thoát

Nhân sinh thiên địa gian nhất nghịch lữ (1)
Có bao lăm ba vạn sáu nghìn ngày
Như thoi đưa, như bóng sổ, như gang tay
Sực nhớ chữ ''Cổ nhân bỉnh chúc'' (2)
Cao sơn, lưu thủy, thi thiên trục (3)
Minh nguyệt, thanh phong tửu nhất thuyền (4)
Dang tay người tài tử khách thuyền quyên
Chén rượu thánh, câu thơ tiên thích chí
Thành thị ấy, mà giang sơn ấy
Ðâu chẳng là tuyết, nguyệt, phong, hoa
Bốn mùa xuân lại, thu qua

(1) Người sinh trong đất trời như đến nhà trọ (ngắn ngủi)
(2) Người xưa cầm đuốc đi chơi đêm ... thơ Lý Bạch
(3) Có núi cao, nước chảy nên thơ ra ngàn bài
(4) Nhờ trăng thanh, gió mát mà uống một thuyền đầy

Hoài Cảm

Tình khách bâng khuâng mấy dậm đường
Mai tàn, sen đã ngát mùi hương
Màu thu vườn cũ nay sao nhỉ
Hoa lạnh nơi này đã cợt sương.

Mộng vong nữ (Bản diễn Nôm)

Thân viễn ngô đương bệnh
Tư nhi mỗi tiết ai
Hốt nhiên trung dạ mộng
Sậu kiến lệ như thôi.
Y phục hàn nhưng phá
Dung nhan thảm bất khai
Thái diêm bần vị khuyết
Tân khổ nhữ quy lai

Chiêm bao thấy con gái đã mất

Nhà xa bệnh lại dày vò
Nhớ con hằng nén xót chua nghẹn ngào
Ðêm qua bỗng thấy chiêm bao
Gặp con, giọt lệ tuôn dào như mưa.
Áo đơn lạnh lẽo xác xơ
Ủ ê nét mặt, bơ phờ hình dung!
Tuy nghèo dưa muối đủ dùng,
Ðắng cay con hãy về cùng với cha!

Nhớ người

Giai nhân nan tái đắc (1)
Trót yêu hoa nên dan díu với tình
Mái Tây hiên (2) nguyệt gác chênh chênh
Rầu rĩ bấy xuân về, oanh nhớ

Phong lưu tài tử đa xuân tứ
Trường đoạn tiêu tương nhất chỉ thư (3)

Nước sông Tương (4) một dải nông sờ
Cho kẻ đấy, người đây mong mỏi !
Bứt rứt nhẽ trăm đường nghìn nỗi !
Chữ chung tình biết nói cùng ai ?
Trót vì gắn bó một hai ....!

Sắp Đến Quê Nhà

Cao cao cây gạo đó
Gốc cỗi ngọn thanh thanh.
Xa xa trông nẻo ấy
Nhà ở bậc cao minh
Trúc dầy che lối hẻm
Cỏ mượt bọc thềm quanh
Ao trong, cá vùng vẫy
Lúa tốt, đồng mông mênh.

Đây xưa nơi dạy học
Đứng ngồi thừa rung rinh.
Thanh nhàn, cam vụng dại
Hư không, ấy chí mình.

Từ đèo bòng danh lợi
Nên xa cách non xanh
Lâu lắm chưa về được
Vì sợ lệnh triều đình.

Bơ phờ nay trở lại
Ấm ức nghĩ sao đành
Sẵn lòng mong hẳn được
Tương lai nào ai tranh?

Tài Tử;... Giai Nhân

Tài tử với giai nhân sẵn nợ,
Giải cấu nan là chữ làm sao.
Trải xưa nay chừng đã biết bao,
Kia tan hợp, nọ khửu lưu, đâu dám chắc.
Giai nhân khứ khứ hành hành sắc,
Tài tử triêu triêu mộ mộ tình (1)
Uẩy kia ai, như mây tuôn như nước chảy,
như gió mát như trăng thanh.
Lơ lửng khéo trêu người chi mãi mãi.
Trời đất có san đi mà sẻ lại,
Hội tương phùng còn lắm lúc về sau.
Yêu nhau xin nhớ lời nhau.
Thường những kẻ giai nhân tài tử,
Chót đa mang vì một chữ tình.
Nghĩ nguồn cơn thẹn với trời xanh,
Tưởng nông nổi giận cùng trăng bạc.
Tương tiếu nhất thanh song lệ lạc,
Khả liên bán điềm thấp châu huyển (2)
Trách vì phận, giận vì duyên
Duyện phận những vì tình nên nông nổi.
Dẫu dạ sắt gan vàng cũng rối,
vẫn ruột tằm lắm mỗi càng đau.
Tương tư ai để cho nhau

Thú nhàn

Thế sự thăng trầm quân mạc vấn (1)
Yên ba thâm xứ hữu ngư châu (2)
Vắt tay nằm nghĩ chuyện đâu đâu
Ðem mộng sự đọ với chân thân thì cũng hệt
Duy giang thượng chi thanh phong,
dữ sơn gian chi minh nguyệt (3)
Kho trời chung, mà vô tận của mình riêng
Cuộc vuông tròn phó mặc khuôn thiêng
Kẻ thành thị kẻ vui miền lâm tẩu
Gõ nhịp lấy, đọc câu ''Tương Tiến Tửú (4)
"Quân bất kiến Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai, bôn lưu đáo hải bất phục hồi" (5)
Làm chi cho mệt một đời

(1) Cuộc đời lên xuống, bạn đừng hỏi
(2) Chốn sâu khói sóng, buông thuyền câu
(3) Chỉ ở trên sông có gió mát, chỉ trong khoảng núi có trăng sáng, Trích trong bài tiền Xích Bích của Tô Ðông Pha một danh sỹ đời Tống
(4) Ðầu đề của một bài ca của Lý Bạch
(5) Bạn chưa thấy nước sông Hoàng Hà, từ trời xuống chảy tuôn xuống biển không hề quay luị Ý nói đời sống, thời gian một đi không trở lại

Trăng mười bảy
(Bản dịch của Khương Hữu Dụng)

Trời cao sao lác đác
Trăng sáng trong như nước
Sâu mùa kêu tỉ tê
Gió thu thổi hiu hắt
Có người đẹp trên lầu
Tựa hiên buồn, nín bặt
Dậy xem, canh mấy rồi
Dạo quanh, lại dừng bước
Chẳng lo đêm lạnh dài
Chỉ tiếc trăng hầu khuất
Thiếp thưở đôi tám xưa
Vẻ so trăng chẳng khác
Lớn lên tưởng vẫn còn
Sắc đắm người như trước
Túm áo bọc ánh trăng
Chẳng nở hoài bỏ vứt
Xén làm bức thư tình
Gửi bạn lời tâm phúc

Trăng sông Trà (Trà Giang Nguyệt)

Trà Giang Nguyệt kim dạ vị thùy thanh ?
Quan san vạn lý hạo nhất sắc
Hà xứ bất hệ ly nhân tình ?
Cử bôi thí yêu nguyệt
Nguyệt nhập bôi trung hành
Hàm bôi dục yết cánh phi khứ
Chỉ hữu nhân ảnh tương tung hoành
Đình bôi thả phục trí
Hựu kiến cô quang sinh
Vấn quân hà sự luyến luyến bất nhẫn sa
Ngã thị Trúc Lâm (1) cùng độ chi bộ binh
Giang đầu thử tịch phùng thu tiết
Tửu mãn tu khuynh vị quân thuyết
Đà môn cựu lữ Tồn Chân ông
Cần hải minh tiên hiểu tương biệt
Tạc dạ kim phong (2) há kim khuyết (3)
Bạch lộ (4) thanh sương (5) sảo xâm cốt
Nhân sinh hội ngộ an khả thường
Hữu tửu thủ ẩm Trà giang nguyệt
Trà giang nguyệt, như kính hạ ngân lưu
Trượng phu án kiếm khứ tiện khứ
Kỳ lộ vô vi nhi nữ tình (6).

Bản dịch của Hữu Vinh

Đêm sông Trà trăng sáng bởi vì ai
Muôn dặm sơn khê xanh trong vắt
Khắp nơi nơi vương vấn mối tình hoài
Nâng ly ta mời trăng tỏ
Ly lóng lánh trăng trôi
Tan biến mất khi đôi môi muốn nhắp
Rồi chỉ còn sóng sánh bóng hình người
Ngưng ly rồi đặt xuống
Trăng lại về đơn côi
Hởi cớ vì đâu mà mãi hoài lưu luyến
Trúc Lâm mặc khách ta là kẻ lạc loài
Bến đầu sông hôm nay mùa thu tới
Rượu nốc rồi vì anh ta kể lể
Xứ Đà Môn Tồn lão bạn thân ta
Sớm ngày mai bước lên đường ly biệt
Trong nhà gió thu về lồng lồng tối hôm qua
Lạnh lẽo sương sa trời sang buốt rét
Cuộc nhân sinh hội ngộ được bao là
Này trăng nhé sẵn rượu đây ta nốc hết
Trăng sông Trà bàng bạc bóng gương nga
Kẻ làm trai đi thì đi như đã quyết
Bước đi phứt không vương luỵ mối tình nhà


.

Thiên cổ đoạn trường kim nhất tục.
Phiếm Đàm tòng thử kế Thừa sai.

Tìm kiếm tin đã đưa
Liên kết website






 

 

 

 

 

 

ĐIẠ CHỈ: WWW.HAINGOAIPHIEMDAM.COM.

EMAIL: HAINGOAIPHIEMDAM@YAHOO.COM

|Tại sao?| Lượm lặt | Hình kì cục|Điển tích|Truyện Tầu|Hỏi&Đáp| Thơ cay |Tiểu phẩm|Thư tín|TRÁI TIM HỒNG|CHĂN GỐI | Rừng cười |Góc tối|MÁY TÍNH LÀM THƠ |Bonsai Garden|Tạp văn| | Nhân vật |Đó Đây|KINH TẾ | Động Vật | Vườn hồng | Nghe Nhạc | Tiếng thơ Đọc Truyện