| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Bùi
Kỷ - Nhà giáo, nhà biên khảo ngữ văn
Bùi Kỷ (1888-1960), tên chữ
là Ưu Thiên, tên hiệu là Tử Chương sinh ngày 5-1-1888
ở làng Châu Cầu, phủ Lý Nhân (nay thuộc thị xã Phủ
Lý) tỉnh Hà Nam, mất ngày 19-5-1960 tại Hà Nội.
Bùi Kỷ sinh trưởng trong một gia đình khoa bảng
Nho học. Tổ tiên họ Bùi vốn gốc ở xã Triều Đông,
huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông
(nay thuộc huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây), khoảng
thời cuối triều Lê chuyển đến ở Châu Cầu lập nghiệp,
tới đời thứ 6 thì phát khoa năm 1865 cả hai anh
em thúc bá Bùi Văn Dị và Bùi Văn Quế đều đỗ Phó
bảng; Bùi Văn Dị (1833-1895) làm quan đến Thượng
thư, phụ chính đại thần. Bùi Văn Quế (1837-1913)
làm quan đến Tham trị bộ hình thì cáo quan về quê.
Con trai ông Quế là Bùi Thức (1859-1915) đỗ Tiến
sĩ Nho học (1898), không ra làm quan, ở nhà dạy
học và viết sách. Ông Thức có ba con trai là Bùi
Kỷ, Bùi Khải và Bùi Lương, đều đỗ đạt.
Từ nhỏ Bùi Kỷ được cha dạy về Nho học, ngoài ra
còn tìm thầy học chữ quốc ngữ và chữ Pháp. Năm 1909
lần đầu dự thi Hương, Bùi Kỷ đã đỗ Cử nhân, năm
sau vào Huế thi Hội và thi Đình, ông đỗ Phó bảng
được bổ đi làm Huấn đạo, nhưng ông từ chối, lấy
cớ phải ở nhà phục dưỡng cha và ông nội đều đang
già yếu. Năm 1912, chính quyền bảo hộ chọn cử ông
sang Paris (Pháp) học trường thuộc địa (Ecole coloniale).
Nhân dịp này ông đi nhiều nơi trong nước Pháp và
các nước lân cận; ông cũng có dịp tiếp xúc với một
số người Việt yêu nước và cách mạng đang lưu ngụ
ở Pháp, trong đó có Phan Chu Trinh. Hai năm sau
trở về nước, dù được tòa Thống sứ Bắc Kỳ gọi lên
bổ dụng nhiều lần, ông đều từ chối. Ông tổ chức
cho gia đình mình sản xuất hàng thủ công xuất khẩu
(bông vải, tre đan) nhưng ít kết quả.
Sau khi cha và ông nội đều qua đời, Bùi Kỷ bỏ sang
Quảng Châu (Trung Quốc) hai năm. Về nước khi đã
30 tuổi, từ 1917 ông ra Hà Nội dạy học. Ông dạy
tại các trường Cao đẳng sư phạm, Cao đẳng công chính,
Cao đẳng pháp chính, theo lối ký hợp đồng từng năm
chứ không vào biên chế viên chức của “nhà nước bảo
hộ”. Ngoài ra từ năm 1932, ông còn dạy trường tư
cho hai tư thục Văn Lang và Thăng Long. Trường Thăng
Long do một số tri thức tiến bộ và cách mạng như
Phan Thanh, Hoàng Minh Giám, Đặng Thái Mai, Võ Nguyên
Giáp lập ra đã mời Bùi Kỷ cùng trực tiếp giảng dạy.
Ngoài việc dạy học, ông còn là một nhà biên khảo,
nhà sáng tác, cộng tác với một số báo chí ở Hà Nội
như tạp chí Nam Phong, tập san của hội Khai Trí
Tiến Đức, báo Trung Bắc Tân Văn... Ông còn hăng
hái tham gia các hoạt động văn học xã hội của giới
tri thức Hà thành như kỷ niệm 105 ngày mất thi hào
Nguyễn Du (1925), lễ truy điệu chí sỹ Phan Chu Trinh
ở Hà Nội (1926), phong trào truyền bá chữ quốc ngữ,...
Ngòi bút của Bùi Kỷ chủ yếu hoạt động ở lĩnh vực
biên khảo; ngoài ra ông cũng là nhà sáng tác ở khá
nhiều thể loại văn học.
Các công trình biên khảo của Bùi Kỷ thường gắn
với nội dung dạy và học môn ngữ văn Hán-Việt bậc
trung học của nhà trường phổ thông Pháp - Việt ở
xứ Đông Dương thuộc Pháp đương thời. Đó là các cuốn
Quốc văn cụ thể (1932), Hán văn trích thái diễn
giảng khóa bản (cùng soạn với Trần Văn Giáp, 1942),
Việt Nam văn phạm bậc trung học (soạn chung với
Trần Trọng Kim, Phạm Duy Khiêm, 1940 ), Tiểu học
Việt Nam văn phạm (Soạn cùng với Trần Trọng Kim
và Nguyễn Quang Oánh, 1945 ). Nổi bật nhất trong
số này là cuốn Quốc văn cụ thể, trình bày về các
hình thức, thể tài các loại thơ văn tiếng Việt truyền
thống.
Với loại sách biên khảo giáo khoa, Bùi Kỷ là một
trong số những nhà nghiên cứu người Việt đầu tiên
tham dự vào việc hình thành các tri thức về ngữ
văn Việt và Hán Việt, các tri thức thi học lịch
sử về văn học Việt Nam.
Bùi Kỷ là học giả có nhiều đóng góp vào việc hiệu
khảo văn bản một loạt truyện thơ Nôm các thế kỷ
trước, góp phần giữ gìn và truyền lại cho đời sau.
Văn bản Truyện Kiều do Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim
hiệu khảo, in lần đầu 1925, đã dành được sự tín
nhiệm của nhiều thế hệ độc giả. Từ những năm 1930
đến những năm 1950, Bùi Kỷ tiến hành hiệu khảo một
loạt truyện Nôm khuyết danh: Trê cóc, Trinh thử,
Lục súc tranh công, Hoa điểu tranh năng. Ông cũng
có sự đóng góp quyết định trong việc khảo cứu di
sản thơ chữ Hán của thi hào Nguyễn Du, trong việc
xác định giá trị Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ,
v.v. Các bản dịch tác phẩm chữ Hán của tác giả Việt
Nam do Bùi Kỷ thực hiện, nổi bật là Bình Ngô đại
cáo của Nguyễn Trãi, bản dịch từng có vị trí đáng
kể trong đời sống văn học. Bùi Kỷ còn thử nghiệm
việc dịch một số tác phẩm Nôm cổ điển sang chữ Hán
như thơ Bà Huyện Thanh Quan hay Truyện Kiều - một
công việc sẽ rất có ý nghĩa trên hướng giới thiệu
văn học Việt Nam với độc giả Trung Quốc.
Học giả Bùi Kỷ còn là cây bút sáng tác văn học
ở khá nhiều thể loại: văn (nghị luận, phú, văn tế,
câu đối...), thơ (thơ chữ Hán, thơ tiếng việt);
ở đây tác giả dường như không có ý định vượt ra
ngoài phạm vi kiểu văn học Đông Á Trung đại. Ở đây
tác giả, vẫn như các thế hệ nhà nho trước kia, dùng
văn thơ như nơi để nói chí, tỏ lòng, để thể hiện
thế giới tinh thần của mình trong những nét thanh
cao với nhiều ưu tư lo đời, thương đời lại cũng
dùng văn thơ như phương thức răn mình, răn đời.
Phần sáng tác thơ mà Bùi Kỷ tập hợp thành tập Ưu
Thiên đồ mặc, chưa in thành sách, chỉ đăng báo ít
bài, nay hầu như đã thất lạc, có lẽ là nơi thể hiện
rõ nhất tâm tình tác giả.
Tác phẩm:
Truyện Thuý Kiều (Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim
hiệu khảo), Hà Nội 1925.
Việt Nam văn phạm (Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim soạn
).
Quốc văn cụ thể, Hà Nội, Tân Việt Nam thư xã , Trung
Bắc tân văn, 1932 .
Truyện Trê cóc, Khai trí tập san, số 4, tháng 12,
1941.
Văn chương, Đồng Thanh, 1932, số 1, 2, 5.
Thơ văn Bùi Kỷ (Nguyễn Văn Huyền sưu tầm, giới thiệu),
Hà Nội; Nhà xuất bản Khoa học xã hội ,1994 (Thơ
tiếng việt tr. 37-78; Văn tiếng việt: tr. 79-173;
Dịch từ Hán sang Việt tr. 174-199; Dịch từ Việt
sang Hán tr. 200-205; Câu đối: tr. 206-208; Thơ
chữ Hán: tr. 209-256).

|