| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Tản
Đà và những ngày ba mươi Tết
Con trai thi sĩ Tản Đà
Nhân ngày mất của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu ( 07-06-1939
)
Nhân
ngày sinh của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu ( 20-4-1889
)
Tản
Đà: Văn Chương, Sự nghiệp
Thi
sĩ Tản Đà với bài thơ Tống biệt
Nghe
những bài CA TRÙ của Tản Đà 
Khu
lưu niệm Tản Đà được xếp hạng di tích lịch sử
Chuyện
vui bên lề cuộc bút chiến thơ mới và thơ cũ
Người
tình không quen biết củaTản
Đà
Vụ
Án Tản Ðà - Phan Khôi
Tản
Đà
Tản
Đà tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 25-5-1889,
tại làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây,
cạnh sông Đà và cách núi Tản Viên 10 km chim bay.
Ông đã mượn tên núi tên sông làm bút danh.
Tản
Đà tạ thế tại Hà Nội ngày 7-6-1939. Tản Đà bước
vào văn chương ở buổi cũ mới giao thời. Thơ lối
cũ không còn đủ chứa tình ý của thời đại. Còn lối
mới thì ông phải tự tìm lấy. Bỗng nhiên Tản Đà thành
người tự do không bị khuôn khổ nào câu thúc, cả
về hình thức lẫn nội dung. Thơ ông lắm lối lắm loại.
Khi thì ông phân biệt chúng bằng hình thức: hát
nói, hát sẩm, tứ tuyệt, bát cú, yết hậu, lục bát,
trường đoản, từ khúc, trường thiên... Khi thì bằng
nội dung: tập Kiều, thù tiếp, thơ họa... Phân biệt
lắm thứ như thế vì thật sự Tản Đà không quan tâm
đến sự phân biệt. Ông làm thơ như chỉ vì mình. Thơ
như nói, nói như chơi mà thấm thía nhân tình. Biên
độ thơ Tản Đà rất rộng. Dân ca liền với triết học,
cổ điển xen cùng lãng mạn, trào phúng trộn với trữ
tình.
Cái
mới rõ nhất ở Tản Đà là sự hồn nhiên, tự nhiên.
Ông làm thơ như hít thở, thấy thế, cảm nghĩ thế
thì viết thế. Tản Đà phẫn chí về danh phận nhưng
lại đắc ý về tài năng; tài cao phận thấp, chí khí
uất. Thơ ông nói chuyện đời ông, nói việc hàng ngày
của ông. Ông không mỹ lệ hóa đời cũng không thần
bí hóa thơ mà cũng chẳng màu mè vờ vĩnh. Đắc ý thì
nói đắc ý, buồn thì nói buồn. Dám bộc lộ thật mình
trong văn chương ở thời Tản Đà là bạo lắm. Phạm
Quỳnh công kích Tản Đà: Người ta, phi người cuồng,
không ai dám trần truồng mà đi ngoài phố. Nhà làm
sách cũng vậy, không ai đem thân thế mình mà làm
truyện cho người đời xem. Nhưng chính chỗ ấy là
chỗ Tản Đà đã khai sinh ra chủ nghĩa lãng mạn cho
thơ Việt Nam, trước cả phong trào Thơ Mới. Bối cảnh
xã hội, trình độ dân trí hồi ấy đã cho phép Tản
Đà bộc lộ chính mình, đã chấp nhận cho "cái
không giống ai" trong phạm trù cá nhân, cá
thể tồn tại, điều mà Nguyễn Trãi, Nguyễn Du chưa
có. Các cụ xưa mới chỉ bộc lộ được từng nét cá thể
khi tỉnh rượu, lúc tàn canh. Các cụ mới có từng
yếu tố lãng mạn chứ chưa có chủ nghĩa lãng mạn.
Chủ nghĩa lãng mạn lấy cái tôi làm nền tảng, quan
tâm, chăm chút cái tôi. Tản Đà lãng mạn trên cái
tôi ngông. Ngông là một cách đòi quyền tồn tại cá
thể chống mọi khuôn mẫu áp đặt. Ngông là lãng mạn
trong cõi thực. Tản Đà còn lãng mạn ra ngoài cõi
thực. Và đấy lại là chỗ bộc lộ nhất tinh hoa thơ
Tản Đà: Nhớ mộng, Tống biệt, Nói với bóng, Nói với
ảnh... Đọc văn xuôi Tản Đà càng thấy rõ phẩm chất
lãng mạn của tâm hồn ông.
Hồn
mơ mộng, thơ hiu hắt, tình điệu âm u. Cõi u ẩn của
lòng người, cao thấp sang hèn gì, đều dám phơi lên
mặt giấy, gợi thương, gợi buồn, gợi cảm thông. Bài
Tống biệt từ âm điệu đến hình ảnh đều nói được cái
dúng dắng của khách trần lưu luyến động tiên, khát
thèm mộng ảo: Cửa động/Đầu non/ Đường lối cũ/ Ngàn
năm thơ thẩn bóng trăng chơi. Bài Nhớ mộng mở đầu
như một sự giác ngộ Giấc mộng mười năm đã tỉnh rồi.
Nhưng tỉnh lại thấy không bằng mộng: Nghĩ đời lắm
nỗi không bằng mộng! Tiếc mộng bao nhiêu lại ngán
đời. Hai câu này còn là cái lãng mạn mực thước của
chủ nghĩa cổ điển. Nó là tổng kết chung của cõi
đời dâu bể. Cái chỗ hé ra nỗi niềm Tản Đà là ở câu
Những lúc canh gà ba cốc rượu và Mộng cũ, mê đường
biết hỏi ai. Tản Đà có những câu thơ chán đời nhưng
trong cốt lõi, ông là người ham chơi, ham sống:
Trời sinh ra bác Tản Đà/ Quê hương thời có cửa nhà
thời không/ Nửa đời Nam Bắc Tây Đông/ Bạn bè xum
họp vợ chồng biệt ly. Tản Đà chỉ hiện thực khi nào
cái thực đánh rất đau vào cái mộng, đánh vào tâm
trí nhân ái: Năm hào một đứa trẻ lên sáu. Tiền có
năm mà trẻ lên sáu, ấn tượng con số diễn tả sự rẻ
rúng của phận người năm lụt lội đói kém.
Về
hình thức câu thơ, Tản Đà cũng có nhiều cách tân
lắm. Bên cạnh thơ lối cũ, ông viết nhiều thơ lối
mới. Ông dùng song song cả mới lẫn cũ, không bài
xích hay bênh vực thứ nào nên người ta cứ nghĩ phải
đến thời Thơ Mới câu thơ Việt Nam mới có cách tân.
Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam coi Tản Đà như
người bắc cầu cho hai thời đại thi ca Việt Nam là
có lý. Nhưng không phải chỉ ở nộûi dung đâu mà còn
ở cả hình thức nghệ thuật. VŨ QUẦN PHƯƠNG

|